Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

Đồng minh Mỹ giúp TQ chế tạo tên lửa "diệt tàu sân bay Mỹ"

Minh Đức - theo Trí Thức Trẻ | 30/12/2013 07:23

(Soha.vn) - DF-21 là loại tên lửa đạn đạo nhiên liệu rắn di động tầm trung đầu tiên của Trung Quốc được dẫn dắt bởi một nhà khoa học đào tạo tại Anh.

Sau những thất bại liên tiếp của tên lửa đạn đạo nhiên liệu lỏng, năm 1965, Thủ tướng Trung Quốc lúc đó là Chu Ân Lai đã ra lệnh bắt đầu nghiên cứu phát triển tên lửa nhiên liệu rắn nhằm khắc phục những hạn chế của tên lửa nhiên liệu lỏng.
Một đội ngũ thiết kế cho dự án được hình thành tại Học viện không gian số 4, một chương trình tên lửa đạn đạo nhiên liệu rắn 1 giai đoạn mang tên DF-61 đã được đề xuất. Tuy nhiên, đến năm 1967,quân đội Trung Quốc quyết định triển khai chương trình phát triển tàu ngầm năng lượng hạt nhân mang tên lửa đạn đạo đầu tiên của nước này.
Chương trình này đã kéo theo sự phát triển của một loại tên lửa đạn đạo nhiên liệu rắn trang bị trên tàu ngầm hạt nhân. Chương trình DF-61 bị hủy bỏ, thay vào đó là chương trình phát triển tên lửa nhiên liệu rắn 2 giai đoạn Julang-1 (JL-1) trang bị trên tàu ngầm.
Năm 1970, Học viện không gian số 1 được giao nhiệm vụ phát triển thiết kế khí động học cho tên lửa JL-1 và Học viện không gian số 4 được giao nhiệm vụ phát triển động cơ nhiên liệu rắn cho chương trình. Việc phát triển động cơ nhiên liệu rắn đã đạt được những tiến bộ vượt bậc.
Biến thể DF-21 tiêu chuẩn và DF-21A trong một cuộc diễu hành. Chương trình tên lửa nhiên liệu rắn được dẫn dắt bởi nhà khoa học đào tạo tại Anh đã thành công ngay lần ra mắt đầu tiên.
Biến thể DF-21 tiêu chuẩn và DF-21A trong một cuộc diễu hành. Chương trình tên lửa nhiên liệu rắn được dẫn dắt bởi nhà khoa học đào tạo tại Anh đã thành công ngay lần ra mắt đầu tiên.
Quân đội Trung Quốc đã quyết định phát triển một biến thể sử dụng trên đất liền của dự án JL-1 được chỉ định là DF-21. Đến năm 1975, có hai chương trình phát triển tên lửa nhiên liệu rắn được thực hiện song song là JL-1 và DF-21, 2 chương trình này sử dụng chung động cơ và thiết kế khí động học.
Năm 1976, chương trình JL-1/DF-21 được bàn giao cho Học viện không gian số 2 trước đây chịu trách nhiệm về phòng thủ tên lửa. Huang Weilu, một nhà khoa học được cấp bằng Thạc sĩ về điều khiển tự động tại Đại học Hoàng gia London, Anh được bổ nhiệm làm giám đốc thiết kế của dự án. Ông cũng chính là cha đẻ của chương trình tên lửa đạn đạo nhiên liệu rắn phóng từ tàu ngầm của Trung Quốc.
Học viện không gian số 2 cũng đảm đương luôn nhiệm vụ phát triển phương tiện mang phóng di động cùng các hệ thống hỗ trợ cho tên lửa DF-21. Dưới sự dẫn dắt của một nhà khoa học được đào tạo tại Anh, chương trình DF-21 đã có những thành tựu đầy ấn tượng.
Ngay trong cuộc thử nghiệm đầu tiên của DF-21 diễn ra vào tháng 05/1985 tại trung tâm thử nghiệm tên lửa ở Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc đã thành công tốt đẹp. Thử nghiệm thứ 2 vào tháng năm 1987 cũng thành công. Tên lửa được cấp giấy chứng nhận thiết kế hoàn thiện vào năm 1988.
Biến thể DF-21C được trang bị loại xe mang phóng chuyên dụng mới mang lại khả năng cơ động cao hơn.
Biến thể DF-21C được trang bị loại xe mang phóng chuyên dụng mới mang lại khả năng cơ động cao hơn.
Biến thể tiêu chuẩn của DF-21 (NATO định danh CSS-5 Mod 1) có chiều dài 10,7 mét, đường kính 1,4 mét, trọng lượng phóng 14,7 tấn, tầm bắn 1.700km mang theo đầu đạn thông thường nặng 600kg hoặc đầu đạn hạt nhân có đương lượng nổ 200Kt. Ống phóng kiêm container bảo quản được đặt trên khung gầm xe kéo chuyên dụng đưa nó trở thành loại tên lửa đạn đạo nhiên liệu rắn di động đầu tiên của Trung Quốc.
Sau thành công ban đầu này, vào năm 1990, Trung Quốc đã quyết định mở rộng tầm bắn của DF-21, biến thể mở rộng được chỉ định là DF-21A (CSS-5 Mod 2). Tuy nhiên, bước tiến tới những tưởng thuận lợi này lại vấp phải những trở ngại to lớn. Hai lần thử nghiệm đầu tiên của DF-21A vào đầu năm 1991 đều thất bại.
Chương trình bị ngưng lại đến 2 năm sau mới được tiếp tục cấp kinh phí để tiếp tục phát triển mẫu DF-21A cải tiến. Từ năm 1995-1996, 4 lần thử nghiệm của DF-21A cải tiến đều thành công, tên lửa được đưa vào sử dụng trong năm 1996.
DF-21A có tầm bắn 2.700km, bán kính lệch mục tiêu CEP dao động từ 100-300 mét, đây là tên lửa đạn đạo tầm trung chính xác nhất của Trung Quốc. Theo các số liệu của tình báo Mỹ, khoảng 60-80 tên lửa cùng 30-40 xe phóng di động đã được triển khai hoạt động trong biên chế lực lượng nhị pháo.
Sự phát triển của biến thể tên lửa đạn đạo chống hạm DF-21D đang thu hút sự chú ý đặc biệt của giới quân sự thế giới.
Sự phát triển của biến thể tên lửa đạn đạo chống hạm DF-21D đang thu hút sự chú ý đặc biệt của giới quân sự thế giới.
Biến thể cải tiến tiếp theo của DF-21 là DF-21C (CSS-5 Mod 3), tên lửa được tiết lộ vào đầu năm 2006, tên lửa mới được nâng cấp hệ thống dẫn hướng và khả năng mang đầu đạn tải trọng tới 2 tấn. Tên lửa được đặt trên khung gầm xe tải hạng nặng chuyên dụng WS2500 10x10 bánh với tải trọng tối đa 28 tấn.
Sự phát triển của xe phóng chuyên dụng này được cho là có sự hỗ trợ của Belarus tương tự như xe chuyên dụng MAZ-534 của Nga. Xe phóng mới mang lại khả năng cơ động cao hơn so với xe kéo trước đó. Ống phóng kiêm container bảo quản được nâng lên vị trí thẳng đứng khi phóng bằng hệ thống thủy lực, 4 chân chống thủy lực sẽ cố định xe phóng trước khi tên lửa được khai hỏa.
Biến thể DF-21C có thể trang bị nhiều loại đầu đạn khác nhau như: Đầu đạn liều nổ cao, đầu đạn phân mảnh, đầu đạn nổ trên không hoặc đầu đạn xung điện. Hệ thống dẫn hướng được kết hợp giữa dẫn hướng quán tính và GPS giúp cải thiện độ chính xác của tên lửa.
Biến thể nâng cấp mới nhất là DF-21D (CSS-5 Mod 4), đây là một loại tên lửa đạn đạo chống hạm ASBM đầu tiên của thế giới. Sự phát triển của DF-21D được cho là “sát thủ diệt tàu sân bay Mỹ” đang thu hút sự chú ý đặc biệt của giới quân sự thế giới. Đã có rất nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển của tên lửa này, một số ý kiến cho rằng DF-21D không đủ khả năng để nhắm các mục tiêu di động trên mặt biển ở khoảng cách gần 2.000km.
Gần đây, truyền thông Nga đã đăng một bài phân tích của chuyên gia Nga Oleg Kaptsov chứng minh sự nguy hiểm của DF-21D và cho thấy Trung Quốc hoàn toàn không ảo tưởng trong chương trình đầy thách thức này. Cho dù khả năng thực sự của DF-21D vẫn là một câu hỏi ngỏ nhưng tiềm năng để Trung Quốc thực hiện điều này hoàn toàn khả thi.

Tàu ngầm Kilo đầu tiên của Việt Nam ra đời như thế nào?

Minh Đức - theo Trí Thức Trẻ | 04/11/2013 13:25

(Soha.vn) - Tàu ngầm Kilo Hà Nội sẽ được bàn giao cho Việt Nam vào ngày 7/11 tới. Trước thời khắc quan trọng này, hãy cùng nhìn lại quá trình phát triển của con tàu.

Năm 2009 được xem là một năm bản lề đối với quá trình hiện đại hóa quân đội Việt Nam, đặc biệt là không quân và hải quân. Tháng 04/2009, trang mạng Defense Industry Daily cho biết, Việt Nam và Nga đã đạt được thỏa thuận sơ bộ về hợp đồng mua bán 6 tàu ngầm điện-diesel Kilo 636.
Tàu ngầm Kilo Hà Nội được hạ thủy trong tháng 08/2012 đang được lắp đặt thêm các thiết bị tại bến neo đậu của nhà máy đóng tàu Admiralty.
Tàu ngầm Kilo Hà Nội được hạ thủy trong tháng 08/2012
Đến tháng 12/2009, trong chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hợp đồng chính thức đã được ký kết. Giá trị hợp đồng lên đến 2,1 tỷ USD, bao gồm việc cung cấp 6 tàu ngầm Kilo, cơ sở hạ tầng neo đậu và đào tạo huấn luyện thủy thủ. Đây được xem là hợp đồng mua sắm vũ khí lớn nhất của Việt Nam kể từ sau chiến tranh Việt Nam.
Hợp đồng được giao cho nhà máy đóng tàu Admiralty ở thành phố Saint Petersburg (Nga) thực hiện. Đây là một trong những nhà máy đóng tàu quân sự lâu đời nhất của Nga, nhà máy này đã đóng các loại tàu ngầm tấn công hạt nhân Victor-I/II/III, tàu ngầm Kilo, tàu ngầm thế hệ mới nhất Lada.
Ngày 24/08/2010, nhà máy đóng tàu Admiralty bắt đầu đặt ky khởi đóng tàu ngầm Kilo đầu tiên trong hợp đồng cho Việt Nam. Tàu ngầm Kilo xuất khẩu cho Việt Nam thuộc đề án 636M (Nga chỉ định là đề án 06.361). Đây là một biến thể cải tiến từ tàu ngầm đề án 636 Varshavyanka, NATO định danh là Improved Kilo (Kilo cải tiến).
Chiếc tàu ngầm Kilo đầu tiên được đặt số hiệu tạm thời là 01.339, quá trình đóng tàu kéo dài đúng 2 năm 04 ngày. Ngày 28/08/2012, tàu ngầm Kilo đầu tiên xuất khẩu cho Việt Nam chính thức được hạ thủy. Tàu ngầm được đặt số hiệu là HQ-182 và vinh dự được lấy tên của Thủ đô Hà Nội.
Ngày 05/12/2012, tàu ngầm Kilo Hà Nội được đưa lên hệ thống khử từ trường tại nhà máy đóng tàu Admiralty, đến ngày 08/12/2012 sau khi hoàn thành khử từ, tàu ngầm Hà Nội được đưa đến bến neo đậu tại cảng của nhà máy đóng tàu để tiến hành thử nghiệm tĩnh tại đây kéo dài đến ngày 25/12/2012.
Lá cờ tổ quốc tung bay trên nóc tàu ngầm Hà Nội tại Nga, một hình ảnh hết sức ý nghĩa đối với quá trình hiện đại hóa Hải quân Việt Nam.
Lá cờ tổ quốc tung bay trên nóc tàu ngầm Kilo Hà Nội tại Nga, một hình ảnh hết sức ý nghĩa đối với quá trình hiện đại hóa Hải quân Việt Nam.
Tiếp đó, tàu ngầm Kilo Hà Nội tiếp tục trải qua 2 chuyến thử nghiệm dài ngày trên biển. Lần thử nghiệm trên biển đầu tiên được thực hiện từ ngày 16/04-27/06/2013. Trong quá trình thử nghiệm,tàu ngầm Kilo Hà Nội đã lặn xuống độ sâu 190 mét một cách an toàn.
Trong chuyến thử nghiệm này, phía nhà máy đóng tàu đã điều động số thủy thủ đoàn tham gia thử nghiệm lên đến 53 người. Sở dĩ có nhiều thủy thủ tham gia thử nghiệm là do trên tàu có rất nhiều thiết bị mới lần đầu được trang bị nên cần phải có chuyên gia đi kèm để đào tạo sử dụng thiết bị.
Từ ngày 19/2 - 4/3/2013 thủy thủ Việt Nam bắt đầu được đào tạo sử dụng tàu ngầm Kilo Hà Nội tại cảng, sau đó tiến hành đào tạo trên biển cho đến hết tháng 6/2013. Từ ngày 4/7 - 17/7/2013, tàu ngầm Hà Nội tiếp tục trải qua quá trình thử nghiệm cấp nhà nước. Đại diện nhà máy đóng tàu Admiralty cho biết, các thử nghiệm vớitàu ngầm Hà Nội đạt hiệu suất tuyệt vời lên đến 99%.
Chuyến thử nghiệm trên biển cuối cùng của tàu ngầm Hà Nội vừa được thực hiện vào đầu tháng 10/2013. Tàu ngầm Hà Nội vừa được đưa trở lại cảng của nhà máy đóng tàu Admiralty trong tuần thứ 2 của tháng 10/2013. Tại đây, tàu ngầm Kilo Hà Nội sẽ được khoác lên mình một “bộ áo mới”. Bên cạnh đó, nhà máy đóng tàu Admiralty sẽ tiến hành lắp đặt thêm một số thiết bị trước khi bàn giao cho Việt Nam vào ngày 7/11/2013 tới.
Khoang ngư lôi của tàu ngầm Kilo 636M. Lưu ý 2 ống phóng số 5 và số 6 được trang bị hệ thống cáp kết nối kỹ thuật số AERVD-100 TATA được sử dụng để nạp dữ liệu mục tiêu vào tên lửa chống hạm 3M-54 Club S.
Khoang ngư lôi của tàu ngầm Kilo 636M. Lưu ý 2 ống phóng số 5 và số 6 được trang bị hệ thống cáp kết nối kỹ thuật số AERVD-100 TATA được sử dụng để nạp dữ liệu mục tiêu vào tên lửa chống hạm 3M-54 Club S.
Tàu ngầm Kilo Hà Nội có chiều dài 74 mét, chiều rộng 10 mét, mớn nước 6,3 mét, lượng giãn nước khi nổi 2.300 tấn, lượng giãn nước tối đa khi lăn 4.000 tấn. Tàu được trang bị 6 ống phóng ngư lôi đường kính 533mm, trong đó, 2 ống phóng phía trên được sử dụng để phóng tên lửa chống hạm 3M-54 Club S.
Tên lửa được đưa ra khỏi ống phóng ngư lôi trong một ống khí áp nitor, sau khi lên khỏi mặt nước, vỏ bọc sẽ được tách ra và động cơ chính của tên lửa được kích hoạt để phóng đến mục tiêu. Tên lửa chống hạm 3M-54 Club S được dẫn hướng kết hợp quán tính và radar chủ động giai đoạn cuối.
Tên lửa có tầm bắn 220km, mang theo đầu đạn nặng 450kg. Ở pha cuối, tên lửa tăng tốc độ lên gấp 2,9 lần vận tốc âm thanh (3.200km/h) nên rất khó đánh chặn. 4 ống phóng ngư lôi phía dưới được sử dụng để phóng các loại ngư lôi như TEST-71MKE TV, ngư lôi này có 2 chế độ dẫn đường bằng sonar chủ động hoặc kênh TV cho phép chuyển từ mục tiêu này sang mục tiêu khác. Ngư lôi có phạm vi hoạt động 20km, tốc độ tối đa 73km/h.
Ngoài ra, tàu ngầm Kilo 636MV của Việt Nam còn có khả năng sử dụng loại ngư lôi siêu khoang VA-111 Shkval, ngư lôi này có khả năng đạt tốc độ lên đến 370km/h. Ngư lôi này là nỗi kinh hoàng của bất kỳ tàu chiến hay tàu ngầm nào.
Trong 4 ống phóng ngư lôi VA-111 Shkval có 2 ống phóng được thiết kế để phóng ngư lôi có điều khiển từ xa với độ chính xác rất cao. Hệ thống được kiểm soát bởi máy tính kỹ thuật số, loạt ngư lôi đầu tiên được bắn trong vòng 2 phút, loạt đạn tiếp theo được bắn sau 5 phút. Cơ số ngư lôi và tên lửa mang theo là 18 quả, tàu ngầm Kilo Hà Nội cũng có thể mang theo 24 mìn.
Hệ thống điện tử trên tàu ngầm Kilo Hà Nội không được tiết lộ, nhưng dựa vào thông số kỹ thuật của tàu ngầm Kilo 636 của Nga đã được công bố thì tàu ngầm Kilo 636 được trang bị hệ thống định vị thủy âm kỹ thuật số MGK-400EM. Hệ thống định vị thủy âm phát hiện mìn và tránh va chạm kỹ thuật số MG-519EM.
Tên lửa chống hạm 3M-54 Club S đang được đưa vào ống phóng ngư lôi của tàu ngầm Kilo. Ảnh minh họa nước ngoài.
Tên lửa chống hạm 3M-54 Club S đang được đưa vào ống phóng ngư lôi của tàu ngầm Kilo. Ảnh minh họa nước ngoài.
Tàu ngầm còn được trang bị một radar hoạt động trong phạm vi của kính tiềm vọng hoặc khi nổi lên, radar này được sử dụng để phát hiện các mục tiêu mặt nước, trên không, kiểm soát an toàn hàng hải khu vực xung quanh tàu. Bên cạnh đó, tàu còn được trang bị hệ thống thông tin liên lạc, hỗ trợ điện tử ESM.
Vỏ tàu ngầm còn được phủ một lớp gạch cao su chống âm, lớp gạch này có tác dụng hấp thụ và làm méo tín hiệu của các hệ thống định vị thủy âm chủ động cũng như làm giảm tiếng ồn của tàu ngầm, giúp tàu khó bị phát hiện bởi các hệ thống định vị thủy âm thụ động.
Tàu ngầm Kilo Hà Nội được trang bị 2 máy phát điện diesel công suất 1.000km/máy, 2 động cơ điện chính 5.500 mã lực, 2 động cơ dự trữ 102 mã lực/chiếc và chân vịt 7 lá. Hệ thống động lực của tàu được trang bị hệ thống điều khiển tự động cho phép kiểm soát tốt hoạt động của các thành phần liên quan.
Hệ thống động lực này giúp tàu ngầm Kilo Hà Nội đạt tốc độ 10-12 hải lý/h khi nổi và 17-25 hải lý/h khi lặn. Phạm vi hoạt động với ống thông hơi 6.000-7.500 dặm, độ sâu lặn tối đa 300 mét, thời gian hoạt động 45 ngày, thủy thủ đoàn 52 người.

Biển Đông: Tàu ngầm Kilo VN phá vòng vây trực thăng săn ngầm TQ

Hà Dũng - theo Trí Thức Trẻ | 29/11/2013 06:28

(Soha.vn) - Đối mặt với lực lượng trực thăng săn ngầm đông đảo của Trung Quốc, tàu ngầm Kilo Việt Nam làm cách nào để tác chiến hiệu quả?

Đội hình lai ghép của trực thăng chống ngầm Trung Quốc
Bên cạnh các máy bay săn ngầm cỡ lớn GX-6, Trung Quốc đang có trong trang bị một số loại trực thăng săn ngầm được đánh giá khá cao, đó là Z-9А, Z-9C, Kа-28. Các trực thăng này là lực lượng chống ngầm chủ yếu của các hạm đội Hải quân Trung Quốc.
Trong số này thì Ka-28 là hàng nhập khẩu từ Nga, còn Z-9 với hai biến thể Z-9A và Z-9C là do Trung Quốc tự chế tạo.
Tính đến năm 2006, Hải quân Trung Quốc có 11 chiếc Ka-28. Trực thăng săn ngầm Ka-28 được trang bị các hệ thống trinh sát ngầm bao gồm: Hệ thống phát hiện từ trường tàu ngầm MAD, sonar phát hiện tàu ngầm, thả phao định vị thủy âm.
Ka-28 có thể mang theo ngư lôi, bom sâu, mìn ở trong khoang, khi phát hiện tàu ngầm đối phương, Ka-28 có thể tấn công bằng vũ khí mang theo hoặc phát tín hiệu báo động, thả phao đánh dấu vị trí tàu ngầm cho các lực lượng tấn công khác. Với tốc độ tối đa 270km/h, tốc độ hành trình 205km/h, phạm vi hoạt động 980km, trực thăng Ka-28 có thể trinh sát trên một vùng biển rộng lớn, nhanh chóng phát hiện sớm sự xuất hiện của các tàu ngầm đối phương, phát tín hiệu báo động và sẵn sàng tiêu diệt khi cần thiết. Ka-28 là một trong những trực thăng săn ngầm hiệu quả nhất thế giới hiện nay.
Trực thăng Z-9 được sản xuất bởi Tập đoàn công nghiệp hàng không Cáp Nhĩ Tân, dựa trên loại trực thăng AS-365 theo giấy phép của Tập đoàn Eurocopter. Z-9А là trực thăng của Pháp AS 365 Panther lắp đặt thiết bị dò tìm "Thomson" ngư lôi chống ngầm 244S của Italia. Đây là một kiểu lai ghép thường thấy ở các vũ khí Trung Quốc.
Sau Z-9A, Trung Quốc sản xuất Z-9С theo giấy phép trực thăng AS 365N Dauphin II của Pháp, mang tên lửa hoặc ngư lôi chống ngầm.
  Trực thăng săn ngầm Z-9C đang thả phao sonar thủy âm
Trực thăng săn ngầm Z-9C đang thả phao sonar thủy âm
Z-9C được trang bị một radar tìm kiếm bề mặt KLC-1, băng tần X, radar này được phát triển bởi Viện nghiên cứu điện tử Nam Kinh. Tầm phát hiện mục tiêu cỡ một tàu đánh cá nhỏ khoảng 92km, phát hiện các mục tiêu cở tàu khu trục trung bình khoảng 118km.
Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài, radar KLC-1 bộc lộ nhiều hạn chế trong môi trường tác chiến điện tử mạnh. Radar này không đủ công suất để có thể vượt qua các nhiễu chặn, thiếu sự linh hoạt trong chế độ nén xung khi đối phó với nhiễu trả lời.
Trực thăng được trang bị hệ thống chống ngầm ASW Type-605, được cho là sao chép lại từ hệ thống tác chiến chống ngầm AN/AQS-13 của Hải quân Mỹ.
Hệ thống này bao gồm một phao sonar thụ động được thả xuống dưới nước để phát hiện và định vị tàu ngầm, một máy thu tín hiệu radio cho phép trực thăng nhận tín hiệu của phao sonar ở cự ly 10km khi đang bay với tốc độ 120km/h.
Về vũ khí trực thăng Z-9C có khả năng mang theo 1-2 ngư lôi chống ngầm hạng nhẹ ET-52. Đây là bản sao từ loại ngư lôi chống ngầm hạng nhẹ A244 của Italia. Ngư lôi này sử dụng đầu dò âm thanh chủ động hoặc bị động với tầm bắn tối đa là 9,5km.
Trực thăng Z-9C được trang bị 2 động cơ Arriel-IC1, công suất 550kW, tốc độ tối đa khoảng 315km/h, tốc độ hành trình 285km/h, tầm hoạt động 1000km, trần bay 6000m. Phi hành đoàn 2 người, có khả năng mang theo 10 binh lính, tải trong hàng hóa tối đa khoảng 2038kg.
Tổng số trực thăng săn ngầm trên các tàu hải quân Trung Quốc bao gồm 42 chiếc: 19 chiếc Z-9А, Z-9С và 4 chiếc Ka-28 trên tàu khu trục, 19 chiếc Z-9А, Z-9С trên khinh hạm.
Như vậy có thể thấy rằng các trực thăng săn ngầm của Trung về số lượng khá đông nhưng chất lượng không thực sự nổi trội. Ngoài các trực thăng săn ngầm Ka-28 khá cũ được coi là đồng bộ thì các trực thăng Z-9 thực chất là một món hàng khá thập cẩm với cách chế tạo máy bay theo mẫu Pháp, tên lửa mẫu của Ý và hệ thống điện tử, trinh sát theo mẫu của Mỹ.
So với Việt Nam đây đều là những loại trực thăng săn ngầm quen thuộc. Trong biên chế của không quân Việt Nam hiện nay đều có mặt các loại máy bay săn ngầm Ka-28 cũng như "hàng xịn" Eurocopter SA 365 (tên gọi khác là AS365 Dauphin 2 - nguyên mẫu của Z-9C)
Tàu ngầm Kilo Việt Nam phá lưới trực thăng săn ngầm
Với lượng trực thăng săn ngầm đi kèm các chiến hạm đông đảo của Trung Quốc, để có thể bảo vệ an toàn cho các tàu ngầm Kilo, Việt Nam cần phải đánh mạnh vào phương tiện mang là các chiến hạm mang trực thăng. Để làm tốt điều này không có cách nào khác là phải thực hiện tác chiến hợp đồng một cách hết sức linh hoạt.
Khi tàu ngầm Kilo 636 làm nhiệm vụ, vào vùng hoạt động của trực thăng săn ngầm của đối phương, ta có thể dùng các phi đội không quân tiêm kích thực hiện làm chủ bầu trời sẵn sàng tiêu diệt các trực thăng săn ngầm của địch. Nên nhớ rằng để tìm ra được tàu ngầm Kilo giữa đáy Biển Đông mênh mông, các trực thăng săn ngầm cần một thời gian tuần tra tương đối dài chứ không phải là phát hiện ra ngay. Khi đó Su-27, Su-30, Su-22, MiG-21 Việt Nam đã có thể chế áp thành công trực thăng săn ngầm của đối phương.
Ngoài ra, sự hỗ trợ của các biên đội tàu mặt nước với các tên lửa chống hạm Kh-35E cũng có thể làm tê liệt các tàu chiến của địch khiến các trực thăng săn ngầm trở nên vô dụng.
  Các tên lửa trong tổ hợp Club-K được trang bị trên tàu ngầm Kilo 636 của Việt Nam
Các tên lửa trong tổ hợp Club-K được trang bị trên tàu ngầm Kilo 636 của Việt Nam
Ngoài ra, không chỉ có ngư lôi với tầm bắn khá ngắn, Kilo 636 Việt Nam còn được trang bị tên lửa hành trình chống hạm 3M-54E tầm bắn 200 km và 3M-54E1 tầm bắn 300 km. Với tầm bắn này, tàu ngầm Kilo có thể hoạt động ở ngoài vòng các vùng kiểm soát của trực thăng săn ngầm mà vẫn hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt các tàu địch.

Phòng không Việt Nam đã "rửa nhục" cho tên lửa SAM-2 như thế nào?

Lương Minh - theo Trí Thức Trẻ | 26/12/2013 06:38

(Soha.vn) - SAM-2 đã thất bại thê thảm ở Trung Đông nhưng khi tới Việt Nam, với tài trí của bộ đội ta, nó đã thực sự trở thành "rồng lửa Thăng Long" vít cổ pháo đài B-52.

Nhắc đến chiến thắng Điện Biên Phủ trên không năm 1972, không thể không nhắc đến các tổ hợp tên lửa phòng không S-75 (Việt Nam gọi là SAM-2). Trong 12 ngày đêm Hà Nội, Hải Phòng hiên ngang chống lại cuộc tập kích đường không Linebacker II của Mỹ, các tiểu đoàn tên lửa SAM-2 đã bắn hạ 29 trong tổng số 34 máy bay ném bom chiến lược B-52, xóa tan hoàn toàn huyền thoại “pháo đài bay”.
Chiến công này càng thêm vang dội, khi chúng ta biết rằng: Người Mỹ đã nắm rõ tên lửa SAM-2 như lòng bàn tay. Trước trận đại thắng trên bầu trời miền Bắc Việt Nam cuối tháng 12 năm 1972, tên lửa S-75 đã chịu nhiều thất bại đau đớn, tưởng như không thể gượng dậy nổi. Nhưng với tài trí Việt Nam, SAM-2 đã thực sự trở thành “rồng lửa Thăng Long” vít cổ pháo đài bay B-52 .
Liên tiếp thất bại
Giữa thập niên 1960, Liên Xô viện trợ các tổ hợp tên lửa S-75 Dvina chưa qua sử dụng cho Việt Nam và một số quốc gia khác.
Tổ hợp tên lửa S-75 Dvina
Tổ hợp tên lửa S-75 Dvina
Tổ hợp tên lửa S-75 Dvina sử dụng đài radar điều khiển hỏa lực SNR-75 Fan Song và đài radar cảnh giới P-12 Spoon Rest , với các đạn tên lửa V-750 và V-750V, có thể diệt mục tiêu ở cự li từ 7-30km, độ cao tối thiểu 450m, tối đa 25.000m. Với đầu đạn nặng 190kg, bán kính sát thương lên đến 65m, tên lửa S-75 có sức công phá rất lớn, là con át chủ bài của phòng không Liên Xô trong một giai đoạn khá dài.
Tuy nhiên, trước khi đến Việt Nam, thành tích chủ yếu của S-75 chỉ là bắn hạ các máy bay do thám U-2 (ở Liên Xô năm 1960 và ở Cu Ba năm 1962), hay RB-57 (ở Trung Quốc năm 1961). Hai chiến trường lớn đầu tiên của tên lửa S-75 Dvina là tại Việt Nam và Trung Đông.
Ngày 27-3-1965, Việt Nam nhận được từ Liên Xô bộ trang bị khí tài của hai trung đoàn tên lửa phòng không S-75 Dvina, cùng với 4,5 cơ số đạn tên lửa (54 quả đạn). Chưa đầy một tháng sau, ngày 24-7-1965, hai tiểu đoàn 63, 64 của Trung đoàn 236 (Đoàn Tên lửa Sông Đà) đã lập công xuất sắc, phối hợp cùng với pháo cao xạ và súng máy phòng không tiêu diệt 10 máy bay Mỹ.
Hình ảnh trận địa tên lửa S-75 Dvina của bộ đội Việt Nam do máy bay trinh sát Mỹ chụp. Một trận địa S-75 Dvina gồm: 6 bệ phóng tên lửa và đài điều khiển hỏa lực cùng các thành phần hỗ trợ khác.
Hình ảnh trận địa tên lửa S-75 Dvina của bộ đội Việt Nam do máy bay trinh sát Mỹ chụp.
Choáng váng trước thất bại nặng nề, người Mỹ vội vã đẩy mạnh việc nghiên cứu, đối phó với tên lửa S-75 Dvina. Và điều không ai ngờ tới, là trong khi S-75 đại thắng ở Việt Nam, thì chúng lại thất bại thê thảm ở Trung Đông.
Lúc bấy giờ, rất nhiều tổ hợp S-75 Dvina đã được Liên Xô viện trợ cho Ai Cập và Syria để chống lại Isarel. Trong tình thế bị bao vây ngặt nghèo, phải chống lại cùng lúc 6 quốc gia có tiềm lực quân sự mạnh: Ai Cập, Syria, Jordan, Libya, Iraq và Arab Saudi, Isarel đã quyết định mở cuộc tập kích đường không Focus, bắt đầu cuộc Chiến tranh Sáu ngày.
7 giờ 45 phút sáng ngày 5-6-1967, gần 200 máy bay phản lực chiến đấu Isarel ồ ạt cất cánh tấn công phủ đầu Ai Cập. Không quân Isarel bay thấp để tránh tầm bắn của tên lửa S-75, đồng loạt tiến công phá hủy các sân bay, đài radar, trận địa phòng không của đối phương. Hơn 300 máy bay chiến đấu hiện đại của Ai Cập bị phá hủy, hơn 100 phi công Ai Cập thiệt mạng. Nhiều đài radar và trận địa phòng không bị xóa sổ hoàn toàn.
Sau đó, các lữ đoàn thiết giáp và bộ binh cơ giới Isarel đồng loạt xuất kích, tạt sườn chia cắt đội hình quân Ai Cập. Quá hoảng sợ, quân đội Ai Cập vội vã rút chạy, bỏ lại rất nhiều vũ khí. 20 bộ khí tài S-75 Dvina bị bỏ lại ở sa mạc Sinai, rơi vào tay quân Isarel. Người Mỹ nhanh chóng “mổ xẻ”, nghiên cứu khí tài tên lửa này, và đưa ra các biện pháp đối phó.
Ngày 15-12-1967, không quân Mỹ tung 44 lượt máy bay cường kích đánh phá cầu Đuống, 8 đạn tên lửa S-75 của ta bắn lên đều bị mất điều khiển, do bị đối phương dùng máy gây nhiễu ALQ-71 gây nhiễu rãnh đạn. Cũng từ đây, bắt đầu cuộc đọ sức quyết liệt giữa các chiến sĩ tên lửa Việt Nam với không lực Mỹ.
Trong tình thế vô cùng khó khăn, khi khí tài của ta đã bị đối phương nắm rõ như lòng bàn tay, bộ đội tên lửa Việt Nam chỉ còn vũ khí duy nhất là sự sáng tạo. Bằng các biện pháp thu sóng, kết hợp chụp ảnh, phía ta đã phát hiện được dải tần số và cường độ của loại nhiễu này, sau đó tiến hành “át nhiễu”, nâng công suất sóng điều khiển và sóng trả lời của đạn lên gấp ba lần, vượt qua mọi loại máy gây nhiễu của Mỹ như ALQ-71, ALQ-101, ALQ-107.
Khó khăn chồng chất khó khăn
Mọi chuyện vẫn chưa dừng ở đây. Một nhân tố quan trọng của tổ hợp tên lửa S-75 Dvina là các đài radar cảnh giới P-12 Spoon Rest, có tầm trinh sát mục tiêu lên đến 275km, sử dụng dải sóng VHF với 4 tần số phát, kháng nhiễu tương đối tốt.
Sau thất bại nặng nề trong Chiến tranh Sáu ngày, Ai Cập ráo riết hiện đại hóa quân đội để phục thù. Họ đã nhận được các đài radar P-12 từ Liên Xô. Nhưng không ngờ, phía Ai Cập đã quá mất cảnh giác, các đài radar hầu như không có hỏa lực phòng không và lực lượng bảo vệ. Ngày 26-12-1969, phía Isarel mở chiến dịch Rooster-53, dùng máy bay trực thăng và lính đặc nhiệm tập kích đánh cướp trạm radar Ras Ghareb gần kênh đào Suez, cẩu toàn bộ 7 tấn trang bị khí tài của tổ hợp radar P-12 mang về nghiên cứu.
Năm lần bảy lượt, bộ đội phòng không Việt Nam bị Ai Cập “báo hại” khi dâng toàn bộ các khí tài phòng không hiện đại nhất cho Mỹ. Tính đến năm 1970, toàn bộ các khí tài radar chủ yếu của Việt Nam đã bị Mỹ tìm hiểu, và đưa ra các biện pháp đối phó hiệu quả. Chiến tranh phá hoại lần thứ hai bắt đầu.
Các chiến sĩ thực hiện công việc nạp đạn vào bệ phóng.
Các chiến sĩ thực hiện công việc nạp đạn vào bệ phóng.
Ngày 10-4-1972, B-52 ném bom rải thảm thành phố Vinh, nhưng hai ngày sau, Quân chủng Phòng không – Không quân mới biết. Ngày 13-4-1972, B-52 đánh ra Thanh Hóa, hủy diệt hoàn toàn sân bay Sao Vàng, nhưng hai tiểu đoàn tên lửa S-75 Dvina ở Thanh Hóa đều không thể phóng đạn, vì nhiễu rất nặng. Đặc biệt, ngày 16-4-1972, máy bay B-52 đánh vào thành phố Hải Phòng, hai trung đoàn 238 và 285 đã phóng lên đến 93 đạn tên lửa nhưng không diệt được chiếc B-52 nào.
Trước những thất bại liên tiếp, Quân chủng Phòng không - Không quân đã nghiêm túc kiểm điểm, tìm hiểu nguyên nhân và nhanh chóng đề ra các biện pháp củng cố lại lực lượng, trang bị khí tài, chuẩn bị những phương án đánh mới. Trong đó, phải kể đến việc sử dụng radar K8-60 của pháo cao xạ 57mm để chỉ thị mục tiêu cho tên lửa S-75 đánh B-52. Điều đặc biệt là radar K8-60 vốn có hai dải sóng 3cm và 10cm, nhưng dải sóng 3cm bị trục trặc không thể sử dụng được, nên trước đó phía ta chỉ đánh địch bằng dải sóng 10cm, giống như dải sóng của đài radar SON-9A của Liên Xô. Do đó, phía Mỹ chỉ tập trung gây nhiễu nặng dải sóng 10cm.
Điều thần kỳ đã xảy ra khi các kĩ sư quân sự Việt Nam “mổ xẻ” đài radar K8-60, quyết tâm sửa chữa dải sóng 3cm. Họ đã tìm ra rằng khi thiết kế đài radar K8-60, phía Trung Quốc đã phạm lỗi lớn ở đèn điện tử CKM-99, một bộ phận tối quan trọng, được coi như trái tim của đài phát. Chúng ta đã đặt lại chế độ làm việc cho đèn điện tử CKM-99, phục hồi thành công dải sóng 3cm. Kết quả này đã trở thành miếng võ hiểm của tên lửa S-75 Dvina, được giữ bí mật cho đến ngày mở màn Chiến dịch phòng không Hà Nội – Hải Phòng cuối tháng 12 năm 1972.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, S-75 Dvina đã bảo vệ vững chắc bầu trời miền Bắc bắn rơi hàng trăm máy bay địch, trong đó có “pháo đài bay” B-52 – niềm tự hào của Không quân Mỹ.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, S-75 Dvina đã bảo vệ vững chắc bầu trời miền Bắc, bắn rơi hàng trăm máy bay địch, trong đó có “pháo đài bay” B-52.
Quá bất ngờ trước dải sóng mới của radar K8-60, không quân Mỹ bất lực không kịp tổ chức gây nhiễu. Tên lửa S-75 Dvina đã lập chiến công vang dội, tiêu diệt 29 máy bay ném bom chiến lược B-52 của địch, làm nên bản hùng ca bất diệt “Điện Biên Phủ trên không”, rửa mối nhục thua trận của loại tên lửa huyền thoại này.
Trong suốt hai cuộc chiến tranh phá hoại, đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân của Mỹ, tên lửa S-75 Dvina đã được Việt Nam cải tiến 4 lần, với 40 nội dung kĩ thuật, đảm bảo theo kịp được cuộc chiến tranh điện tử của Mỹ.
Hiện đại hóa để gìn giữ bầu trời
Cho đến hiện nay, vẫn có hàng chục tiểu đoàn tên lửa S-75 trong biên chế Quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam, nhưng dĩ nhiên không còn là S-75 Dvina, mà là S-75M Volga cải tiến. Việt Nam đã hiện đại hóa các tổ hợp tên lửa S-75 của mình lên chuẩn S-75M3 Volga 2, sử dụng một số thành phần kĩ thuật số của hệ thống phòng không S-300PMU1 rất hiện đại.
Ngày nay, phòng không Việt Nam chủ yếu sử dụng biến thể cải tiến S-75M Volga.
Ngày nay, phòng không Việt Nam chủ yếu sử dụng biến thể cải tiến S-75M Volga.
Sau nâng cấp, tổ hợp S-75M3 có nhiều tính năng tiên tiến, hoạt động tốt trong điều kiện tác chiến điện tử mạnh, khả năng kháng nhiễu tăng gấp 20 lần so với S-75 nguyên bản, đối phó tốt hơn với các mục tiêu bay thấp, giảm thời gian từ khi bám bắt mục tiêu đến khi sẵn sàng phóng từ 8 giây xuống 3 giây.
Đài điều khiển hỏa lực SNR-75M3 nâng cấp có thể bám bắt mục tiêu ở cự li 100km, và dẫn đường cho 2 tên lửa tấn công cùng lúc (trước đây chỉ có 1 tên lửa). Đạn tên lửa sau nâng cấp có tầm bắn lên đến 60km, độ cao mục tiêu tối đa 27km (trước nâng cấp là 45km và 25km). Xác suất diệt mục tiêu ở cự li 50km từ 65-98%. Đầu đạn nặng 195kg khi nổ sẽ tung ra 29.000 mảnh vụn, sát thương mục tiêu trong bán kính 65m (250m nếu ở độ cao lớn, không khí loãng).
Tuy đã cũ, nhưng tên lửa S-75 hiện đại hóa của Việt Nam vẫn là một trong những vũ khí chủ lực để gìn giữ bầu trời. Bởi suy cho cùng, sức mạnh chính của tên lửa nằm ở những bộ óc sáng tạo, những đôi tay tài hoa của các sĩ quan và trắc thủ điều khiển. Bộ đội phòng không Việt Nam đã “rửa nhục” và viết nên huyền thoại về tên lửa S-75 Dvina, chúng ta có quyền vững tin rằng: những phiên bản cải tiến của loại tên lửa năm xưa sẽ tiếp tục vươn cao để bảo vệ bầu trời Tổ quốc.