Thứ Tư, 8 tháng 5, 2013


Không có vũ khí Nga, Su-35 Trung Quốc chỉ là "xác không hồn"

 |

(Soha.vn) - Trang news.wenweipo.com của Trung Quốc vừa đăng tải bài viết của Tạp chí quân sự Kanwa Defense Review (trụ sở ở Canada) bình luận về việc Trung Quốc mua máy bay Su-35 của Nga.

Theo bài báo, Trung Quốc sẽ nhận được phiên bản xuất khẩu Su-35K (K là viết tắt của "Trung Quốc). Tuy nhiên, tờ báo bình luận rằng sẽ là vô nghĩa khi Trung Quốc mua máy bay Su-35 mà không có vũ khí kèm theo, đặc biệt là tên lửa "không-đối-không" và "không-đối-đất". Đây là những loại tên lửa mà Bắc Kinh cho rằng có thể trở thành vũ khí chiến lược trang bị cho chiến đấu cơ J-11B, J-15, J-16 và các loại máy bay khác của Trung Quốc.
Trong khi đó, radar mảng pha IRBIS-E lại chính là "cảm hứng chủ đạo" của Trung Quốc với Su-35. IRBIS-E có thể phát hiện mục tiêu ở khoảng cách 350-400 km, cho phép quét đồng thời 32 mục tiêu cùng lúc và điều khiển hỏa lực tiêu diệt đồng thời 8 mục tiêu.
Su-35 được trang bị hệ thống vũ khí tấn công với hỏa lực mạnh mẽ, đặc biệt là phiên bản nâng cấp của tên lửa chống tàu Kh-31AD với động cơ ramjet. Theo các nguồn báo cáo của Nga thì tầm bắn của tên lửa này lên tới 250 km.

Tạp chí Kanwa cho rằng Su-35 Trung Quốc sẽ vô dụng khi không được trang bị vũ khí của Nga
Tạp chí Kanwa cho rằng Su-35 Trung Quốc sẽ vô dụng khi không được trang bị vũ khí của Nga

Ngoài ra, Su-35 còn được trang bị tên lửa chống radar thế hệ mới X-58USHKE, với tầm bắn 260 km. Tên lửa này được trang bị hệ thống radar dẫn đường chủ động (GOS).
Tên lửa chiến thuật X-59M2E được phát triển trên nền tảng tên lửa X-59ME, với tầm bắn 115 km (Tên lửa cơ bản phục vụ trong Không quân Trung Quốc) nhưng đã được cải tiến để có thể đánh trúng mục tiêu vào ban đêm. Su-35 được trang bị X-59M2E với đầu đạn nổ mạnh, nặng 320 kg, tầm bắn tối đa là 285 km.
Bên cạnh đó, Nga còn chuẩn bị cho Su-35 một "gia đình" tên lửa chiến đấu trên không. Trong đó, tên lửa RVV-BD (P-37) là phiên bản nâng cấp của tên lửa R-33 đang được trang bị trên MiG-31. Tầm bắn của RVV-BD đã được cải thiện để có thể phá hủy mục tiêu ở khoảng cách 200 km.
Tên lửa tầm ngắn RVV-MD được trang bị đầu dò tìm mục tiêu 2 chế độ, giúp tăng độ chính xác khi tấn công mục tiêu, phần đầu đạn còn được trang bị ngòi nổ laser. Tên lửa nặng 106 kg và phần đầu đạn nặng 8 kg, đạt tầm bắn tối đa 40 km và tấn công mục tiêu ở độ cao 20 m - 20 km.
Tên lửa tầm trung RVV-SD được trang bị đầu dò radar chủ động, có khả năng khóa mục tiêu ở giai đoạn cuối cùng của chuyến bay với khoảng cách 25 km. Tên lửa nặng 190 kg, trọng lượng đầu đạn là 22,5 kg, tầm bắn tối đa là 110 km.

http://soha.vn/quan-su/khong-co-vu-khi-nga-su35-trung-quoc-chi-la-xac-khong-hon-20130508092254843.htm


Soi biến thể "khủng" nhất của "rồng lửa" S-300

 |

Hệ thống tên lửa phòng không S-300 được phát triển thành nhiều biến thể, trong đó có loại có khả năng chống tên lửa đạn đạo.

S-300 là hệ thống phòng không tầm cao chiến lược tiên tiến do Nga sản xuất. Đây là một trong những vũ khí phòng không hàng đầu thế giới được nhiều quốc gia sử dụng, trong đó có Việt Nam. Trong quá trình phát triển S-300, Nga đã phát triển thành công biến thể chống tên lửa đạn đạo mang tên S-300VM Antey 2500 (NATO định danh SA-23).
S-300 là hệ thống phòng không tầm cao chiến lược tiên tiến do Nga sản xuất. Đây là một trong những vũ khí phòng không hàng đầu thế giới được nhiều quốc gia sử dụng, trong đó có Việt Nam. Trong quá trình phát triển S-300, Nga đã phát triển thành công biến thể chống tên lửa đạn đạo mang tên S-300VM Antey 2500 (NATO định danh SA-23).

Hệ thống tên lửa chống tên lửa đạn đạo S-300VM Antey 2500 được thiết kế để tiêu diệt tất cả các loại tên lửa đạn đạo tầm ngắn – tầm trung (tầm phóng tới 2.500km), tên lửa hành trình và tên lửa phóng từ không gian, máy bay chiến thuật, chiến lược…
Hệ thống tên lửa chống tên lửa đạn đạo S-300VM Antey 2500 được thiết kế để tiêu diệt tất cả các loại tên lửa đạn đạo tầm ngắn – tầm trung (tầm phóng tới 2.500km), tên lửa hành trình và tên lửa phóng từ không gian, máy bay chiến thuật, chiến lược…

Trong vai trò đánh chặn tên lửa đạn đạo, S-300VM Antey 2500 tiêu diệt đồng thời 16 mục tiêu, cự ly tối đa 40km, độ cao 30km. Một tiểu đoàn S-300VM thường bao gồm các thành phần: radar điều khiển, radar trinh sát, xe phóng và các thành phần hỗ trợ. Trong ảnh là đài chỉ huy điều khiển 9S457 đặt trên xe bánh xích.
Trong vai trò đánh chặn tên lửa đạn đạo, S-300VM Antey 2500 tiêu diệt đồng thời 16 mục tiêu, cự ly tối đa 40km, độ cao 30km. Một tiểu đoàn S-300VM thường bao gồm các thành phần: radar điều khiển, radar trinh sát, xe phóng và các thành phần hỗ trợ. Trong ảnh là đài chỉ huy điều khiển 9S457 đặt trên xe bánh xích.

Trong ảnh là đài radar nhìn vòng mọi độ cao 9S15M có thể phát hiện 200 mục tiêu cùng lúc, tầm hoạt động 200km.
Trong ảnh là đài radar nhìn vòng mọi độ cao 9S15M có thể phát hiện 200 mục tiêu cùng lúc, tầm hoạt động 200km.

Đài radar giám sát khu vực 9S19 có thể theo dõi đồng thới 16 mục tiêu cùng lúc.
Đài radar giám sát khu vực 9S19 có thể theo dõi đồng thới 16 mục tiêu cùng lúc.

Đài radar điều khiển hỏa lực (dẫn đường tên lửa) 9S32 có tầm hoạt động 140-150km, theo dõi cùng lúc 12 mục tiêu, khóa đồng thời 6 mục tiêu.
Đài radar điều khiển hỏa lực (dẫn đường tên lửa) 9S32 có tầm hoạt động 140-150km, theo dõi cùng lúc 12 mục tiêu, khóa đồng thời 6 mục tiêu.

Hệ thống S-300VM Antey 2500 trang bị 2 loại xe phóng với 2 kiểu tên lửa phòng không tầm ngắn - tầm xa đánh chặn máy bay, tên lửa đạn đạo. Trong ảnh là xe phóng 9A83 với  4 ống phóng.
Hệ thống S-300VM Antey 2500 trang bị 2 loại xe phóng với 2 kiểu tên lửa phòng không tầm ngắn - tầm xa đánh chặn máy bay, tên lửa đạn đạo. Trong ảnh là xe phóng 9A83 với 4 ống phóng.

Xe phóng 9A83M trong tư thế chiến đấu với các ống phóng dựng thẳng đứng.
Xe phóng 9A83M trong tư thế chiến đấu với các ống phóng dựng thẳng đứng.

Đạn tên lửa 9M83M (nặng 3,5 tấn) thiết kế để tiêu diệt mục tiêu tên lửa đạn đạo tầm ngắn – tầm trung ở tầm 40km, độ cao 25km, tốc độ bay Mach 10.
Đạn tên lửa 9M83M (nặng 3,5 tấn) thiết kế để tiêu diệt mục tiêu tên lửa đạn đạo tầm ngắn – tầm trung ở tầm 40km, độ cao 25km, tốc độ bay Mach 10.

Xe phóng 9A82M thiết kế với 2 ống phóng.
Xe phóng 9A82M thiết kế với 2 ống phóng.

Đạn tên lửa 9M82M (nặng 5,8 tấn) thiết kế để đánh chặn tên lửa đạn đạo tầm ngắn – tầm trung ở cự ly 40km, tốc độ bay Mach 10. Trong nhiệm vụ tiêu diệt mục tiêu trên không, tầm bắn đạt tới 200km.
Đạn tên lửa 9M82M (nặng 5,8 tấn) thiết kế để đánh chặn tên lửa đạn đạo tầm ngắn – tầm trung ở cự ly 40km, tốc độ bay Mach 10. Trong nhiệm vụ tiêu diệt mục tiêu trên không, tầm bắn đạt tới 200km.

Xe nạp đạn 9A84 cẩu ống phóng chứa đạn tên lửa lên bệ phóng 9A82.
Xe nạp đạn 9A84 cẩu ống phóng chứa đạn tên lửa lên bệ phóng 9A82.

Thay đổi số mệnh một cách diệu kỳ


Bài của Trường Hà
[MINH HUỆ 25-5-2010]“Liễu Phàm Tứ Huấn” là một cuốn sách nổi tiếng của Trung Quốc. Tác giả có tên thật là Viên Hoàng, tên tự là Khôn Nghi (1533 – 1606). Ông là người huyện Ngô Giang, tỉnh Giang Tô, sống vào triều đại nhà Minh. Khi còn trẻ, ông đã được một vị cao nhân tiên đoán chính xác cả cuộc đời của mình, tuy nhiên sau này ông đã tự thay đổi được số mệnh.
Cha của Viên Liễu Phàm qua đời từ khi ông còn niên thiếu, mẹ ông khuyên con trai hãy từ bỏ việc tu học theo Nho giáo, thay bằng việc học nghề y để có thể kiếm tiền nuôi thân, lại vừa có thể cứu người.
Một hôm, ông đi đến chùa Từ Vân, gặp được một ông lão có tướng mạo phi phàm, phong thái phiêu nhiên như một vị Đạo Thần. Ông lão nói với ông: “Con có tướng làm quan. Sang năm, con có thể tham gia kỳ thi và được thăng quan tiến chức. Cớ sao con lại ngừng học?”
Viên Liễu Phàm liền kể lại chuyện nghe lời mẹ bỏ việc đọc sách thánh hiền để theo học nghề y. Ông lão tự xưng mình họ Khổng, là người tỉnh Vân Nam, từng được chân truyền phép xem số Hoàng Cực của tiên sinh Thiệu Khang Tiết đời nhà Tống. Ông nói rằng số mệnh của Viên Liễu Phàm đã định sẵn rồi, cần phải nói hết cho ông ta biết.
Viên Liễu Phàm liền thỉnh mời Khổng tiên sinh về nhà mình và đem mọi chuyện kể lại cho mẹ. Mẹ ông nói:“Nếu vị tiên sinh ấy tự xưng là người tinh thông tướng số, vậy hãy mời tiên sinh bói thử cho con, xem xem liệu những điều được tiên đoán có chính xác hay không”. Kết quả, Khổng tiên sinh đều nói đúng, ngay cả những chi tiết nhỏ cũng cực kỳ chính xác. Tiếp đó, Khổng tiên sinh nói về số mệnh tương lai của Viên Liễu Phàm cát hung họa phúc ra sao, như là năm nào ông sẽ trúng tuyển, năm nào ông nên ra ứng thí Lẫm Sinh, năm nào ông sẽ trở thành Cống Sinh, sau khi tốt nghiệp, ông sẽ làm quan huyện ở tỉnh nào. Làm quan được ba năm rưỡi, Viên Liễu Phàm sẽ từ quan và về quê nhà. Cuối cùng, ông sẽ qua đời vào giờ Sửu ngày 14 tháng 8 âm lịch, hưởng thọ 53 tuổi. Đáng tiếc là trong mệnh ông đã định là sẽ không có con trai để nối dõi.
Viên Liễu Phàm ghi lại những lời của Khổng tiên sinh, thế là lại bắt đầu tiếp tục học hành. Từ đó về sau, hễ tham gia cuộc khảo thí nào thì thứ hạng của ông luôn đúng như lời Khổng tiên sinh đã dự đoán. Có một lần, dựa theo lời Khổng tiên sinh đã tiên đoán thì Viên Liễu Phàm khi làm Lẫm Sinh được cấp gạo ăn, đến khi lĩnh đủ 91 thạch 5 đấu gạo mới trở thành Cống Sinh. Nhưng khi ông mới chỉ lĩnh được 71 thạch thì tôn sư họ Đồ là quan Học Đài (chức quan Học Đài ngày xưa tương đương với Giám đốc Sở Giáo dục ngày nay) đã tiến cử ông làm Cống Sinh. Viên Liễu Phàm bắt đầu hoài nghi lời tiên đoán của Khổng tiên sinh lúc trước đã có phần sai trật.
Sau đó, quả nhiên việc này bị một vị đại diện của quan Học Đài là tôn sư họ Dương bãi bỏ, không chấp nhận việc tiến cử ông làm Cống Sinh. Trải qua bao trắc trở mãi đến năm Đinh Mão ông mới được chấp thuận. Trước đã nhận được 71 thạch gạo, cộng với số gạo nhận thêm cho đến thời điểm ấy thì vừa đúng 91 thạch 5 đấu. Viên Liễu Phàm trải phen trắc trở ấy lại càng tin rằng: con đường công danh của mỗi người dẫu có tiến thoái thăng trầm thì đều là điều đã định sẵn trong số mệnh rồi. Dẫu vận may tới sớm hay muộn thì thời điểm cũng đã định trước rồi, vậy nên ông coi nhẹ mọi thứ, không truy cầu điều gì nữa.
Vốn đã được biết trước cả cuộc đời của mình, Viên Liễu Phàm trở nên an phận thủ thường. Khi được tiến cử làm Cống Sinh, theo quy định, ông sẽ đến học tại trường Quốc Học tại Nam Kinh. Trước khi đến trường Quốc Học, ông lên núi Tây Hà ở ngoại ô Nam Kinh bái kiến Vân Cốc thiền sư, là một vị cao tăng đắc Đạo.
Tại thiền phòng của Vân Cốc thiền sư, nhà sư kinh ngạc hỏi Viên Liễu Phàm: “Từ khi thí chủ bước vào đây, bần tăng không hề thấy thí chủ khởi vọng niệm nào, đó là duyên cớ làm sao?” 
Viên Liễu Phàm giãi bày với thiền sư: “Số mệnh của tôi đã được Khổng tiên sinh đoán định chính xác rồi, lúc nào sinh, lúc nào tử, khi nào gặp vận, khi nào gặp hạn, đều đã biết trước cả rồi, chẳng có cách nào thay đổi được. Chính là vì tôi có muốn nghĩ ngợi lung tung thì cũng không ích lợi gì, cũng là mơ tưởng viển vông cả, cho nên quả thực là tôi không nghĩ gì nữa, trong lòng cũng không còn vọng niệm gì”. 
Vân Cốc thiền sư cười nói: “Tôi vốn nghĩ rằng ông là một hào kiệt hiếm có trên đời, giờ tôi mới biết hóa ra ông chỉ là một phàm phu tục tử tầm thường mà thôi”.
Viên Liễu Phàm hỏi thiền sư: “Tại sao lại như vậy?” 
Vân Cốc thiền sư đáp: “Một người bình thường, thông thể nói rằng họ hoàn toàn không nghĩ những điều xấu; chẳng may có lúc không kiềm chế tham vọng lại được thì cũng vẫn bị vận mệnh trói buộc thôi; mà còn bị vận mệnh trói buộc thì làm sao nói đến chuyện vượt qua số mệnh? Tuy nói số mệnh đều là tiền định, nhưng chỉ những người bình thường mới bị trói buộc vào số mệnh được an bài sẵn đó thôi. Nếu là người cực thiện thì số mệnh sẽ không thể trói buộc nổi người đó”. 
Mở chương đầu tiên trong Kinh Dịch, thiền sư nói: ” “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh” (Nhà mà làm việc thiện tích đức thì tất nhiên sẽ gặp nhiều điều tốt lành). Vì vậy, số mệnh của con người là có thể tự thay đổi được. Phật gia giảng con người cần phải hiểu thấu điều thiện và điều ác, dựa theo đó mà hành động. Số mênh là do tự mình tạo, phúc là bởi tự mình cầu, kẻ làm ác tất sẽ tổn phúc đức, người tu thiện ắt sẽ được phúc đức. Điều trong các kinh thư thuở xưa đã nói, thật sự là lời giáo huấn rất giá trị, rõ ràng và chính xác. Trong kinh Phật, chúng ta cũng được dạy rằng: người như thế cầu phú quý ắt sẽ được phú quý, cầu con cái ắt sẽ có con cái, cầu trường thọ ắt sẽ được trường thọ!”
Những lời nói đó như đánh thức người trong mộng, Viên Liễu Phàm bắt đầu thay đổi. Kể từ đó về sau, ông ngày ngày trau dồi đức hạnh, dẫu là ở nơi không người cũng nhất định không làm gì đắc tội với đất trời. Khi gặp phải những người ganh ghét và phỉ báng mình, ông có thể thản nhiên như không, cũng không màng so đo tranh luận với họ.
Một năm sau lần gặp Vân Cốc thiền sư, ông tham dự kỳ thi Đình. Theo lời của Khổng tiên sinh, ông sẽ xếp hạng thứ ba trong kỳ thi này, vậy mà lạ kỳ thay ông lại đỗ đầu, lời của Khổng tiên sinh thực sự đã bắt đầu không còn linh nghiệm nữa. Khổng tiên sinh không bói được rằng Viên Liễu Phàm đỗ cao như vậy trong kỳ thi, những điều này vốn không có trong số mệnh của ông.
Sau đó, Viên Liễu Phàm phát nguyện sẽ làm 3.000 việc thiện. Qua hơn mười năm nỗ lực, ông đã hoàn thành được ước nguyện ấy, và kết quả là vợ ông sinh được một đứa con trai, đặt tên là Thiên Khải. Sau này, mỗi lần làm được một việc thiện, lúc nào ông cũng đều dùng bút ghi chép lại; vợ ông không biết viết chữ, mỗi lần chồng làm được một việc thiện đều dùng bút lông ngỗng mà vẽ một vòng tròn màu đỏ trên lịch, dẫu là phân phát lương thực cho người nghèo, hay là mua vật sống để phóng sinh thì đều nhớ ghi lại. Có khi một ngày đã hơn 10 vòng tròn đỏ, chính là một ngày mà làm được hơn 10 việc thiện. Mấy năm sau, đến năm Bính Tuất, ông tự nhiên lại thi đỗ tiến sĩ, bộ Lại bèn bổ nhiệm Viên Liễu Phàm làm chức quan huyện lệnh coi sóc huyện Bảo Trì, vậy là ông lại phát nguyện tiếp tục làm thêm một vạn điều thiện nữa.
Khi đang làm tri huyện Bảo Trì, ông chuẩn bị viết một cuốn sách nhỏ. Viên Liễu Phàm gọi nó là sách “Trì Tâm”. Ý là sợ rằng bản thân mình nảy sinh tâm xấu, bởi vậy mới đặt hai chữ là “Trì Tâm” – nghĩa là giữ vững tâm tính. Mỗi ngày khi xử lý mọi việc, dù là việc nhỏ đến đâu, ông đều nhớ lấy những điều trong cuốn “Trì Tâm” mà suy xét. Đến tối, ông lập đàn ở sân sau nhà, thay quan phục, bắt chước quan Thiết Diện Ngự Sử (Chức quan chuyên xét xử quan lại và can ngăn vua) Triệu Duyệt Đạo đời nhà Tống, và thắp hương cầu khấn Thượng Đế, mỗi ngày ông đều làm như vậy. Vợ ông thấy chồng mình bận bịu quá nhiều công vụ không có nhiều thời gian để làm việc thiện nên thường hay cau mày nói: “Thiếp thuở xưa ở nhà giúp chàng làm việc thiện mới có thể hoàn thành tâm nguyện làm 3 nghìn việc tốt. Bây giờ chàng lại nguyện sẽ làm một vạn việc tốt, nhưng đâu có được bao nhiêu việc tốt mà làm trên công đường, chẳng biết bao lâu nữa mới hoàn thành được tâm nguyện đây?”
Sau khi nghe vợ nói ra những suy nghĩ ấy, tối đó Viên Liễu Phàm nằm mơ thấy một vị thần. Ông nói với vị thần ấy rằng tâm nguyện làm một vạn việc thiện thật khó hoàn thành được. Vị thần đáp: “Chỉ tính riêng việc ông lấy danh nghĩa là tri huyện mà giảm tiền thuế ruộng cho dân là đã làm được một vạn việc thiện rồi, đã hoàn thành tâm nguyện của ông rồi đó”.
Nguyên là ở huyện Bảo Trì, mỗi mẫu đất nông dân phải nộp thuế 2 phân 3 ly 7 hào. Viên Liễu Phàm nghĩ rằng người dân trăm họ phải đóng thuế quá nặng, vậy nên sau khi đi kiểm kê toàn huyện một lượt, ông quyết định mỗi mẫu ruộng sẽ chỉ phải đóng 1 phân 4 ly 6 hào.
Cả cuộc đời Viên Liễu Phàm không ngừng làm việc thiện, Khổng tiên sinh đoán rằng khi được 53 tuổi ông sẽ qua đời, nhưng tới tận năm 69 tuổi ông vẫn rất khỏe mạnh. Sau đó, Viên Liễu Phàm tiếp tục làm việc thiện trong suốt phần đời còn lại của mình. Ông đã lấy toàn bộ câu chuyện thay đổi vận mệnh mà bản thân đã tự thể nghiệm trong suốt cuộc đời để viết thành một cuốn sách nhỏ “Liễu Phàm Tứ Huấn”, truyền lại cho con trai mình là Thiên Khải và cho hậu thế.
Câu chuyện Viên Liễu Phàm tự mình thay đổi vận mệnh khiến chúng ta phải suy ngẫm. Trong văn hóa truyền thống Trung Quốc thì chủ đề chính yếu nhất đều là “thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”. Nhìn lại trong sử sách, có vô số tiểu thuyết của người xưa đều ghi lại và trình bày đạo lý này, mà Viên Liễu Phàm chỉ là một người trong số đó. Ông đã lấy trải nghiệm thực tế của bản thân mà ghi chép lại, cho nên “Liễu Phàm Tứ Huấn” mãi cho đến ngày nay vẫn có sức ảnh hưởng lớn. Năm tháng đã tôi luyện nó trở thành một mũi tên nhọn chọc thủng sự lừa dối của học thuyết vô thần.
Sư phụ Lý Hồng Chí đã giảng trong sách Chuyển Pháp Luân, bài giảng thứ hai rằng:
“Còn có một cách có thể cho phép con người biến đổi đời của họ; đây là cách duy nhất; chính là cá nhân ấy từ nay trở đi sẽ bước trên con đường tu luyện”.
Chú thích: 
Lẫm sinh: là những học trò được học bổng của các châu, huyện, hoặc phủ thời xưa.
Cống sinh: học trò giỏi thời xưa được chọn qua các kì thi sát hạch ở tỉnh, được cấp lương ăn để chuẩn bị đi thi Đình.
Giờ Sửu: ngày xưa, khoảng thời gian từ 0h đến 2h sáng ở Trung Quốc.
Thạch và đấu là 2 đơn vị đo lường của Trung Quốc. 10 đấu bằng 1 thạch.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2010/5/25/224226.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2010/8/1/118979.html
Đăng ngày 18-11-2010, bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai cho sát hơn với nguyên bản.

Biết hối hận và làm việc thiện thì có thể thay đổi được số mạng


Bài của Trí Chân
[MINH HUỆ 13-2-2008] Vào thời nhà Minh có một người tên là Trương Úy Nham, sống tại thành Giang Âm, tỉnh Giang Tô. Ông là người có học thức, có tài văn chương, rất nổi tiếng vào thời đó. Vào năm Giáp Ngọ, ông tham gia thi khoa bảng nhưng bị đánh rớt. Trong khi đứng tại bảng công bố điểm thi, ông nhục mạ những quan chủ khảo đã chấm điểm cho mình, nói rằng họ có mắt mà không có tròng, không biết được người có tài năng học thức như mình.
Ngay lúc ấy có một vị Đạo sỹ đang ở gần đó nghe thấy. Đạo nhân mỉm cười và nói: “Tôi có thể nói là văn chương của ông chắc hẳn phải rất tệ!”.
Trương Úy Nham lập tức quay sang trút giận lên vị Đạo nhân này: “Sao ông dám cười tôi? Ông chưa từng đọc qua văn chương của tôi thì làm sao biết văn của tôi không hay?”
Đạo nhân trả lời: “Tôi nghe nói rằng điểm mấu chốt để sáng tác văn chương là người ta cần phải bình tĩnh hòa nhã. Còn ông thì đang nhục mạ các quan chủ khảo. Ông chắc hẳn đang rất bất bình trong tâm. Nếu như vậy, thì làm sao ông có thể sáng tác những bài văn hay được chứ?”.
Trương Úy Nham nghe thấy lời nói rất có đạo lý, nên thành tâm xin vị Đạo nhân dạy bảo.
Đạo nhân nói: “Văn chương dĩ nhiên cần phải hay, nhưng nếu mệnh ông định rằng không có tên trên bảng vàng, thì dẫu văn chương có tinh xảo đến đâu cũng không giúp được ông. Vấn đề tối căn bản là cần phải thay đổi hành vi của bản thân mình”.
Trương Úy Nham hỏi: “Thế tôi cần tự mình thay đổi như thế nào?”
Đạo nhân đáp: “Nếu ông có thể thuận theo Thiên Mệnh mà làm việc thiện, thì chẳng lẽ lại không được phúc báo hay sao?”
Trương Úy Nham thở dài: “Tôi chỉ là một học trò nghèo, kiếm đâu ra tiền để làm việc thiện?”
Đạo nhân nói: “Làm việc thiện tu dưỡng đức, trọng yếu là cái tâm của mình. Để làm được thế thì yêu cầu phải luôn mang theo thiện niệm bên mình, khiêm cung và sẵn lòng giúp đỡ người khác. Động cơ hành thiện phải thật trong sáng, làm việc gì cũng thuận theo Thiên lý. Lấy ví dụ, ai đó muốn trở thành một người có đức tính khiêm nhường, thì người ấy chẳng cần phải có tiền nhưng vẫn hoàn toàn có thể làm được. Ông có thể làm việc thiện mà không cần phải là người giàu có. Tại sao ông không tự mình phản tỉnh, mà lại đi nhục mạ những viên quan chủ khảo?”. Trương Úy Nham vô cùng cảm động và hối hận, bái tạ vị Đạo nhân.
Từ đó trở đi Trương Úy Nham nhất tâm hướng thiện, nghiêm khắc yêu cầu chính mình, chú trọng tu thân, trở thành người có phẩm đức cao thượng. Ông mở trường dạy học cho dân chúng. Ông dạy người ta tránh điều ác và làm việc thiện, bất kể việc đó có nhỏ nhặt đến đâu. Ông thường khuyến khích dân chúng làm việc thiện, được mọi người tán dương.
Ba năm sau, vào một ngày nọ Trương Úy Nham nằm mộng thấy mình đi vào một căn nhà lớn. Có một cuốn sách trong đó liệt kê những cái tên, nhưng có nhiều dòng bị bỏ trống. Ông bèn hỏi một người đứng bên cạnh về những khoảng trống này. Người đó nói với ông: “Đây là danh sách những người sẽ trúng bảng vào kỳ thi mùa Thu này. Nếu một cái tên xuất hiện ở đây và người đó không phạm bất cứ tội lỗi nào, thì cái tên đó sẽ được giữ lại. Những khoảng trống đó trước đây là chỗ của những người lẽ ra đã được chấp nhận, nhưng vì họ làm điều xấu nên đã bị xóa tên. Trong ba năm qua, ông đã luôn tu thân hướng thiện, nên tên của ông đã được thêm vào. Nếu vẫn kiên trì không chểnh mảng, trong tương lai ông sẽ nhận được phúc đức vô lượng. Hy vọng ông sẽ tự biết bảo trọng”. Kỳ thi năm ấy, Trương Úy Nham quả nhiên thi đỗ, làm quan, sau này làm được nhiều việc tốt cho dân chúng.
Có câu nói: “Trên đầu ba thước có thần linh”, ý nói rằng Thần không ở đâu là không có, với mỗi tư tưởng và hành vi của con người, Thần đều trông thấy rất rõ. Hành vi của con người tất cả đều nằm trong sự an bài của Trời. Những người làm việc thiện thì được hưởng nhiều phúc đức, ấy là cái lý tất nhiên! Bất kể bản thân mình ở giai tầng nào, nghề nghiệp là gì hay ở trong hoàn cảnh nào, chúng ta đều nên làm người tốt, làm việc thiện, cố gắng bảo trì thiện tâm, từ đó mà có được phúc phận và một tương lai tươi sáng.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2008/2/13/172304.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2008/2/27/94838.html
Đăng ngày 21-05-2010; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Sửa đổi hướng thiện thì hoàn cảnh sẽ biến đổi theo


Bài của Trí Chân
[MINH HUỆ 26-2-2008] Vào thời vua Minh Thế Tông, ở Giang Tây có một người làm nghề dạy học, họ Du, tên là Đô. Người này học rộng nhiều tài, năm 18 tuổi đã thi đỗ tú tài. Thấy nhà mình nghèo quá, anh bèn cùng với mấy người bạn cùng nhau mở lớp dạy học. Mấy năm sau anh 7 lần đi thi, nhưng không lần nào thi đỗ cử nhân cả.
Du Đô có 5 người con trai, 4 cô con gái. 4 người con trai bị chết yểu, chỉ có người con trai thứ 3 là khỏe mạnh thông minh, nhưng không ngờ tới năm lên 8 tuổi trong khi đi chơi thì bị mất tích. 4 người con gái thì 3 người cũng chết yểu, chỉ còn lại mỗi một cô. Vợ của Du bởi quá đau lòng mà khóc đến mù cả 2 mắt. Học quán cũng phải đóng cửa, cuộc sống của Du Đô càng ngày càng khó khăn túng quẫn. Ông nghĩ: “Từ lúc cha sinh mẹ đẻ tới giờ mình có làm ra lỗi lầm nào lớn đâu, sao lại bị Trời cao trừng phạt thảm thương thế này?”.
Du Đô hàng ngày viết sớ cầu nguyện Táo quân, xin truyền đạt hộ những tâm tư của mình lên Thiên đình. Suốt mấy năm như thế, không có gì xảy ra cả. Mãi tới năm Du Đô 47 tuổi, trong đêm giao thừa Du Đô vay mượn một ít lương thực, cùng người vợ mù và cô con gái ngồi trong căn phòng thê lương, vẻ mặt u sầu phiền muộn. Bỗng có người gõ cửa, Du Đô mở cửa thì thấy một ông già đầu chít khăn, mặc áo màu đen. Người này nói: “Tôi họ Trương, từ xa tới đây, nghe nói gia đình anh khổ sở ưu phiền, cho nên tới vấn an!”.
Du Đô cung kính nói với Trương: “Tôi từ lúc sinh ra đã đọc sách tích đức, nhưng tới nay công danh chẳng có, gia đình liên tiếp gặp tai ương, cuộc sống không thể duy trì nổi”.
Trương nói: “Tôi biết chuyện gia đình ông đã lâu lắm rồi! Ông chuyên môn theo đuổi hư danh, tâm xấu quá nặng, trong sớ tràn ngập oán hận, e rằng vì thế mà sẽ còn chịu trách phạt nặng nề chứ không chỉ có thế đâu!”.
Du Đô kinh sợ, nói: “Tôi làm việc thiện đã được một thời gian dài rồi, sao tất cả lại toàn là hư danh chứ?”.
Trương nói: “Kính trọng con chữ là quan trọng số một. Thế mà bạn và học trò của ông thường xuyên dùng giấy sách cũ để gói bọc hàng hóa linh tinh và lau chùi bàn ghế, ông thấy cảnh đó mà không hề khuyên bảo họ. Ông chỉ giữa đường nhặt mấy mảnh giấy có chữ ấy về nhà đốt cho người khác xem, thì có ích lợi gì đây? Còn nói về lỗi lầm trong lời ăn tiếng nói, thì ông có thói quen cả vú lấp miệng em, nói chuyện một cách cay nghiệt thậm chí là chế nhạo người khác. Lỗi lầm trong lời nói của ông bị Thần linh ghi chép lại nhiều như thế, mà ông còn tự cho mình là người mộc mạc trung hậu, đó không phải là dối người và tự dối gạt mình hay sao? Ông mặc dù không làm ra những chuyện tà dâm, nhưng khi gặp con gái đẹp thì liền ngắm nhìn chăm chú, tâm hồn chao đảo, đã không biết vứt bỏ tà niệm trong đầu đi, lại còn tự xưng là cả đời không ham sắc dục, làm sao dám đối diện với quỷ thần được đây! Những điều đó là ông đã thề không bao giờ phạm phải mà còn như vậy, huống chi là những chuyện khác? Lời cầu nguyện hàng ngày của ông, tôi đều trình lên Thiên đình. Thượng đế phái sứ giả khảo sát những việc thiện ác của ông, phát hiện ra rằng ông suốt mấy năm liền không làm được việc thiện nào đáng kể, mà chỉ thấy vào thời ông còn trẻ thì trong lòng tràn ngập toàn những tâm bất bình, ganh ghét, chỉ biết sống vì lợi ích trước mắt, mong cầu được trả ơn, tham sắc dục, coi thường người khác mà không biết tự kiềm chế. Những ý niệm bất hảo ấy của ông đều đã bị ghi chép lại, nên sự trách phạt của Thiên thượng sẽ càng lúc càng nặng nề hơn. Ông muốn tránh họa còn không kịp, lại muốn cầu phúc báo nỗi gì?”.
Du Đô nghe xong thì cực kỳ sợ hãi, khóc ròng nói: “Ngài nếu đã biết những chuyện mà tôi âm thầm làm, Ngài nhất định là Táo quân rồi, kính xin Ngài hãy cứu tôi với!”.
Trương trả lời: “Ông đọc sách cũng biết được đạo lý làm việc thiện là lấy khổ làm vui. Bởi ông không có bền lòng, cho nên từ khi sinh ra tới giờ những lời thiện việc thiện mà ông làm đều chỉ là qua loa lấy lệ. Từ nay về sau, ông cần phải vứt bỏ những ý nghĩ đen tối, luôn luôn bảo trì tâm thiện lành. Không mong được báo đáp, không cầu danh lợi, bất kể là chuyện lớn hay nhỏ, việc dễ hay khó, ông cần thực sự có tâm làm việc thiện. Sống như thế lâu ngày, tự nhiên sẽ có hiệu quả không ngờ được. Để giúp các vị tin tưởng và biết kính trọng Thần, cho nên tôi mới đặc biệt nói rõ cho ông những chuyện này. Chỉ cần ông mau chóng làm việc thiện, thì có thể xoay chuyển được Ý Trời!”. Trương nói xong cáo từ, bước tới cạnh bếp lò và biến mất.
Từ đó về sau, Du Đô cố gắng sửa chữa những sai lầm trước đây, không ngừng làm sạch tâm hồn mình, từng lời nói từng việc làm đều tưởng như có Thần linh ở bên cạnh, không dám buông thả bản thân. Ông đạt tới cảnh giới, khi động thì tùy tâm làm được hàng vạn điều thiện, khi tĩnh thì ý niệm xấu không hề xuất hiện. Ông nỗ lực làm việc thiện, hễ là trợ giúp được ai dù là chuyện lớn hay nhỏ, ông đều âm thầm làm thật trọn vẹn mà không quan tâm là người khác có biết hay không. Hễ gặp ai, ông cũng đều khuyên bảo họ làm việc thiện, lấy Đạo lý thành tâm kính trọng Thần và luật nhân quả báo ứng mà dẫn dắt người ta đi theo chính đạo.
3 năm sau, Du Đô được rất nhiều người tiến cử về kinh thành để làm thầy giáo. Ở kinh sư ông được Tể tướng Trương Giang Lăng kính trọng, được vào Thái học viện. Năm sau, Du Đô đậu tiến sỹ. Một người tình cờ giúp ông tìm được đứa con trai mà ông đã thất lạc nhiều năm. Sau này 2 mắt của vợ ông cũng đột nhiên sáng trở lại. Mọi người đều khâm phục Du Đô đức hạnh cao thượng, ùn ùn kéo đến gửi con em đến theo ông học tập. Mọi người đều cho rằng đó là quả báo tốt lành đã thay đổi vận mệnh đời ông, vì ông đã làm rất nhiều việc thiện.
“Đạo Trời không kể là thân hay sơ, luôn luôn cứu giúp người lương thiện”, cần phải biết Đạo Trời tuyệt đối công bằng, thiện ác đều có báo ứng chính là Thiên lý. Mệnh do Trời định, chuyện không hay đều là do con người tự gây ra, con người cần cố gắng tỉnh ngộ và thành kính đối với Thiên thượng. Mỗi người cần quý trọng phúc lành của Trời, làm nhiều việc thiện, thì hạnh phúc sẽ được lâu bền.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2008/2/26/173153.html
Bản tiếng Anh: http://www.en.minghui.org/emh/articles/2008/3/23/95644.html
Đăng ngày 04-06-2010;Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai cho sát hơn với nguyên bản.

Văn hóa Thần truyền: Tâm tính thay đổi số mạng cũng biến đổi theo


Bài của Trí Chân
[MINH HUỆ 29-9-2008] Vào thời nhà Minh ở trấn Giang Tô Giang Kinh có một tú tài tên là Trương Sinh. Hoàn cảnh gia đình anh ta rất nghèo khó, tư cách của anh thì tồi tệ, thường hay làm hại hàng xóm láng giềng. Tính nết anh ta lại khá hào sảng, tiền của mà anh ta vơ vét được nhờ bắt chẹt dọa dẫm người ta thì anh ta lại tùy ý đem cho khắp nơi, trong số hàng xóm rất nhiều người túng quẫn cũng được anh ta giúp đỡ rất nhiều, cho nên lương thực tiền của trong nhà anh ta chẳng giữ được lâu.
Có một năm vào đêm giao thừa, gia đình Trương Sinh lại không còn gì để ăn nữa. Anh ta thầm nghĩ trong số bạn cũ và thân thích đều đã từng có thù oán, hơn nữa phần lớn đều là những kẻ tiểu nhân nịnh bợ, nghĩ mãi không ra nhà nào có thể tới vay mượn chút tiền, bản thân lại không muốn vẫy đuôi van xin, cầu cạnh người ta. Anh ta mượn gia đình một cuộn vải cũ, tới hiệu cầm đồ ép người ta cầm với giá ngàn đồng tiền, mua một đấu gạo, thực phẩm và hương nến giấy, bỏ trong giỏ đi về nhà. Chiều tối hôm đó tuyết rơi dày, trên đường trơn trượt, anh đi nhanh về tới cổng nhà không cẩn thận bị ngã, tất cả những thứ trong giỏ bị đổ rơi vào vũng bùn. Trương Sinh vội vàng vào nhà cầm đèn trở ra tìm. Bất ngờ anh nhặt được một cái bao to, nhấc thử lên thấy rất nặng. Xách bao về nhà xem thử, bên trong có mấy thỏi vàng, hơn mười lượng bạc vụn, và hơn 100 đồng bạc trắng, mấy trăm tiền lẻ, một quyển sổ kế toán, mấy quyển sổ tay nhỏ, biết đó là những đồ của một nhà buôn tơ lụa. Trương Sinh sung sướng vô cùng, nghĩ thầm từ nay về sau có thể sống yên ổn rồi. Đúng lúc đem vào buồng trong, đột nhiên lại nghĩ: những thứ này nhất định là sổ kế toán thu của một người làm mướn trong cửa hàng tơ lụa, lúc đi ngang qua đây đã đánh rơi. Nếu như không giao được cho chủ tiệm, người này chắc chắn chỉ còn đường chết thôi. Chi bằng đợi người đó đến, trả lại cho người ta. Thế là mang túi, tự mình cầm đèn ngồi ngoài cửa giữa trời gió tuyết và chờ đợi.
Không lâu sau, thấy ở đàng xa có một ông lão và mấy người thiếu niên đi tới, tay cầm đèn hiệu của cửa hiệu tơ tằm, vừa đi vừa soi chiếu dọc con đường để tìm kiếm, dáng vẻ hoảng loạn. Trương Sinh nghĩ đây chắc chắn là người mất của, bèn chào hỏi họ: “Các vị đang tìm thứ gì thế?”.
Ông già thoáng nhìn thấy đó là Trương Sinh, biết anh ta là kẻ vô lại, không dám nói thẳng, chỉ úp úp mở mở muốn tránh đi.
Trương Sinh nói lớn: “Các người xách đèn lồng soi tìm khắp nơi, có phải là tìm đồ thất lạc hay không, trả lời tôi mau!”.
Ông già đành phải nói thật: “Vừa rồi tôi mang sổ kế toán thu đi ngang qua đây, gặp phải trận mưa tuyết, vội vàng gấp rút lên đường, đã đánh mất một bao vải, cho nên quay lại tìm kiếm. Bây giờ tìm không thấy, chắc là bị người đi đường nhặt mất rồi!”.
Trương Sinh hỏi ông ta trong bao đựng thứ gì, ông già kể tất những tiền bạc sổ sách ra, hoàn toàn phù hợp. Trương Sinh nói: “Xin mời đến nhà tôi ngồi chơi một lát, tôi đã biết người nhặt được của là ai rồi!”.
Ông lão vái Trương Sinh một vái, nói: “Nếu tiên sinh biết là ai xin hãy lập tức cho tôi biết, không dám tùy tiện tới nhà anh quấy rầy!”.
Trương Sinh nói: “Ở đây tuyết rơi nhiều, nhà kẻ hèn này ở ngay bên cạnh đây!”.
Nói xong anh ta lôi ông lão về nhà mình, vào trong mang ra cái bao vải và nói: “Mau xem có đúng là thứ này không?”.
Ông lão kinh hãi nhìn anh ta, môi không động đậy, không dám nói gì cả. Trương Sinh trấn an ông lão và nói:“Lão tiên sinh chớ nghi ngờ tôi. Nếu tôi muốn giữ những thứ trong túi này thì việc gì phải ngu dốt mà ngồi chờ ông đến để nói cho ông biết chứ!”. Vừa nói vừa đưa bao vải cho ông già.
Ông lão khóc nước mắt như mưa, nói: “Tôi làm quản lý sổ thu của cửa hàng, thứ tôi làm mất hôm nay chính là toàn bộ tiền bán hàng, bồi thường cũng không nổi, chỉ có con đường chết thôi. Cảm tạ tiên sinh đã cứu tôi!”.
Ông lão dập đầu lạy như tế sao. Sau khi đứng dậy, ông lão xin Trương Sinh hãy giữ lại một nửa. Trương Sinh thẳng thừng từ chối.
Ông lão nói: “Tiên sinh không nhận, tôi cũng không thể đi được!”.
Trương Sinh cười nói: “Không cần phải biếu, cho tôi mượn tạm mấy đồng bạc để tết này có thể ăn được bữa cơm no, vậy là cám ơn Ngài rồi!”.
Ông lão thấy anh ta rất thành thật, không dám nói gì thêm bèn lấy mấy đồng bạc trao cho anh ta, khấu đầu cám ơn rồi đi.
Trương Sinh cầm tiền ra ngoài mua lương thực và hoa quả để cúng Thần cúng Trời. Vợ chồng ăn bữa cơm tất niên. Đêm đó Trương Sinh nằm mơ bị người ta bắt trói, mang tới trước mặt một người dáng dấp như Vương giả. Vị Vương giả trách mắng anh ta nói: “Anh làm nhiều việc bất nghĩa, nếu không sửa lại, thì đáng rơi vào đường ngạ quỷ đó!”.
Trương Sinh đang dập đầu xin tha, đột nhiên có một người cầm một bản cáo trạng tới bẩm báo.
Vị Vương giả xem qua lập tức dịu lại và nói: “Đây là việc đại thiện, đủ để tiêu trừ những việc làm ác ngày xưa. Cần phải hoàn trả phúc lộc lại cho anh ta, ghi tên anh ta vào danh sách thi đậu khoa bảng năm nay”.
Rồi ông ta nói với Trương Sinh: “Sau khi anh trở về cần phải thực tâm hối cải những lầm lỗi trước kia, một lòng hướng thiện thì tương lai sẽ rất sáng sủa!”.
Trương Sinh tỉnh giấc, biết đó là về chuyện mình đã trả lại tiền của cho người ta, cảm thấy như đang được Thần phù hộ. Sau khi trời sáng, anh đứng trước bàn thờ Thần linh thề sẽ biết tự kiểm điểm bản thân, không làm điều ác chỉ làm việc thiện để chuộc lại những tội lỗi trước kia. Chẳng bao lâu sau, ông lão ngày trước mũ áo chỉnh tề tới nhà anh cảm tạ và nói: “Lần trước nếu không có tiên sinh làm ơn làm phước thì tính mạng của cả nhà lão đều đã không còn nữa rồi! Tôi đã báo cáo việc này lên chủ nhân của tôi rồi, ông ấy chắc chắn sẽ có báo đáp”. Trương Sinh khiêm tốn cảm ơn ông lão. Từ đó về sau anh hết lòng làm việc thiện, nhưng cuộc sống còn túng quẫn hơn, thường mấy ngày liền chẳng có gì để ăn.
Rằm tháng 7 âm lịch năm ấy, tất cả tú tài đều tới Kim Lăng tham gia cuộc thi Hương. Nhưng Trương Sinh một đồng cũng không có, thậm chí mỗi bữa cơm hàng ngày cũng khó kiếm, nên không còn nghĩ đến chuyện đi dự thi nữa. Lúc ấy bỗng nhiên anh lại gặp được ông lão ngày trước.
Ông lão hỏi anh: “Vì sao tiên sinh còn chưa lên đường tới dự thi?”.
Trương Sinh trả lời là vì không có tiền.
Ông lão lại nói: “Tiên sinh là một người lương thiện, thi Hương chẳng lẽ lại không thể tham gia! Xin tiên sinh hãy về trước và ở nhà đợi tôi!”.
Trương Sinh về nhà một lát sau thì ông lão cùng với một thanh niên tới. Ông lão nói với Trương Sinh: “Vị này chính là chủ nhân của tôi, cảm động nghĩa cả của tiên sinh, muốn báo đáp tiên sinh đã lâu! Nghe nói tiên sinh muốn đi thi nhưng cuộc sống khó khăn, xin tặng 20 vàng và 4 thạch gạo trắng”.
Rồi ông lão lại lấy từ trong tay áo ra 20 vàng trao cho Trương Sinh nói: “Đây là tiền công tôi dành dụm được, cũng kính tặng tiên sinh, xin tiên sinh hãy mau chóng đi thi!”.
Trương Sinh từ chối không được đành nhận lấy, rồi lập tức đáp thuyền tới Kim Lăng dự thi. Đến khi yết bảng quả nhiên thi đỗ. Ông lão cùng chủ cửa hàng lại tới biếu Trương Sinh tiền lộ phí về kinh đô dự kỳ thi Đình. Trương Sinh thi đỗ tiến sỹ, rồi được làm quan Quán sát sử.
Thiện niệm là quý báu nhất, Trương Sinh nhờ vào một thiện niệm đã tiêu trừ tội lỗi đọa vào đường Ngạ quỷ, thậm chí còn được bổng lộc vinh hoa, thật là nhanh chóng! Anh ta gặp món lợi lớn mà không nổi lòng tham, cũng là vì anh có thiện căn thích giúp đỡ chu cấp cho người gặp khổ nạn. Chuyện này chứng tỏ rõ vận mệnh con người không phải là “nhất thành bất biến” (nghĩa là khi số phận đã được bên trên an bài thì không thay đổi được chút nào), mà quan trọng là ở chỗ tự mình lựa chọn ra sao! Trời cao chủ trì công đạo, phạt ác khuyến thiện, báo ứng phân minh. Thiện có thiện báo, là để cổ vũ nhiều người làm việc thiện; ác có ác báo là để khiến người ta biết cảnh giác giữ gìn. Do đó loài người trên thế gian này, nhất định cần tuân theo Thiên Lý, luôn ôm ấp thiện niệm trong lòng. Người lương thiện trên thế gian được người đời khâm phục tôn kính, tự nhiên sẽ được Trời cao che chở, khiến cho phúc báo được dài lâu. Trái với Luật Trời, ngược với lòng người, hiểm ác tàn nhẫn, thì không phải “Đạo”, chúng ta cần phải hết sức kiên trì để ngăn chặn chúng.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2008/9/29/186822.html
Bản tiếng Anh: http://www.en.minghui.org/emh/articles/2008/10/7/101275.html
Đăng ngày: 25- 06 – 2010; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Tướng do tâm sinh, thay đổi vận mệnh bắt đầu từ tâm


[MINH HUỆ 16-11-2011] Trong cuộc sống của một người, mặc dù vận mệnh của cả một đời đã được định trước, nhưng người ấy vẫn được vận tốt nếu anh ta làm điều tốt và tốt bụng, ngược lại sẽ gặp vận xấu nếu anh ta làm những điều xấu. Vận mệnh của một người có thể thay đổi bất cứ lúc nào, phụ thuộc vào tâm tính của người ấy tốt hay xấu. Trời, đất và Thần giám sát rất kỹ, và không thiên vị. Nếu tâm của một người luôn tập trung vào điều tốt, người đó sẽ tích được đức và vận may, và thậm chí khi họ đối mặt với nguy hiểm, Thần sẽ có thể giúp chuyển vận rủi thành phúc lành. Ngược lại, nếu một người làm những điều xấu, mưu tính những điều xấu xa thì thậm chí nếu anh ta có vận mệnh tốt đi nữa anh ta vẫn kết thúc trong sự đau khổ. Đó là cái mà chúng ta gọi là quy luật nhân quả. Với tâm tính tốt, một người sẽ có vận mệnh tốt, và với tâm tính xấu, một người sẽ có vận mệnh xấu. Có rất nhiều ví dụ trong các cổ thư. Dưới đây là một số từ cuốn sách “Thái thượng cảm ứng thiên hối biên”.
Hai anh em sinh đôi có hai số phận khác nhau, mặc dù họ có cùng mệnh
Trong triều đại nhà Tống, có hai anh em sinh đôi tên là Cao Hiếu Tiêu, và Cao Hiếu Tích, cả hai giống nhau cả về hành vi, trí tuệ và sự thông minh. Năm 16 tuổi, họ cùng đỗ Tú tài. Cùng năm đó, họ lập gia đình, bố mẹ của họ bảo họ mặc quần áo và giày khác nhau để vợ của họ có thể nhận ra.
Một ngày họ gặp Đạo nhân Trần Hy Di, người sau khi nhìn tướng mạo của cả hai, và nói: “Cả hai người đều rất tuấn tú, sống mũi thẳng, môi có sắc hồng. Tai trắng mà có đường viền đỏ, khí thanh thần triệt, đều sẽ đậu vòng trong. Hơn nữa, cả hai đều có hào quang trong mắt, sẽ rất thành công trong kỳ thi!”.
Khi kỳ thi đến vào mùa thu, cả hai đến kinh đô để dự thi và ở với một người họ hàng thân thuộc. Hàng xóm là một quả phụ đẹp. Cao Hiếu Tiêu dốc lòng học tập, không động tư tình. Tuy nhiên, Cao Hiếu Tích đã không kiềm lòng, đã tán tỉnh và tư thông với người quả phụ. Sau đó bị người ta phát giác, nói cho dòng họ của người quả phụ. Người quả phụ sợ tội, đã trầm mình xuống sông tự sát.
Sau kỳ thi, cả hai đến thăm Đạo nhân một lần nữa. Khi Đạo nhân Trần Hy Di nhìn thấy họ, ông khá sốc và nói: “Đã có một sự thay đổi lớn trong tướng mạo. Một đã trở nên thậm chí tốt hơn và một trở nên rất xấu. Hiếu Tiêu có hào quang màu tía trên lông mày, và mắt thì sáng như sao. Cậu sẽ chắc chắn đỗ cao. Lông mày của Hiếu Tích cũng đã thay đổi. Mắt anh ta phù lên, chóp mũi đỏ và tối tăm. Thần sắc đã tiêu tan và biến mất. Sự thay đổi này phải là do đạo đức bị tuột dốc. Cậu sẽ không chỉ trượt kỳ thi, mà còn có dấu hiệu sẽ chết yểu”.Sau đó kết quả kỳ thi được công bố, quả thật Cao Hiếu Tích bị rớt, rồi chết trong thất vọng.
Sau đó, Cao Hiếu Tiêu làm một đại quan và có thanh danh hiển hách, con và cháu của ông cũng có tài năng, phẩm giá. Khi ông tổ chức lễ mừng thọ 70 tuổi, Đạo nhân Trần Hy Di cũng đến chúc mừng. Trong bàn tiệc ông nói, “Thật là khá dễ dàng để xem tướng cho một người bình thường, tuy nhiên sẽ không dễ biết kết quả được. Bởi vì vận mệnh được quyết định bởi thiên thượng, trong khi đó tướng mạo được quyết định bởi những việc mà người ấy làm. Nếu một người có thể thuận theo các nguyên lý của thiên thượng và sống hài hòa với xã hội, thì người đó sẽ chắc chắn thịnh vượng. Thiên thượng rất phân minh công bằng, vận mệnh có thể xuống dốc vì làm việc xấu, và người ta có thể chuộc lỗi bằng cách làm điều tốt. Sự thăng hoa trong tâm tính của một người có thể thể hiện qua gương mặt, và không điều gì có thể tránh khỏi con mắt của người khác. Đó là tại sao chúng ta nói rằng không có cánh cửa của vận may hay vận rủi, bởi vì nó đến và đi căn cứtheo đức hạnh của người ấy”.
Định Thực đỗ vị trí thứ sáu
Trong triều đại nhà Thanh, có một học giả tên là Định Thực. Anh là một người rất thông minh lanh lợi và rất có tài năng, tính cách phóng khoáng. Vì anh ta thích đánh bạc, anh ta thường bị cha nhắc nhở, nhưng anh ta không sửa. Cha anh ta trở nên tức giận và đuổi anh ra khỏi nhà. Định Thực phiêu bạt đến kinh đô, và bằng nhiều cách khác nhau, anh ta được nhận vào trường Thái học.
Một ngày Định Thực đi qua chùa Tướng Quốc, ở đây anh gặp một thầy tướng số bảo anh: “Thần sắc anh trông rất tốt! Ta đã xem tướng mạo cho nhiều người, và ta thấy tướng mạo của anh là tốt nhất”. Sau khi thầy tướng số hỏi tên anh, ông ta viết vào một mảnh giấy và dán lên tường: “Định Thực sẽ đỗ đầu trong năm nay.”Sau đó, Định Thực rất vui vẻ và bắt đầu trở nên kiêu ngạo, anh ta đánh bạc thậm chí còn nhiều hơn. Khi anh ta nghe rằng có hai thí sinh giàu có từ Tứ Xuyên tới, anh ta mời họ đánh bạc. Định Thực liên tục thắng, và cuối cùng anh ta thắng sáu triệu lạng bạc.
Vài ngày sau đó, Định Thực tới chùa Tướng Quốc một lần nữa, thầy tướng số ngạc nhiên nhìn anh ta và hỏi:“Tại sao trông anh kinh khủng thế? Anh không có hy vọng vượt qua kỳ thi, nói chi là đậu Trạng Nguyên”.Vừa nói ông ta vừa gỡ mảnh giấy ông ta từng viết dán lên tường kia xuống. Ông ta thở dài nói: “Nó đã làm hoại danh tiếng của ta. Ta đã đoán sai lần này.” Định Thực ngạc nhiên hỏi ông ta tại sao ông làm thế. Người thầy bói nói: “Khi nhìn tướng mạo, chúng tôi đầu tiên nhìn trán. Nếu màu vàng và sáng bóng, nó là dấu hiệu của điềm lành. Bây giờ, trán của anh trông rất khô và tối. Anh chắc hẳn đã có suy nghĩ xấu hay thu lợi bất chính. Anh đã làm chư Thần nổi giận”. Định Thực hoảng sợ và bảo người thầy bói chuyện đã xảy ra. Anh ta hỏi trong bối rối: “Tôi chỉ vui một chút. Có gì là nghiêm trọng đâu?”. Thầy tướng số phản đối, nói: “Đừng nói với tôi là anh chỉ vui một chút. Bất cứ việc gì bao gồm cả tiền bạc đều được kiểm soát bởi Thiên thượng. Khi một người đã nhận của cải bất chính, thì ông ta sẽ tự nhiên mất đi phúc đức”. Định Thực rất hối hận về những gì đã làm và lo lắng hỏi: “Tôi có thể hoàn lại tiền chăng?”. Thầy tướng số nói: “Nếu anh thật tâm muốn sửa chữa lỗi lầm và trở thành tốt hơn, anh vẫn có thể đỗ thứ 6 trong kỳ thi”. Định Thực vội vàng trả lại tiền cho hai thí sinh giàu có, và thề rằng sẽ không bao giờ đánh bạc một lần nữa.
Quả nhiên, khi danh sách thí sinh thi đậu được công bố, một người tên là Từ Đạt đã đỗ đầu còn Định Thực thì đỗ thứ 6.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2011/11/16/相由心生-运随心转-249332.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2012/3/8/131959.html#.T47PiHmGmc8
Đăng ngày 22-4-2012. Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản

Văn sử mạn đàm: 2 lá thư dạy con cháu của Gia Cát Lượng


[MINHHUỆ 14-3-2011]
Gia Cát Lượng tự là Khổng Minh (181–234), đạo hiệu là Ngọa Long tiên sinh, là vị quân sư và đại thần của nước Thục thời hậu Hán của Trung Quốc. Ông là một chính trị gia, nhà quân sự, học giả. Trong quân sự, ông đã sáng tạo ra các chiến thuật như: Bát trận đồ (Hình vẽ tám trận), Liên nỏ (Nỏ Liên Châu, tên bắn ra liên tục), Mộc ngưu lưu mã (trâu gỗ ngựa máy ). Tương truyền ông còn là người chế ra đèn trời (Khổng Minh đăng) và món màn thầu. Thân thế Gia Cát Lượng được biết tới nhiều qua tác phẩm Tam Quốc Diễn Nghĩa.
Thư nhắc nhở con của Gia Cát Lượng
Phẩm hạnh của người Đức tài toàn vẹn, là dựa vào nội tâm an tĩnh, tinh lực tập trung để tu dưỡng thân và tâm; là dựa vào tác phong giản dị để bồi dưỡng phẩm đức. Không xem nhẹ danh lợi thế tục thì không thể xác định được chí hướng của bản thân; thân tâm không tĩnh lặng thì không thể có lý tưởng cao xa. Học tập cần phải chuyên tâm ý chí, để phát triển tài năng thì cần phải học tập khắc khổ. Không nỗ lực học tập, thì không thể phát triển tài trí; không xác định rõ chí hướng thì không thể thành công trong học tập. Truy cầu hưởng lạc và biếng nhác, không tập trung, thì không thể phấn khởi tinh thần; nói năng tùy tiện và nóng nảy cáu gắt thì không thể bồi dưỡng tính tình. Tuổi tác trôi qua, ý chí tiêu mòn theo năm tháng, thì cuối cùng sẽ như cây khô lá úa mà thôi, không có ích gì cho xã hội. Đến lúc đó ngồi trong góc nhà đau buồn than thở thì có ích gì đâu?
“Thư dạy con” (Giới tử thư) này là của Gia Cát Lượng gửi cho con trai Gia Cát Kiều.
Thư nhắc nhở cháu trai của Gia Cát Lượng
Một người cần phải có chí hướng cao thượng lớn lao, ngưỡng mộ những bậc thánh hiền, từ bỏ ham muốn và tất cả những gì cản trở sự tiến bộ của một người. Chỉ có theo con đường đó, anh ta mới có thể đạt được hoài bão và chân chính thay đổi từ bên trong. Một người phải có thể thích ứng với mọi hoàn cảnh, không để tâm đến bề ngoài, lắng nghe người khác, từ bỏ ngờ vực và tính hẹp hòi. Khi ấy, người đó chẳng phải lo rằng mục đích không đạt được. Nếu một người không mạnh mẽ và kiên định, tâm hồn không thành thật khảng khái, thì anh ta sẽ không thành công, bị cuốn theo thói tục, trở nên tầm thường và bị ràng buộc bởi dục vọng. Người như thế sẽ vĩnh viễn là hạng phàm phu tục tử, hay thậm chí trở thành người dung tục.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2012/3/14/文史漫谈-诸葛亮的两封家书-254186.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2012/4/14/132702.html
Đăng ngày 21-4-2012; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
http://vn.minghui.org/news/26248-van-su-man-dam-2-la-thu-day-con-chau-cua-gia-cat-luong.html