Thứ Hai, 16 tháng 6, 2014

Dã tâm nham hiểm tà ác của Đảng Cộng Sản Trung Quốc

Bài phát biểu của Tổng bí thư Lê Duẩn về Đảng Cộng Sản Trung Quốc năm 1979

'Chúng ta rất nghèo. Làm sao chúng ta có thể đánh Mỹ nếu không có Trung Quốc làm căn cứ hậu tập? Nên chúng ta phải nghe theo họ, đúng không? Tuy nhiên, chúng ta đã không đồng ý...'.
Nguồn: Thư viện Quân đội Nhân dân, Hà Nội
Tài liệu do Christopher Goscha có được và dịch cho CWIHP
Ngọc Thu, dịch từ: Wilson Center
Nói chung, sau khi chúng ta đánh bại Mỹ, không đế quốc nào dám đánh chúng ta nữa. Chỉ có những người nghĩ rằng họ vẫn có thể đánh chúng ta và dám đánh chúng ta là những kẻ phản động Trung Quốc. Nhưng người dân Trung Quốc hoàn toàn không muốn thế. Tôi không biết những kẻ phản động Trung Quốc này sẽ tiếp tục tồn tại thêm bao lâu nữa. Tuy nhiên, miễn là họ tồn tại, thì họ sẽ tấn công chúng ta như họ vừa thực hiện (nghĩa là đầu năm 1979).
Nếu chiến tranh đến từ phương Bắc, thì các tỉnh [Bắc Trung Bộ] Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa sẽ trở thành cơ sở cho toàn bộ đất nước. Các tỉnh này tốt nhất, là các căn cứ mạnh nhất, tốt nhất và hiệu quả nhất. Vì nếu vùng đồng bằng [Bắc Bộ] tiếp tục là vùng liên tục căng thẳng, thì tình hình sẽ rất phức tạp. Vấn đề không đơn giản chút nào. Nếu không phải là người Việt Nam, thì sẽ không có người nào đánh Mỹ, bởi vì lúc Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, cả thế giới còn lại đều sợ Mỹ …
Mặc dù Trung Quốc đã giúp Triều Tiên chỉ với mục đích bảo vệ sườn phía Bắc của họ. Sau khi cuộc chiến kết thúc [ở Triều Tiên] và khi áp lực lên Việt Nam, ông ta (chỗ này hình như nói đến Chu Ân Lai khi đoạn văn sau đó cho thấy vậy) nói rằng, nếu Việt Nam tiếp tục chiến đấu, thì sẽ phải tự lo liệu. Ông ta sẽ không giúp thêm nữa và gây áp lực với chúng ta để ngừng chiến đấu.
Khi chúng ta ký Hiệp Định Geneva, rõ ràng là Chu Ân Lai đã chia đất nước ta làm hai [phần]. Sau khi nước ta bị chia thành hai miền Nam – Bắc như thế, một lần nữa ông ta gây sức ép lên chúng ta, không được làm gì đối với miền Nam Việt Nam. Họ ngăn cấm chúng ta đứng lên [chống lại Việt Nam Cộng hòa do Mỹ hậu thuẫn]. [Nhưng] họ, [người Trung Quốc,] không thể làm gì để ngăn cản chúng ta.
Khi chúng ta ở miền Nam và chuẩn bị chiến tranh du kích ngay sau khi ký Hiệp định Geneva, Mao Trạch Đông đã nói với Đại hội Đảng của chúng ta rằng, ngay lập tức, chúng ta phải buộc Lào chuyển hai tỉnh đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu không, người Mỹ sẽ tiêu diệt hai tỉnh này, một tình huống rất nguy hiểm [theo cái nhìn của Trung Quốc]! Ngay lập tức, Việt Nam đã phải làm việc với người Mỹ [liên quan đến vấn đề này]. Mao đã bức hiếp chúng ta bằng cách này và chúng ta đã phải làm điều đó.
Sau đó, khi hai tỉnh này đã được chuyển cho Viêng Chăn, những tên phản động [Lào] ngay lập tức bắt giữ Souphanouvong (Chủ tịch Lào từ năm 1975-1986). Lào có hai tiểu đoàn bị bao vây lúc đó. Hơn nữa, họ vẫn chưa sẵn sàng chiến đấu. Sau đó, một tiểu đoàn đã có thể thoát khỏi sự [bao vây]. Lúc đó, tôi đưa ra quan điểm của tôi là, Lào phải được phép tiến hành chiến tranh du kích. Tôi mời Trung Quốc đến và thảo luận về vấn đề này với chúng ta. Tôi nói với họ: “Các đồng chí, nếu các đồng chí tiếp tục gây áp lực với Lào bằng cách này, thì lực lượng của họ sẽ hoàn toàn tan rã. Bây giờ họ phải được phép tiến hành chiến tranh du kích“.
Trương Văn Thiên (Zhang Wentian), người trước đó là Tổng Thư ký [Đảng Cộng sản Trung Quốc] và sử dụng bút danh Lạc Phú, trả lời tôi: “Vâng, các đồng chí, điều các đồng chí nói đúng. Hãy để chúng tôi cho phép tiểu đoàn đó của Lào đảm nhiệm chiến tranh du kích“.
Ngay lập tức, tôi hỏi Trương Văn Thiên: “Các đồng chí, nếu các đồng chí cho phép Lào gánh vác chiến tranh du kích, thì không có gì phải sợ việc phát động chiến tranh du kích ở miền Nam Việt Nam. Điều gì làm cho các đồng chí sợ đến nỗi các đồng chí ngăn cản hành động như thế?”
Ông ta [Trương Văn Thiên] đã nói: “Không có gì phải sợ!”
Trương Văn Thiên đã nói thế. Tuy nhiên, Ho Wei, Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam lúc đó, đã ngồi ở đó và nghe điều đã nói. Ngay lập tức, ông ta điện cho Trung Quốc (báo cáo điều Lê Duẩn và Trương Văn Thiên đã nói). Ngay lập tức, Mao trả lời: “Việt Nam không thể phát động chiến tranh du kích ở miền Nam. Việt Nam phải nằm chờ trong một thời gian dài!” Chúng ta rất nghèo. Làm sao chúng ta có thể đánh Mỹ nếu không có Trung Quốc làm căn cứ hậu tập? Nên chúng ta phải nghe theo họ, đúng không?
Tuy nhiên, chúng ta đã không đồng ý. Chúng ta đã bí mật tiếp tục phát triển lực lượng. Khi [Ngô Đình] Diệm kéo lê máy chém khắp miền Nam Việt Nam, chúng ta đã ban hành lệnh thành lập lực lượng quần chúng để chống lại lệnh đã được lập và nắm quyền [từ chính phủ Diệm]. Chúng ta đã không chú ý [đến Trung Quốc].
Khi cuộc nổi dậy giành chính quyền bắt đầu, chúng tôi đi Trung Quốc để gặp Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình. Đặng Tiểu Bình đã nói với tôi: “Đồng chí, bây giờ sai lầm của đồng chí đã xảy ra rồi, đồng chí chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống“. Đó là áp lực mà họ đã áp đặt lên chúng ta.
Tôi nói [với Trung Quốc]: “Vâng, vâng! tôi sẽ làm điều đó. Tôi sẽ chỉ chiến đấu ở mức một trung đội trở xuống“.
Sau khi chúng ta chiến đấu và Trung Quốc nhận ra rằng chúng ta có thể chiến đấu hiệu quả, đột nhiên Mao có suy nghĩ mới. Ông ta nói rằng, vì Mỹ đánh chúng ta, ông ta sẽ đưa quân đội [Trung Quốc] đến giúp chúng ta xây dựng đường xá. Mục tiêu chính của ông ta là tìm hiểu tình hình đất nước ta để sau này ông ta có thể tấn công chúng ta và từ đó mở rộng xuống khu vực Đông Nam Á. Không có lý do nào khác.
Chúng tôi biết rõ ý đồ này, nhưng phải cho phép họ (sự xâm nhập của quân đội Trung Quốc). Thôi thì cũng được. Nhưng họ quyết định đưa quân vào. Tôi yêu cầu họ chỉ gửi người, nhưng quân lính của họ đã đến cùng với súng đạn. Tôi cũng phải chịu điều này.
Sau đó, ông ta (Mao Trạch Đông) bắt chúng ta phải nhận 20.000 quân của ông ta đến xây một con đường từ Nghệ Tĩnh vào Nam Bộ (thuật ngữ tiếng Việt chỉ miền Nam Việt Nam). Tôi từ chối. Họ tiếp tục yêu cầu nhưng tôi không nhượng bộ. Họ gây áp lực với tôi cho quân của họ vào nhưng tôi đã không chấp thuận. Họ tiếp tục gây sức ép nhưng tôi vẫn không chịu.
Tôi đưa ra những ví dụ này để các đồng chí thấy họ có âm mưu cướp nước ta từ lâu và âm mưu đó ác độc như thế nào.
- Sau khi Mỹ đưa hàng trăm ngàn quân vào miền Nam Việt Nam, chúng ta đã phát động cuộc tổng tấn công vào năm 1968 để buộc họ giảm leo thang. Để đánh bại Hoa Kỳ, một điều cần phải biết là làm thế nào để họ từ từ giảm leo thang. Đó là chiến lược của chúng ta. Chúng ta chiến đấu chống một kẻ thù lớn, kẻ thù với dân số 200 triệu người và thống trị thế giới. Nếu chúng ta không thể làm cho họ giảm leo thang từng bước, thì chúng ta sẽ thất bại và không thể tiêu diệt kẻ thù. Chúng ta phải đấu tranh để làm nhụt ý chí họ để buộc họ phải đi đến bàn đàm phán với chúng ta mà không cho phép họ đưa thêm quân.
Đến lúc họ muốn thương lượng với chúng ta, Ho Wei đã viết một bức thư cho chúng tôi, nói rằng: “Các ông không thể ngồi xuống đàm phán với Hoa Kỳ. Các ông phải đưa quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam để đánh với họ“. Ông ta gây áp lực với chúng tôi cách này, làm cho chúng tôi bối rối vô cùng. Đây không phải là vấn đề hoàn toàn đơn giản. Rất là mệt mỏi mỗi khi tình huống như thế phát sinh [với Trung Quốc].
Chúng tôi quyết định không thực hiện cách đó (nói đến lời khuyên của Hồ Wei không đàm phán với Hoa Kỳ). Chúng tôi phải ngồi xuống ở Paris. Chúng tôi phải làm cho họ (Mỹ) giảm leo thang để đánh bại họ. Trong thời gian đó, Trung Quốc đã thông báo [với Mỹ]: “Nếu các ông không tấn công tôi, tôi sẽ không tấn công các ông. Nhưng rất nhiều quân lính mà các ông muốn đưa vào Việt Nam, tùy các ông“. Trung Quốc nhất trí điều này và đã gây áp lực với chúng tôi bằng cách đó.
Họ (Trung Quốc) đã trao đổi nhiều với Mỹ và ép buộc chúng ta phục vụ như là một con bài để mặc cả theo cách này. Khi người Mỹ nhận ra rằng họ đã thua trận, ngay lập tức, họ sử dụng Trung Quốc để [tạo điều kiện] rút quân [ở miền Nam Việt Nam]. Nixon và Kissinger đã đến Trung Quốc để thảo luận vấn đề này.
- Trước khi Nixon đi Trung Quốc, [mục đích chuyến đi của ông ta là] giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách đó, để phục vụ lợi ích của Mỹ và giảm bớt thất bại của Mỹ, cũng như cùng lúc cho phép ông ta lôi kéo Trung Quốc về phía Mỹ. Chu Ân Lai đã đến gặp tôi. Chu Ân Lai nói với tôi: “Lúc này, Nixon đến gặp tôi chủ yếu là thảo luận về vấn đề Việt Nam, do vậy tôi phải đến gặp đồng chí để thảo luận điều đó với đồng chí“.
Tôi trả lời: “Đồng chí, đồng chí có thể nói bất cứ điều gì đồng chí thích, nhưng tôi không nghe theo đồng chí. Đồng chí là người Trung Quốc, tôi là người Việt. Việt Nam là của tôi (đất nước của tôi), hoàn toàn không phải của các đồng chí. Các đồng chí không có quyền nói [về vấn đề Việt Nam] và các đồng chí không có quyền thảo luận [các vấn đề đó với Mỹ]. Hôm nay, các đồng chí, chính tôi sẽ nói với các đồng chí điều mà thậm chí tôi chưa hề nói với Bộ Chính trị, rằng đồng chí đã nêu ra vấn đề nghiêm trọng và vì thế tôi phải nói:
- Năm 1954, khi chúng tôi giành chiến thắng tại Điện Biên Phủ, tôi đã ở [tỉnh] Hậu Nghĩa. Bác Hồ đã điện nói với tôi rằng, tôi phải vào miền Nam để tập hợp [các lực lượng ở đó] và nói chuyện với đồng bào miền Nam [về vấn đề này]. Tôi đi bằng xe tải vào miền Nam. Trên đường đi, đồng bào ra chào đón tôi vì họ nghĩ rằng chúng tôi đã giành chiến thắng. Đau đớn vô cùng! Nhìn đồng bào miền Nam, tôi đã khóc. Vì sau đó, Hoa Kỳ sẽ đến và tàn sát [người dân] một cách khủng khiếp.
Khi vừa tới miền Nam, ngay lập tức, tôi đã điện cho Bác Hồ để xin ở lại [miền Nam] và không trở lại miền Bắc để tôi có thể đánh thêm mười năm nữa hoặc hơn. Đồng chí đã gây khó khăn cho tôi như thế này (muốn nói đến vai trò của Chu Ân Lai trong việc chia cắt Việt Nam tại Geneva năm 1954), đồng chí có biết không“?
Chu Ân Lai nói: “Tôi xin lỗi đồng chí. Tôi đã sai. Điều đó tôi sai” (muốn nói đến sự chia cắt Việt Nam tại Geneva). Sau khi Nixon rời khỏi Trung Quốc, một lần nữa, ông ta (Chu Ân Lai) đến Việt Nam để hỏi tôi về một số vấn đề liên quan đến cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, ngay lập tức, tôi nói với Chu Ân Lai: “Nixon đã gặp các đồng chí rồi. Chẳng bao lâu nữa, họ (Hoa Kỳ) sẽ tấn công chúng tôi thậm chí còn mạnh hơn“.
Tôi hoàn toàn không sợ. Cả hai (Mỹ và Trung Quốc) đã thương lượng với nhau để đánh tôi mạnh hơn. Ông ta (Chu Ân Lai) đã không bác bỏ quan điểm này là vô căn cứ và chỉ nói rằng: “Tôi sẽ gửi thêm súng đạn cho các đồng chí“.
Sau đó ông ta (Chu Ân Lai) nói (về mối lo ngại âm mưu bí mật Trung – Mỹ): “Không có điều đó“. Tuy nhiên, hai bên đã thảo luận làm thế nào để đánh chúng ta mạnh hơn, gồm các cuộc tấn công bằng bom B-52 và phong tỏa cảng Hải Phòng. Rõ ràng là như thế.
– Nếu Liên Xô và Trung Quốc đã không mâu thuẫn với nhau, thì Hoa Kỳ không thể tấn công chúng ta quyết liệt như họ đã tấn công. Khi hai [cường quốc Trung Quốc và Liên Xô] xung đột, người Mỹ đã không bị [phe đối lập là khối xã hội chủ nghĩa] cản trở. Mặc dù Việt Nam có thể thống nhất và đoàn kết với cả Trung Quốc lẫn Liên Xô, để đạt được điều này rất phức tạp, lúc đó chúng ta phải dựa vào Trung Quốc nhiều thứ. Lúc đó, hàng năm Trung Quốc cung cấp viện trợ 500.000 tấn thực phẩm, cũng như súng ống, đạn dược, tiền bạc, chưa kể đến viện trợ đô la. Liên Xô cũng đã giúp bằng cách này. Nếu chúng ta không thể làm điều đó (đoàn kết và thống nhất với Trung Quốc và Liên Xô), mọi thứ sẽ rất nguy hiểm.
Mỗi năm tôi đã phải đi Trung Quốc hai lần để nói chuyện với họ (lãnh đạo Trung Quốc) về [các sự kiện] ở miền Nam Việt Nam. Về phía Liên Xô, tôi không phải nói gì cả (về tình hình ở miền Nam Việt Nam). Tôi chỉ nói một cách chung chung. Khi giao thiệp với Trung Quốc, tôi đã phải nói rằng cả hai [nước] đang đánh Mỹ. Tôi đã đi một mình. Tôi phải có mặt về vấn đề này. Tôi đã đến đó và nói chuyện với họ nhiều lần bằng cách này, mục đích chính là để xây dựng quan hệ gần gũi hơn giữa hai bên (nghĩa là Trung Quốc và Việt Nam). Chính xác là vào thời điểm đó Trung Quốc gây áp lực với chúng ta để xa lánh Liên Xô, cấm chúng ta không được đi với Liên Xô.
Họ đã làm rất căng. Đặng Tiểu Bình, cùng với Khang Sinh đã đến và nói với tôi: “Đồng chí, tôi sẽ giúp đồng chí vài tỷ [có lẽ là nhân dân tệ] mỗi năm. Đồng chí không thể nhận bất cứ thứ gì từ Liên Xô“.
Tôi không đồng ý điều này. Tôi nói: “Không, chúng ta phải đoàn kết và thống nhất với toàn bộ phe [xã hội chủ nghĩa]“.
Năm 1963, khi Khrushchev phạm sai lầm, ngay lập tức [Trung Quốc] ban hành một tuyên bố 25 điểm và mời đảng chúng ta đến cho ý kiến . Anh Trường Chinh và tôi đã đi cùng với một số anh em khác. Trong cuộc thảo luận, họ (Trung Quốc) lắng nghe chúng tôi đến, hình như là điểm thứ 10, nhưng khi đến điểm “không từ bỏ phe xã hội chủ nghĩa”, họ đã không nghe… Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi chịu trách nhiệm về tài liệu của chính tôi, tôi muốn nghe ý kiến của các đồng chí, nhưng tôi không chấp nhận quan điểm này của các đồng chí“.
Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi sẽ là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á“. Đặng Tiểu Bình cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Chủ yếu là vì nông dân nghèo, trong tình cảnh khó khăn cùng cực!”
Khi chúng tôi ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Đó anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á. Bây giờ đã rõ rồi“. Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam!
Tôi sẽ nói với các đồng chí nhiều hơn để các đồng chí có thể thấy thêm về tầm quan trọng quân sự trong vấn đề này.
Mao hỏi tôi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?
Tôi trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Dân số của họ bao nhiêu?
Tôi trả lời: Khoảng 3 triệu!
Mao nói: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà!
Mao hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?
Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Có bao nhiêu người?
Tôi trả lời: Khoảng 40 triệu!
Mao nói: Lạy Chúa! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!
Đối với Việt Nam, họ không dám nói về việc đưa người tới theo cách này. Tuy nhiên, ông ta (Mao) nói với tôi: “Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta hỏi: “Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta nói: “Và quân Minh nữa, phải không?” Tôi nói: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi đánh các ông luôn. Các ông có biết điều đó không?“
Tôi đã nói với Mao Trạch Đông như thế. Ông ta nói: “Có, có!” Ông ta muốn chiếm Lào, cả Thái Lan, cũng như muốn chiếm tất cả các nước Đông Nam Á. Đưa người dân đến sống ở đó. Quan điểm đó thật là phức tạp.
Trong quá khứ (nói đến vấn đề có thể xuất phát từ mối đe dọa của Trung Quốc trong thời gian này), chúng ta đã chuẩn bị rất nhiều, không phải là chúng ta không chuẩn bị. Nếu chúng ta không chuẩn bị, tình hình gần đây sẽ rất nguy hiểm. Không phải là vấn đề đơn giản.
Mười năm trước, tôi đã triệu tập các anh em trong quân đội đến gặp tôi. Tôi nói với họ rằng Liên Xô và Mỹ mâu thuẫn với nhau. Đối với Trung Quốc, họ đã bắt tay với đế quốc Mỹ. Trong tình hình căng thẳng này, các đồng chí phải nghiên cứu vấn đề này ngay lập tức. Tôi sợ rằng quân đội không hiểu ý tôi, nên tôi nói với họ rằng, không có cách nào khác để hiểu vấn đề này. Nhưng họ vẫn thấy khó hiểu. Hoàn toàn không dễ. Nhưng tôi không thể nói bằng cách nào khác. Và tôi đã không cho phép những kẻ khác túm lấy tôi.
Khi tôi đến Liên Xô, Liên Xô cũng làm khó tôi về Trung Quốc. Liên Xô đã triệu tập một cuộc họp gồm 80 đảng [cộng sản] để hỗ trợ Việt Nam, nhưng Việt Nam không tham dự hội nghị này, vì [buổi hợp này] không chỉ đơn giản chỉ nhằm giúp Việt Nam, mà còn có mục đích lên án Trung Quốc. Nên Việt Nam đã không đi.
Liên Xô nói: “Bây giờ các đồng chí bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế [hay] là cái gì? Tại sao các đồng chí làm điều này?” Tôi nói: “Tôi hoàn toàn không bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế. Tôi không bao giờ làm điều này. Tuy nhiên, để là người quốc tế, trước tiên phải đánh bại Mỹ. Và nếu một nước muốn đánh bại Mỹ, thì phải có sự thống nhất và đoàn kết với Trung Quốc. Nếu tôi đến hội nghị này, thì Trung Quốc sẽ gây nhiều khó khăn lớn với chúng tôi. Các đồng chí, hãy hiểu cho tôi“.
Tại Trung Quốc cũng có nhiều ý kiến và tranh luận khác nhau. Chu Ân Lai đồng ý việc hình thành một mặt trận với Liên Xô để chống Mỹ. Một lần, khi tôi đi Liên Xô để dự lễ kỷ niệm quốc gia, tôi có đọc một bức điện Trung Quốc gửi sang Liên Xô, nói rằng: “Bất cứ khi nào có ai đó tấn công Liên Xô, thì Trung Quốc sẽ đứng bên cạnh các bạn“. Đó là vì đã có một hiệp ước hữu nghị giữa Liên Xô và Trung Quốc từ thời trước đó (tháng 2 năm 1950).
Ngồi cạnh Chu Ân Lai, tôi hỏi ông ta: “Trong bức điện gửi đến Liên Xô gần đây, đồng chí đồng ý thành lập một mặt trận với Liên Xô, nhưng tại sao các đồng chí không thành lập một mặt trận chống Mỹ?” Chu Ân Lai nói: “Chúng tôi có thể thành lập mặt trận chống Mỹ. Tôi chia sẻ quan điểm đó. Các đồng chí, tôi sẽ thành lập một mặt trận với các đồng chí [Việt Nam]“. Bành Chân cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Quan điểm này cực kỳ chính xác!” Nhưng khi vấn đề được thảo luận tại Thượng Hải, Mao nói là không thể và hủy bỏ nó. Các đồng chí thấy nó phức tạp như thế nào.
Mặc dù Chu Ân Lai giữ vững một số quan điểm này, ông ta dù sao cũng đồng ý xây dựng một mặt trận và [ông ta] đã giúp Việt Nam rất nhiều. Cám ơn ông ta rằng tôi có thể hiểu [nhiều về những gì đang diễn ra ở Trung Quốc]. Nếu không thì sẽ rất nguy hiểm. Có lần, ông ta nói với tôi: “Tôi đang làm hết sức mình để tồn tại ở đây, sử dụng Li Chiang tích lũy và hỗ trợ cho các đồng chí“. Thì ra vậy (tức là Chu Ân Lai đã sử dụng Li Chiang, để giúp người Việt Nam). Có nghĩa là, không có Chu Ân Lai, điều này sẽ hoàn toàn không thể xảy ra. Tôi đang mắc nợ ông ta.
Tuy nhiên, không đúng để nói rằng các lãnh đạo khác của Trung Quốc hoàn toàn chia sẻ quan điểm của Chu Ân Lai. Họ khác nhau nhiều thứ. Phải nói rằng, người kiên quyết nhất là người có tinh thần Đại Hán và là người muốn chiếm Đông Nam Á, đó chính là Mao Trạch Đông. Tất cả các chính sách [của Trung Quốc] đều nằm trong tay ông ta.
Điều tương tự cũng áp dụng đối với các nhà lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng ta không biết tương lai sẽ ra sao, [sự thật của vấn đề là] họ đã tấn công chúng ta. Trong quá khứ, Đặng Tiểu Bình đã làm hai điều mà hiện đang bị đảo lộn. Đó là, khi chúng ta giành chiến thắng ở miền Nam Việt Nam, nhiều [lãnh đạo] Trung Quốc không hài lòng. Tuy nhiên, dù sao Đặng Tiểu Bình cũng chúc mừng chúng ta. Vì lý do này, ngay lập tức ông ta đã bị những người khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.
Khi tôi đi Trung Quốc lần cuối, tôi dẫn đầu phái đoàn, và tôi đã gặp phái đoàn Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình đứng đầu. Khi nói về vấn đề lãnh thổ, gồm cả việc thảo luận về một số hòn đảo, tôi nói: “Hai đất nước chúng ta ở gần nhau, Có một số vùng lãnh thổ của chúng ta vẫn chưa được xác định rõ ràng. Hai bên nên thành lập các cơ quan để xem xét vấn đề này. Các đồng chí, làm ơn đồng ý với tôi [về vấn đề này]”. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) đồng ý, nhưng sau khi làm như vậy, ngay lập tức ông ta bị nhóm lãnh đạo khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.
Nhưng bây giờ ông ta (Đặng Tiểu Bình) điên rồi. Bởi vì ông ta muốn cho mọi người thấy rằng ông ta không phải là người theo chủ nghĩa xét lại, cho nên ông ta đã tấn công Việt Nam mạnh hơn. Ông ta để cho họ tiếp tục tấn công Việt Nam.
Sau khi đánh bại Mỹ, chúng ta giữ lại hơn một triệu quân, các đồng chí lãnh đạo Liên Xô hỏi chúng tôi: “Các đồng chí định đánh với ai mà giữ lại một đội quân thường trực lớn như vậy?” Tôi nói: “Sau này, các đồng chí sẽ hiểu“. Lý do duy nhất chúng ta giữ quân đội thường trực như thế là vì mối đe dọa của Trung Quốc đối với Việt Nam. Nếu không có [một mối đe dọa như thế], thì điều này (quân đội thường trực lớn) sẽ không cần. Gần đây, bị tấn công trên hai mặt trận, [chúng ta có thể thấy rằng] rất nguy hiểm nếu chúng ta đã không được duy trì một đội quân lớn.
(B) (Ý nghĩa của chữ “B” này trong văn bản gốc không rõ ràng) – Sau Đệ nhị Thế chiến, tất cả mọi người tin rằng tên sen đầm quốc tế là đế quốc Mỹ. Họ có thể tiếp quản và bắt nạt cả thế giới. Tất cả các nước, gồm các nước lớn đều sợ Mỹ. Chỉ có Việt Nam là không sợ Mỹ.
Tôi hiểu vấn đề này vì công việc đã dạy tôi. Người đầu tiên sợ [Mỹ] là Mao Trạch Đông. Ông ta nói với tôi, đó là, Việt Nam và Lào, rằng: “Ngay lập tức, các ông phải chuyển giao hai tỉnh của Lào đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu các ông không làm như vậy, thì Mỹ sẽ sử dụng điều đó làm lý do tấn công. Đó là mối nguy lớn”. Về phía Việt Nam, chúng tôi đã nói: “Chúng ta phải chiến đấu chống Mỹ để giải phóng miền Nam Việt Nam“. Ông ta (Mao) nói: “Các ông không thể làm điều đó. Miền Nam Việt Nam phải nằm đợi trong một thời gian dài, đợi một đời, 5-10 đời hoặc thậm chí 20 đời kể từ bây giờ. Các ông không thể đánh Mỹ. Đánh Mỹ là nguy hiểm“. Mao Trạch Đông đã sợ Mỹ đến mức độ đó…
Nhưng Việt Nam không sợ. Việt Nam đã tiếp tục chiến đấu. Nếu Việt Nam không đánh Mỹ thì miền Nam Việt Nam sẽ không được giải phóng. Một đất nước chưa được giải phóng sẽ vẫn là một đất nước lệ thuộc. Không ai có được độc lập nếu chỉ có một nửa đất nước được tự do. Không có được độc lập cho đến năm 1975, đất nước chúng ta cuối cùng có được độc lập hoàn toàn. Có độc lập, tự do sẽ đến. Tự do phải là tự do cho cả nước Việt Nam …
Engels đã nói về chiến tranh nhân dân. Sau đó, Liên Xô, Trung Quốc và chính chúng ta cũng đã nói [về vấn đề này]. Tuy nhiên, ba nước rất khác về nội dung [chiến tranh nhân dân]. Không đúng là chỉ vì các bạn có hàng triệu người, thì các bạn có thể làm bất cứ điều gì các bạn muốn. Trung Quốc cũng nói đến chiến tranh nhân dân, tuy nhiên, [họ cho rằng] “khi kẻ thù tiến lên, thì chúng ta phải rút lui“. Nói cách khác, phòng thủ là chính, và chiến tranh được chia thành ba giai đoạn, vùng nông thôn được sử dụng để bao vây thành thị, trong khi [các lực lượng chính] chỉ ở lại trong rừng núi… Người Trung Quốc ở thế phòng thủ và rất yếu [trong Đệ nhị Thế chiến]. Ngay cả với 400 triệu người đọ sức với quân đội Nhật Bản có 300.000 – 400.000 quân, Trung Quốc vẫn không thể đánh bại họ.
Tôi phải lặp lại điều này như thế, vì trước khi Trung Quốc gửi cố vấn cho chúng ta, một số anh em Việt Nam chúng ta không hiểu. Họ nghĩ rằng [Trung Quốc] rất có khả năng. Nhưng họ không có kỹ năng và do đó chúng ta đã không làm theo [những lời khuyên của Trung Quốc].
Năm 1952, tôi rời miền Bắc sang Trung Quốc vì tôi bị bệnh và cần điều trị. Đây là lần đầu tiên tôi đi nước ngoài. Tôi đặt câu hỏi cho họ (Trung Quốc) và thấy nhiều điều rất lạ. Có những khu vực [đã bị] quân Nhật chiếm đóng, mỗi khu có dân số khoảng 50 triệu người, nhưng không có lấy một chiến binh du kích…
Khi tôi từ Trung Quốc trở về, tôi đã gặp Bác [Hồ]. Bác hỏi tôi:
- Đây là lần đầu tiên chú đi ra nước ngoài, phải không?
Vâng, đây là lần đầu tiên tôi đi ra nước ngoài.
- Chú đã thấy gì?
Tôi thấy hai điều: Việt Nam rất dũng cảm và họ (Trung Quốc) không dũng cảm chút nào.
Tôi hiểu điều này kể từ ngày đó. Chúng ta (Việt Nam) hoàn toàn khác với họ. Lòng can đảm vốn có trong con người Việt Nam và do đó chúng ta chưa bao giờ có một chiến lược phòng thủ (ý nói ở thế thủ). Mọi người dân chiến đấu.
Gần đây, họ (Trung Quốc) đã mang hàng trăm ngàn quân vào xâm chiếm nước ta. Hầu hết, chúng ta đã sử dụng lực lượng dân quân và quân đội trong vùng để tấn công họ. Chúng ta không ở thế thủ và do đó họ phải lùi bước. Họ không thể quét sạch dù một trung đội Việt Nam, trong khi chúng ta đã xóa sổ vài trung đoàn và hàng chục tiểu đoàn của họ. Có được như vậy là vì chiến lược tấn công của chúng ta.
Đế quốc Mỹ đã đánh với chúng ta trong một cuộc chiến kéo dài. Họ rất mạnh, nhưng họ đã thua. Nhưng có một yếu tố đặc biệt, đó là những mâu thuẫn gay gắt giữa Trung Quốc và Liên Xô. [Vì điều này,] họ đã tấn công chúng ta mạnh như thế này.
… Việt Nam đã chiến đấu chống Mỹ, và đã chiến đấu rất quyết liệt, nhưng chúng ta biết rằng Hoa Kỳ là một nước rất lớn, khả năng tích lũy hơn 10 triệu quân và đưa tất cả các loại vũ khí được xem là mạnh của họ vào để đánh chúng ta. Vì vậy, chúng ta đã phải chiến đấu trong một thời gian dài để làm cho cho họ giảm leo thang. Chúng ta là những người có thể làm được điều đó, Trung Quốc thì không thể. Khi quân đội Mỹ tấn công Quong Tre (Quảng Trị?), ngay lập tức Bộ Chính trị ra lệnh đưa quân đội vào chiến đấu. Chúng ta không sợ.
Sau đó tôi đi Trung Quốc gặp Chu Ân Lai. Ông ta nói với tôi: “Điều đó (cuộc tấn công vào Quảng Trị) có lẽ là chưa từng có, có một không hai. Chỉ có một [cơ hội] trên đời này, không có cơ hội thứ hai. Không ai dám làm những điều các đồng chí đã làm“.
… Chu Ân Lai là người đứng đầu Bộ Tham mưu. Ông ta dám nói, ông ta thẳng thắn hơn. Ông ta nói với tôi: “Nếu tôi biết trước cái cách mà các đồng chí sử dụng, chúng tôi không cần Vạn lý Trường chinh“.
Vạn lý Trường chinh là gì? Vào đầu cuộc hành quân có 300.000 quân, đến cuối Vạn lý Trường chinh chỉ còn 30.000 quân. 270.000 người đã chết. Thực sự ngu ngốc khi thực hiện cách này. Nói như vậy để các đồng chí biết chúng ta đang đi trước họ như thế nào. Trong tương lai không xa, nếu chúng ta chiến đấu chống lại Trung Quốc, chúng ta chắc chắn sẽ giành chiến thắng … Tuy nhiên, sự thật là nếu một nước khác [không phải Việt Nam] chiến đấu chống lại Trung Quốc, không rõ họ có giành được chiến thắng như thế này không (như Việt Nam).
… Nếu Trung Quốc và Liên Xô thống nhất với nhau, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta hay không. Nếu hai nước thống nhất và liên kết với nhau để giúp chúng ta, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta cái cách mà họ đã đánh. Họ sẽ do dự ngay từ đầu. Họ sẽ do dự như thời Kennedy. Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô, tất cả đã giúp Lào và ngay lập tức Mỹ ký một hiệp ước với Lào. Họ không dám gửi quân Mỹ sang Lào, họ để cho Đảng [Nhân dân Cách mạng] Lào tham gia chính phủ ngay lập tức. Họ không dám tấn công Lào nữa.
Sau đó, khi hai nước [Liên Xô và Trung Quốc] xung đột với nhau, Mỹ được [Trung Quốc] thông báo là họ có thể tiến tới và tấn công Việt Nam mà không sợ. Đừng sợ [sự trả đũa của Trung Quốc]. Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông đã nói với Mỹ: “Nếu các ông không tấn công tôi, thì tôi sẽ không tấn công các ông. Các ông có thể đưa nhiều quân vào miền Nam Việt Nam mà các ông muốn. Tùy các ông“.
… Hiện tại, chúng ta có biên giới với một nước rất mạnh, một nước với ý đồ bành trướng mà nếu muốn được thực hiện, phải bắt đầu với một cuộc xâm lược Việt Nam. Vì vậy, chúng ta phải chung vai gánh vác, vai trò lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta chưa bao giờ trốn tránh trách nhiệm lịch sử. Trước đây, Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ của mình, và lần này Việt Nam xác định không cho phép họ bành trướng. Việt Nam giữ độc lập riêng mình và làm như vậy cũng là để bảo vệ nền độc lập của các nước Đông Nam Á. Việt Nam kiên quyết không để Trung Quốc thực hiện âm mưu bành trướng. Trận đánh gần đây [với Trung Quốc] chỉ là vòng một. Hiện họ vẫn còn chuẩn bị nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bất kể họ chuẩn bị đến mức độ nào, Việt Nam cũng sẽ thắng …
Tiến hành chiến tranh không phải là đi bộ thong thả trong rừng. Gửi một triệu quân vào cuộc chiến chống lại một nước ở bên ngoài liên quan đến vô số khó khăn. Gần đây họ đưa 500.000 – 600.000 binh lính để đánh chúng ta, nhưng họ đã không có thiết bị vận tải đầy đủ để cung cấp lương thực cho quân đội của họ. Trung Quốc hiện đang chuẩn bị 3,5 triệu quân, nhưng họ phải để lại một nửa số quân đó ở biên giới [Trung-Xô] để ngăn chặn Liên Xô. Vì lý do đó, nếu họ đưa 1 hoặc 2 triệu quân vào để đánh chúng ta, chúng ta sẽ không sợ bất cứ điều gì. Chúng ta chỉ có 600.000 quân tham gia, và trong tương lai gần, nếu chúng ta phải đánh với 2 triệu quân, sẽ không có vấn đề gì cả. Chúng ta không sợ.
Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta biết cách đánh. Nếu họ đưa 1 triệu quân, họ sẽ chỉ giành được một chỗ đứng ở miền Bắc. Đi xuống vùng trung du, vùng đồng bằng và Hà Nội và thậm chí xuống dưới sẽ khó khăn hơn nữa.
Các đồng chí, như các đồng chí biết, bọn Hitler tấn công quyết liệt theo cách này, nhưng khi họ (Đức Quốc xã) đến Leningrad, họ không thể vào được. Với thành phố, người dân và các công trình phòng thủ, không thể nào thực hiện các cuộc tấn công hiệu quả chống lại mỗi người và mọi người. Thậm chí đánh trong hai, ba hoặc bốn năm, họ vẫn không thể vào. Mỗi làng ở đó (ở miền Bắc) thì giống như thế. Đường lối của chúng ta là: mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và họ sẽ không thể nào vào được cả.
Tuy nhiên, không bao giờ đủ khi chỉ đánh kẻ thù ở tiền tuyến. Phải có một đội quân hậu tập trực tiếp mạnh mẽ. Sau trận đánh gần đây kết thúc, chúng tôi đánh giá rằng, trong tương lai không xa, chúng ta phải đưa thêm vài triệu người đến mặt trận phía Bắc. Nhưng kẻ thù đến từ phía bắc, hậu phương trực tiếp cho cả nước phải là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh … Hậu phương trực tiếp bảo vệ thủ đô phải là Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Chúng ta có đủ người. Chúng ta có thể đánh chúng bằng nhiều cách … Chúng ta có thể sử dụng 2-3 quân đoàn để giánh một cú mạnh vào chúng, sẽ làm cho chúng lảo đảo, trong khi chúng ta tiếp tục giữ đất của chúng ta. Để đạt được mục đích này, mỗi người lính phải là một người lính thực và mỗi đội phải là một đội hình thực sự.
- Bây giờ đã đánh xong một trận rồi, chúng ta không nên chủ quan. Chủ quan và đánh giá thấp kẻ thù là sai lầm, nhưng thiếu tự tin cũng sai. Chúng ta không chủ quan, chúng ta không đánh giá thấp kẻ thù. Nhưng chúng ta cũng tự tin và vững tin vào chiến thắng của chúng ta. Chúng ta cần phải có cả hai điều này.
- Bây giờ Trung Quốc có âm mưu đánh [chúng ta] để mở rộng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay họ không thể đánh và dọn dẹp một cách dễ dàng. Trung Quốc chỉ đánh Việt Nam có vài ngày mà cả thế giới đã hét lên: “Không được đụng đến Việt Nam“! Thời đại hiện nay không giống như thời xưa. Trong những ngày này, không chỉ có chúng ta và họ (muốn nói Trung Quốc). Bây giờ cả thế giới đang gắn chặt với nhau. Loài người vẫn chưa hoàn toàn đi vào giai đoạn xã hội chủ nghĩa, nhưng đây là lúc mọi người đều muốn độc lập và tự do. [Ngay cả] trên các đảo nhỏ, người dân cũng muốn độc lập, tự do.
Cả nhân loại hiện nay như thế. Điều đó là rất khác với thời xưa. Thời đó, người dân chưa nhận thức rõ những điều này. Do đó, câu của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là một ý tưởng của thời đại hiện nay. Đụng đến Việt Nam là đụng đến nhân loại và xâm phạm độc lập, tự do … Việt Nam là một quốc gia tượng trưng cho độc lập và tự do.
- Khi phải chiến đấu chống Mỹ, anh em chúng ta trong Bộ Chính trị đã thảo luận với nhau về vấn đề này, cân nhắc liệu chúng ta có dám đánh Mỹ hay không. Tất cả đều đồng ý đánh. Bộ Chính trị đã bày tỏ quyết tâm: để chiến đấu chống Mỹ, chúng ta không sợ Mỹ. Tất cả đều đồng tâm. Khi tất cả đã đồng ý đánh Mỹ, không sợ Mỹ, chúng ta cũng không sợ Liên Xô. Tất cả đều đồng ý. Chúng ta cũng không sợ Trung Quốc. Tất cả đều đồng ý. Nếu chúng ta không sợ ba điều này, chúng ta có thể đánh Mỹ. Đó là cách chúng tôi đã thực hiện trong Bộ Chính trị hồi đó.
Mặc dù Bộ Chính trị đã gặp và tổ chức các buổi thảo luận như thế và mọi người đồng lòng, sau này có một người đã nói với một đồng chí điều mà tôi đã nói. Đồng chí đó đặt câu hỏi cho Bộ Chính trị, hỏi lý do gì mà Anh Ba một lần nữa lại nói rằng, nếu chúng ta muốn đánh Mỹ, thì chúng ta không nên sợ Trung Quốc? Tại sao anh ấy phải nói như vậy nữa?
Lúc đó, anh Nguyễn Chí Thanh, người đã bị nghi là có cảm tình với Trung Quốc, đứng lên và nói: “Kính thưa Bộ Chính trị và kính thưa Bác Hồ, lời phát biểu của Anh Ba là đúng. Phải nói như thế (ý nói không cần phải sợ Trung Quốc), vì họ (Trung Quốc) gây rắc rối cho chúng ta nhiều điều. Họ chặn chúng ta ở chỗ này, rồi họ trói tay chúng ta ở chỗ kia. Họ không cho chúng ta đánh…“
Trong khi chúng ta đánh ở miền Nam Việt Nam, Đặng Tiểu Bình quy định rằng tôi chỉ có thể đánh ở mức trung đội trở xuống và không được đánh ở mức cao hơn. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) nói: “Ở miền Nam, do các ông phạm sai lầm về việc đã khởi động đánh trước, các ông chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống, không được đánh ở mức cao hơn“. Họ gây áp lực lên chúng ta như thế.
- Chúng ta không sợ ai cả. Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta có lẽ phải. Chúng ta không sợ ngay cả anh trai của chúng ta. Chúng ta cũng không sợ bạn bè của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta không sợ kẻ thù của chúng ta. Chúng ta đã đánh họ rồi. Chúng ta là con người, chúng ta không sợ bất cứ ai. Chúng ta độc lập. Cả thế giới biết chúng ta độc lập.
Chúng ta phải có một quân đội mạnh mẽ, bởi vì đất nước chúng ta đang bị đe dọa và bị bắt nạt … Không thể khác được. Nếu không, thì sẽ nguy hiểm vô cùng, nhưng đất nước chúng ta nghèo.
- Chúng ta có một quân đội mạnh, điều đó không có cách nào làm nhụt chí chúng ta. Có một số chính sách của Trung Quốc đối với chúng ta: xâm lược và chiếm đóng nước ta, tìm cách làm suy yếu chúng ta về kinh tế và làm cho điều kiện sống của chúng ta khó khăn. Vì những lý do này, để chống lại Trung Quốc, trước hết, chúng ta phải, không những chiến đấu, mà còn làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn. Để đạt được mục đích này, theo tôi, quân đội của chúng ta không nên là một lực lượng lãng phí nguồn lực của nhà nước, mà nên là một lực lượng sản xuất mạnh mẽ. Khi kẻ thù đến, họ (những người lính) cầm súng ngay lập tức. Khi không có kẻ thù, thì họ sẽ sản xuất đàng hoàng. Họ sẽ là biểu tượng tốt nhất và cao nhất trong sản xuất, sản xuất nhiều hơn bất cứ người nào khác. Dĩ nhiên, đó không phải là một câu chuyện mới …
- Hiện nay, trên vai quân đội của chúng ta đang gánh vác một nhiệm vụ lịch sử: bảo vệ độc lập và tự do của chúng ta, trong khi cùng lúc bảo vệ hòa bình và độc lập trên toàn thế giới. Nếu chính sách bành trướng của bè lũ phản động Trung Quốc không thể thực hiện được nữa, sẽ là lợi ích của cả thế giới. Việt Nam có thể làm điều này. Việt Nam có 50 triệu người rồi. Việt Nam có những người bạn Lào và Campuchia và có địa thế vững chắc. Việt Nam có phe [XHCN] và tất cả nhân loại đứng về phía ta. Rõ ràng là chúng ta có thể làm điều này.
… Các đồng chí có biết người nào trong đảng chúng ta, trong nhân dân của chúng ta, nghi chúng ta sẽ thua Trung Quốc? Dĩ nhiên là không có ai cả. Nhưng chúng ta phải duy trì các mối quan hệ bạn bè của chúng ta. Chúng ta không muốn hận thù dân tộc. Tôi lặp lại: tôi nói điều này bởi vì tôi chưa bao giờ cảm thấy căm thù Trung Quốc. Tôi không cảm thấy như thế. Đó là họ đánh chúng ta.
Hôm nay tôi cũng muốn các đồng chí biết rằng trong thế giới này, người đã bảo vệ Trung Quốc là chính tôi! Đó là sự thật. Tại sao vậy? Bởi vì trong hội nghị tháng 6 năm 1960 tại Bucharest, 60 đảng đứng lên chống lại Trung Quốc, nhưng chỉ có mình tôi là người bảo vệ Trung Quốc. Việt Nam chúng ta là thế. Tôi sẽ tiếp tục lặp lại điều này: Tuy họ cư xử tồi tệ, chúng ta biết rằng người của họ là bạn của chúng ta. Về phía chúng ta, chúng ta không cảm thấy xấu hổ với Trung Quốc. Tuy nhiên, âm mưu của một số lãnh đạo (Trung Quốc) là một vấn đề khác. Chúng ta coi họ chỉ là một bè lũ. Chúng ta không nói tới đất nước họ. Chúng ta không nói người dân Trung Quốc xấu với chúng ta. Chúng ta nói bè lũ phản động Bắc Kinh. Tôi nói lại điều này một lần nữa một cách nghiêm túc như thế.
Vì vậy, chúng ta hãy kiểm soát tình hình chặt chẽ, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, và không bao giờ nới lỏng sự cảnh giác. Về mối quan hệ với Trung Quốc cũng vậy. Tôi tin rằng trong 50 năm, hoặc thậm chí trong 100 năm, chủ nghĩa xã hội có thể thành công, và lúc đó chúng ta sẽ không bị vấn đề này nữa. Nhưng sẽ mất một thời gian [dài] như thế. Vì vậy, chúng ta phải chuẩn bị và sẵn sàng trên mọi phương diện.
Hiện nay, chắc chắn không ai còn nghi ngờ nữa. Nhưng cách đây năm năm, tôi dám chắc rằng [không có] đồng chí nào nghi ngờ Trung Quốc có thể đánh chúng ta. Nhưng có. Đó là vì các đồng chí [này] không có kiến thức về vấn đề này. Nhưng đó không phải là trường hợp của chúng tôi (Lê Duẩn và ban lãnh đạo). Chúng ta biết rằng Trung Quốc đã và đang tấn công chúng ta [cách đây] mười năm hoặc hơn. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên [về cuộc tấn công của Trung Quốc vào tháng 1 năm 1979].
Theo TRE LÀNG
 http://www.reds.vn/index.php/lich-su/ho-so-tu-lieu/7107-bai-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-le-duan-ve-trung-quoc-1979

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Ottawa Canada: Các nhà lãnh đạo Canada tham dự Lễ Kỷ Niệm Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế giới

Ottawa Canada: Các nhà lãnh đạo Canada tham dự Lễ Kỷ Niệm Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế giới


Bài viết của Anh Tử, phóng viên báo Minh Huệ ở Ottawa, Canada
[MINH HUỆ 08-05-2014] Nhân dịp kỷ niệm 22 năm Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền và 15 năm Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế giới, các nhà lãnh đạo Canada đã tán dương các giá trị Chân – Thiện – Nhẫn, sức mạnh tinh thần và sự quyết tâm của các học viên Pháp Luân Công, cũng như những đóng góp của họ đối với Canada và cả thế giới.
Nghị sỹ Jason Kenny, Bộ trưởng Bộ Lao động và Phát triển Xã hội cùng Bộ trưởng Đa văn hoá và 11 nghị sỹ khác, ông David Kilgour, cựu Quốc vụ khanh phụ trách khu vực Châu Á Thái Bình Dương, đã tham gia cùng với các học viên Pháp Luân Công vào ngày 07 tháng 05 năm 2014 tại toà nhà Nghị viện ở Ottawa, thủ đô của Canada, để mừng lễ kỷ niệm Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế giới.
Các học viên biểu diễn các bài công pháp Pháp Luân Công tại toà nhà Nghị viện ở Ottawa, Canada vào ngày 07 tháng 05 năm 2014.
Jason Kenney: Pháp Luân Đại Pháp thật tuyệt vời
Nghị sỹ Jason Kenney, Bộ trưởng Bộ Lao động và Phát triển Xã hội và Bộ trưởng Đa văn hoá
Ông Kenney bắt đầu bài phát biểu của mình bằng tiếng Hoa: “Chúc mừng! Pháp Luận Đại Pháp thật vĩ đại! Pháp Luận Đại Pháp thật vĩ đại!
Ông đã đọc thư chúc mừng của Thủ tướng Canada ông Stephen Harper gửi tới các học viên Đại Pháp: “Điều các bạn đang yêu cầu ở đây hôm nay là những quyền lợi phổ quát…  Đừng bao giờ xem thường sự tự do mà chúng ta có được ở Canada. Chúng tôi đứng về phía các bạn.”
Nghị sỹ Kenney đã bày tỏ lo ngại về vấn đề mổ cướp nội tạng từ các học viên Pháp Luân Công còn sống của Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Ở Canada mổ cướp nội tạng của con người là bất hợp pháp, và việc người Canada làm điều đó ở nước ngoài cũng là bất hợp pháp. Chúng ta sẽ không bao giờ đồng loã với loại hình khai thác này.”
“Người dân Canada sát cánh cùng các bạn”
Nghị sỹ Brad Butt
“Tính quan trọng của nguyên lý Chân Thiện Nhẫn là tất cả những điều tốt đẹp về đất nước Canada này,” Nghị sỹ Brad Butt tuyên bố: “Hãy duy trì công việc tuyệt vời mà các bạn đang làm, cuộc đấu tranh mà các bạn đang theo đuổi, và hãy nhớ rằng, người dân Canada luôn sát cánh cùng các bạn.”
“Cấp cao nhất của nền văn minh nhân loại”
Nghị sỹ Stephen Woodworth
Nghị sỹ Stephen Woodworth nói: “Tôi thấy rằng những gì mà các bạn đang cố gắng đạt được là cấp cao nhất của nền văn minh nhân loại.” Ông lưu ý rằng các học viên đã trở thành nguồn hy vọng cho tất cả những người yêu chuộng tự do. “Tất cả các bạn bắt đầu từ vị trí bị đàn áp. Dần dần từng chút một, thông qua Biểu diễn Nghệ thuật Thần Vận, Phật Học Hội, và nỗ lực của dân chúng, các bạn đã nêu lên trường hợp của mình và thu hút sự ủng hộ và có được một số thành công, và chúng tôi thậm chí còn hy vọng cho sự thành công lớn hơn trong tương lai.”
Nghị sỹ Woodworth nói tiếp: “Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố công nhận phẩm giá vốn có và quyền bình đẳng và bất khả xâm phạm của mọi thành viên trong gia đình là nền tảng của hoà bình, công lý, tự do trên thế giới. Sẽ không có hoà bình, công lý và tự do ở Trung Quốc khi mà nguyên tắc đó bị xâm phạm trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công.”
Nghị sỹ Bruce Hyer, Phó chủ tịch Đảng Xanh
Bruce Hyer, Phó chủ tịch Đảng Xanh, phát biểu thay mặt cho bà Elizabeth May, lãnh đạo Đảng Xanh: “Đừng từ bỏ, chúng tôi luôn sát cánh cùng các bạn, và chúng tôi sẽ luôn song hành cùng các bạn trong việc tìm kiếm tự do.”
Nghị sỹ John Carmichael nói trong bài phát biểu của mình: “Đất nước chúng tôi tin rằng sẽ đem đến kết thúc cho cuộc bức hại trên khắp thế giới… đặc biệt ở Trung Quốc. Chúng tôi muốn nhìn thấy cuộc đàn áp nhắm vào các nhóm tôn giáo, bao gồm Tin Lành và Pháp Luân Công phải chấm dứt. Hôm nay tôi chào đón các bạn, tham gia cùng các bạn trong cuộc đấu tranh phản bức hại.”
 “Pháp Luân Công tượng trưng cho lợi ích chung của Canada”
Nghị sỹ Tyrone Benskin
Là một thành viên mới của Hạ viện Tiểu ban Nhân quyền Quốc tế (SDIR), Nghị sỹ Tyrone Benskin đã tán dương các học viên: “Năm này qua năm khác tôi liên tục bị ấn tượng bởi lòng can đảm và sự kiên trì của Pháp Luân Công.”
Nghị sỹ Benskin nói thêm: “Rõ ràng là môn tu luyện Pháp Luân Công đại diện cho lợi ích chung của Canada. Các học viên không đe doạ đến an ninh của quốc gia, vì nó không phải là một phong trào chính trị mà là một phong trào tinh thần.
“Các tiểu ban đã nghiên cứu tình hình nhân quyền ở Trung Quốc trong nhiều, nhiều năm qua, rất nhiều lần, và đặc biệt là sự đối đãi của chính quyền Trung Quốc đối với các học viên Pháp Luân Đại Pháp. Các nghị sĩ thuộc tất cả các đảng muốn nhìn thấy sự kết thúc của các vụ vi phạm nhân quyền tràn lan ở Trung Quốc nói chung và chính sách khủng bố Pháp Luân Công nói riêng.”
Ông David Kilgour, cựu Quốc vụ khanh phụ trách khu vực Châu Á Thái Bình Dương
Ông David Kilgour, cựu Quốc vụ khanh phụ trách khu vực Châu Á Thái Bình Dương đã tán dương những nỗ lực của các học viên: “Một bước tiến lớn với những việc vĩ đại mà các bạn đã làm, các bạn đang có một tác động mạnh đối với Nghị viện và với các thiết lập ngoại giao, và theo tôi nghĩ, là với công chúng ở khắp nơi trong thành phố này và trên toàn thế giới.”
Nghị sỹ Brent Rathgeber
Nghị sỹ Brent Rathgeber nói: “Tôi khuyến khích các bạn duy trì cuộc chiến này. Những nỗ lực của các bạn sẽ không uổng phí, với tôi, với các nghị sỹ đồng nghiệp hoặc với Canada. Duy trì áp lực để thuyết phục những người chịu trách nhiệm cho cuộc đàn áp này rằng tôn trọng nhân quyền không phải là một lựa chọn. Đó là điều cần thiết trong thế kỷ 21.”
Giúp giải cứu các học viên Pháp Luân Công ở Trung Quốc
Nghị sỹ Irwin Cotler
“Tôi vui mừng cùng các bạn, kỷ niệm cột mốc lần thứ 22 và tán dương các giá trị Chân Thiện Nhẫn, đó không chỉ là các giá trị của người Trung Hoa cổ đại, mà còn là các giá trị phổ quát và thực sự phản ánh các giá trị của Canada như một nền đa dân chủ. Đây thật sự là một nguyên nhân phổ biến để kỷ niệm,” nghị sỹ Irwin Cotler, cựu Bộ trưởng Tư Pháp, người đã giúp giải cứu Giáo sư Trương Côn Luân đến Canada, phát biểu.
Ông Cotler đề xuất một dự luật trong Quốc hội Canada vào tháng 12 năm 2013, đề xuất xử phạt tất cả những người cố ý tham gia vào mổ cướp nội tạng của các tù nhân lương tâm. Pháp luật sẽ lập một danh sách các cá nhân được cho là đã tham gia vào việc cưỡng bức mổ cướp nội tạng, và sẽ yêu cầu tài liệu về nguồn gốc của các nội tạng được sử dụng trong phẫu thuật cấy ghép.
Nghị sỹ Joan Crockatt
Nghị sỹ Joan Crockatt và James Lunney đã ban hành một thông cáo báo chí chung vào ngày 17 tháng 04 năm 2014 để kêu gọi chính quyền Trung Quốc trả tự do cho học viên Pháp Luân Công cô Trần Anh Hoa, người đã tuyệt thực 31 ngày tính đến thời điểm đó. Cô Trần là con gái của công dân Canada Hoàng Kim Lăng.
Nghị sỹ Crockatt nói: “Chúng tôi ở Canada muốn bạn biết được thông điệp rằng chúng tôi sẽ bênh vực cho bạn và chúng tôi sẽ ở bên bạn. Chúng tôi là những người ủng hộ của bạn.”
“Sự kiên trì và quyết tâm khi đối mặt với bất công”
Nghị sỹ Wayne Easter
Nghị sỹ Wayne Easter xem các học viên Pháp Luân Công như một nguồn cảm hứng: “Thật đáng khen ngợi cho sự kiên trì và quyết tâm của những người theo Pháp Luân Đại Pháp khi đối mặt với sự bất công… bất công với một người là bất công với tất cả. Và các bạn không chỉ bênh vực cho những thách thức và bất công đã xảy ra với bạn và người của các bạn, mà còn bênh vực cho cuộc chiến chống lại kiểu bất công đó trên toàn thế giới. Người khác nhìn thấy mục tiêu và quyết tâm của các bạn và nhờ đó nó mang lại cho họ sức mạnh trong cuộc đấu tranh cho nhân quyền mà tất cả chúng ta trên toàn thế giới phải thực hiện.”
Nghị sỹ Rob Anders
Nghị sỹ Rob Anders đã lặp lại những điểm của ông Easter: “Sự kiện do các bạn tổ chức là ấn tượng nhất, lớn nhất và được quan tâm nhất trên Đồi Quốc Hội này. Hôm nay, chúng ta tụ họp tại đây dưới ánh nắng ấm áp này, nhưng thử thách thật sự của Pháp Luân Công là trong mưa lạnh và gió tuyết khi các bạn đang có mặt tại đây với số lượng tương đương.
Ông Anders tin rằng cuối cùng sẽ có nhiều người phải đưa ra quyết định chọn lựa giữa việc ủng hộ các học viên hoặc đứng về phía chế độ: “Đó là một chế độ tàn bạo, tôi biết nó sẽ sụp đổ và những người làm kinh doanh với họ ở đây, những người ủng hộ cho chế độ ở Trung Quốc, sẽ đến lúc phải đưa ra quyết định đứng về phía nào… tới thời điểm mà ma quỷ bị tiêu diệt và tự do ngự trị ở đó. Và kết quả của các bạn có thể đã gây tiếng vang rất lớn không chỉ tại Trung Quốc mà còn tại các nước Đông Nam Á và thế giới.
Nghị sỹ Paulina Ayala phát biểu tại cuộc biểu tình

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2014/5/8/亲临大法日庆典-加拿大部长、议员们盛赞法轮功-291431.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2014/5/9/606.html
Đăng ngày 28-05-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Pennsylvania, MỸ: Chính phủ bang và chỉnh phủ địa phương công nhận Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế giới và Sư Phụ Lý Hồng Chí

Pennsylvania, Mỹ: Chính phủ bang và chính phủ địa phương công nhận Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế giới và Sư phụ Lý Hồng Chí


[MINH HUỆ 09-05-2014] Ngày 13 tháng 05 là một ngày đặc biệt đối với tất cả các học viên Pháp Luân Đại Pháp trên toàn thế giới: Đó là Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới và ngày sinh nhật của Sư phụ Lý Hồng Chí – nhà sáng lập của Pháp Luân Đại Pháp. Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế giới thường niên lần thứ 15 năm nay cũng chính là ngày kỷ niệm 22 năm Pháp Luân Đại Pháp được giới thiệu ra công chúng. Kể từ lễ kỉ niệm Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới lần đầu tiên cách đây 14 năm, ngày lễ này đã được công nhận và chào mừng bởi cả những học viên và những người không phải là học viên.
Trước Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới, Chính quyền bang Pennsylvania và các cơ quan chính phủ địa phương ở Pennsylvania đã công nhận Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp và Sư phụ Lý Hồng Chí, đồng thời chúc mừng lễ kỷ niệm sắp diễn ra.
Thay mặt cho Thượng viện Mỹ, Thượng nghị sĩ Patrick J.Toomey đã ban hành công nhận đặc biệt trao tặng Đại Sư Lý Hồng Chí và Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia nhằm kỷ niệm ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế giới và kỷ niệm 22 năm ngày Pháp Luân Đại Pháp được giới thiệu ra công chúng.
Đại biểu Hạ viện bà Allyson Schwartz đã gửi thư chúc mừng gửi Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia. Trong thư, bà Schwartz viết: “Trong Tháng Di sản Châu Á Thái Bình Dương, tôi lấy làm vinh dự được gửi lời chúc mừng của mình tới Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia, công nhận sự đóng góp của các cư dân châu Á – Thái Bình Dương trong việc làm phong phú thêm trang sử của nước Mỹ… Dải lụa văn hóa của chúng ta sẽ dài rộng hơn khi mỗi cộng đồng đều thể hiện sự cam kết đối với di sản của họ và chúng ta trân trọng tự do để nhận ra đóng góp của từng cộng đồng.”
Ông Brandon Neuman, đại biểu Hạ viện Pennsylvania, ban hành một bằng khen với nội dung như sau: “Hạ viện Pennsylvania vô cùng vinh dự công nhận Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia.”
“Vào đúng tháng Năm, Tháng Di sản Châu Á Thái Bình Dương tại Mỹ, Hạ viện Thịnh vượng chung Pennsylvania cùng các cư dân trong vùng Thịnh vượng chung kỷ niệm ngày 13 tháng 05 năm 2014 là Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế giới và chào mừng Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia, cũng như chúc mọi điều tốt đẹp nhất trong những năm tới.”
Lòng biết ơn sâu sắc và sự tôn kính dành cho Sư phụ Lý Hồng Chí
Trong một bằng khen của Hạ viện Pennsylvanian, J.P.Mirandar cũng từng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và sự tôn kính dành cho Sư phụ Lý Hồng Chí: “Từ khi được sáng lập, Pháp Luân Đại Pháp đã được hàng trăm triệu người trên thế giới thực hành và những người này đã nhận được nhiều lợi ích từ việc cải thiện sức khoẻ, quy ước câu thúc đạo đức cho đến việc có được hiểu biết sâu sắc hơn về cuộc sống, nhân loại, và vũ trụ… Vì công lao to lớn đó, ông Lý Hồng Chí đã bốn lần được đề cử giải Nobel và giải Sakharov cho hạng mục Tự do Tư tưởng. Ông nhận được rất nhiều giải thưởng và bằng khen. Qua nhiều sáng kiến có ích cho cộng đồng và qua chính tấm gương của mình, ông Lý Hồng Chí rõ ràng đã phản ánh tinh thần và nhiệm vụ thực sự của tiểu bang này… Hạ viện Tiểu bang Thịnh vượng chung Pennsylvania chúc mừng ông Lý Hồng Chí về những ghi nhận xứng đáng dành cho ông; khẳng định chắc chắn rằng ông chính là tấm gương sáng cho tinh thần của cộng đồng và những đóng góp của ông xứng đáng nhận được sự biết ơn và tôn kính sâu sắc.”
Ông Mike Turzai, trong một bằng khen của Hạ viện Pennsylvania, đã công nhận Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia. Trong đó viết rằng: “Qua lịch sử của nó, Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia đã có những đóng góp vô giá cho phúc lợi xã hội thông qua tình đoàn kết và qua các hoạt động nhằm đẩy mạnh chất lượng sống cho mọi người. Một loạt các nhà lãnh đạo và các thành viên tận tụy đã làm những điều này trở nên khả thi, giữ vững những châm ngôn cao thượng của tổ chức… Hạ viện Thịnh vượng chung Pennsylvania chúc mừng Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia nhân dịp trọng đại này; gửi đến những lời chúc tốt đẹp nhất cho sự phát triển và thành công không ngừng trong những năm sắp tới.”
Học viên Pháp Luân Công cải thiện tương lai của Trung Quốc

Thị trưởng Philadelphia, ông Michael Nutter đã đưa ra một công bố vào Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới 2014. Ông cho biết: “Philadelphia, một thành phố của Tình Anh Em, phấn đấu mỗi ngày để giữ gìn một môi trường nhẫn và thiện cho tất cả mọi người. Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới là lúc để thành phố chúng ta ăn mừng cho những tinh hoa mà chúng ta đang nắm giữ ở đây và công nhận tất cả những ai tu luyện Pháp Luân Đại Pháp ở Trung Quốc và ở khắp nơi trên thế giới.”
Công bố viết tiếp: “Những học viên Pháp Luân Đại Pháp ở Mỹ đã cống hiến rất nhiều thời gian cho cộng đồng của họ để tổ chức các lớp thiền miễn phí, sản xuất các tác phẩm văn hoá âm nhạc và nghệ thuật múa Trung Hoa và tham dự vào các sự kiện tại địa phương. Họ cũng tích cực hoạt động nhằm mang đến những giải pháp hoà bình cho cuộc bức hại Pháp Luân Công ở Trung Quốc và cải thiện tương lai của quốc gia đông dân nhất trên thế giới này.”

“Pháp Luân Đại Pháp đem lại nguồn sức mạnh khi đối mặt với bức hại”

Chủ tịch Hội đồng hạt Allegheny John P.Defazio viết trong một công bố của Hội Đồng hạt dành cho Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới như sau: “Gửi những người dân Trung Quốc, Pháp Luân Đại Pháp đem lại nguồn sức mạnh khi đối mặt với bức hại.”
Dưới đây là toàn văn của những thư công nhận được gửi từ các văn phòng chính phủ ở Pennsylvania.
THƯỢNG VIỆN HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ
Bằng công nhận đặc biệt này được trao tặng cho Hiệp hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia nhằm kỷ niệm ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới và kỷ niệm 22 năm Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền.
Thượng nghị sĩ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Ngày 13 tháng 05 năm 2014
THƯỢNG VIỆN HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ
Bằng công nhận đặc biệt này được trao tặng cho ông Lý Hồng Chí
Người sáng lập Pháp Luân Đại Pháp
Patrick J.Toomey
Thượng nghị sĩ Mỹ
Ngày 13 tháng 05 năm 2014
Hạ viện Washington D.C.20515
Ngày 13 tháng 05 năm 2014
Allyson Y.SCHWARTZ
Quận 13, Pennsylvania
Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia
Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới
Ngày 13 tháng 05 năm 2014
Gửi các bạn,
Tôi lấy làm vinh dự được gửi lời chúc mừng của mình đến Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia, công nhận sự đóng góp của các cư dân châu Á – Thái Bình Dương  trong việc làm phong phú thêm trang sử của nước Mỹ trong Tháng Di sản Châu Á Thái Bình Dương.
Dải lụa văn hóa của chúng ta sẽ dài rộng hơn khi mỗi cộng đồng đều thể hiện sự cam kết đối với di sản của mình và chúng ta trân trọng tự do để nhận ra đóng góp của từng cộng đồng.
Năm nay, trong suốt tuần 13 tháng 5, Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia tổ chức chào mừng kỷ niệm 22 năm ngày hồng truyền Đại Pháp ra công chúng, trân quý việc tự do tu luyện môn khí công tinh thần này và chào mừng nhà sáng lập – ông Lý Hồng Chí.
Nhân dịp các bạn kỉ niệm cộng đồng của mình và các giáo lý của nó, tôi chúc các bạn hạnh phúc và thịnh vượng.
Trân trọng
Allyson Y. Schwartz
Thành viên Quốc hội
Thịnh vượng chung Pennsylvania
Hạ viện
Bằng khen
Xét rằng, Hạ viện Pennsylvania vinh dự công nhận những cư dân, những người thông qua thành tích vượt trội của họ đã mang lại những giá trị đáng chú ý cho bản thân họ, cho cộng đồng và cho cả Thịnh vượng chung này; và
Xét rằng, ông Lý Hồng Chí được vinh danh nhân dịp chào mừng Ngày Pháp Luân Đại Pháp sẽ được tổ chức vào ngày 13 tháng 05 năm 2014, nhân dịp kỷ niệm 22 năm sáng lập pháp môn; và
Xét rằng, ông Lý Hồng Chí đã sáng lập ra môn tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, hay còn gọi là Pháp Luân Công vào năm 1992. Môn tu luyện này là môn tu luyện tinh thần cao cấp, tu cả bản thể và tâm tính, bao gồm thiền định, năm bộ công pháp và những bài giảng theo các nguyên lý của vũ trụ là Chân, Thiện và Nhẫn. Từ khi được sáng lập, Pháp Luân Đại Pháp đã được hàng trăm triệu người trên thế giới thực hành và những người này đã nhận được nhiều lợi ích từ việc cải thiện sức khoẻ, quy ước câu thúc đạo đức cho đến việc có được hiểu biết sâu sắc hơn về cuộc sống, nhân loại, và vũ trụ… Vì công lao to lớn đó, ông Lý Hồng Chí đã bốn lần được đề cử giải Nobel và giải Sakharov cho hạng mục Tự do Tư tưởng. Ông nhận được rất nhiều giải thưởng và bằng khen. Qua nhiều sáng kiến có ích cho cộng đồng và qua chính tấm gương của mình, ông Lý Hồng Chí rõ ràng đã phản ánh tinh thần và nhiệm vụ thực sự của tiểu bang này
Do đó, Hạ viện của Thịnh vương chung Pennsylvania chúc mừng ông Lý Hồng Chí về những ghi nhận xứng đáng dành cho ông; khẳng định chắc chắn rằng ông chính là tấm gương sáng cho tinh thần của cộng đồng và những đóng góp của ông xứng đáng nhận được những sự biết ơn và tôn kính sâu sắc.”
Và bằng khen được viết trực tiếp bởi J.P.Miranda vào ngày 01 tháng 05 năm 2014, được gửi đến cho ông Lý Hồng Chí, PO Box 42547, Philadelphia, Pennsylvania 19101.
J. P. Miranda, Người ký bằng khen
Samuel H. Smith, Phát ngôn viên Hạ viện
Người làm chứng:
Anthony Frand Barbrush, Thư ký trưởng của Hạ viện
Thịnh vượng chung của Pennsylvania
Hạ viện
Bằng khen
Xét rằng, Hạ viện Pennsylvania vinh dự công nhận Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp nhân dịp chào mừng ngày 13 tháng 05, 2014 – Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới ở Pittsburgh, PA, và
Xét rằng, ngày 13 tháng 05 đánh dấu kỷ niệm 22 năm ngày ông Lý Hồng Chí lần đầu tiên giới thiệu ra công chúng bộ môn tu luyện cổ xưa Pháp Luân Đại Pháp vào năm 1992 ở Trung Quốc. Toàn bộ học viên Pháp Luân Đại Pháp chào mừng ngày đầu tiên môn tu luyện thiền định hoà ái này được giới thiệu ra công chúng; và
Xét rằng, Pháp Luân Đại Pháp (hay còn gọi là Pháp Luân Công) là môn tu luyện tinh thần cao cấp, tu cả bản thể và tâm tính, bao gồm thiền định, năm bộ công pháp và các bài giảng dựa trên các nguyên lý của vũ trụ là Chân, Thiện và Nhẫn.
Do đó, vào đúng tháng Năm là tháng Di Sản Châu Á Thái Bình Dương tại Mỹ, Hạ viện Thịnh vượng chung của Pennsylvania cùng các cư dân trong vùng Thịnh vượng chung kỷ niệm ngày 13 tháng 05 năm 2014 là ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế giới và chào mừng Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia và chúc mọi điều tốt đẹp nhất trong những năm tới;
Và trực tiếp từ đây, một bản sao của bằng khen này, được ký bởi Đại diện Brand P. Newman vào ngày 13 tháng 05 năm 2014 sẽ được gửi đến cho bà Lưu Tiểu Lan – đại diện của Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp (ở Pittsburghh), 198 Candle Ridge Drive, Wexford, PA 15090
Brandon Neuman
Hạ viện Pennsylvania
Quận Hợp Pháp 48
Thịnh vượng chung của Pennsylvania
Hạ viện
Bằng khen
Xét rằng, Hạ viện Pennsylvania vinh dự công nhận những tổ chức có sự đóng góp cho lợi ích cộng đồng và trên hết là cho tất cả cư dân của Thịnh vượng chung này; và
Xét rằng, Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp được vinh danh nhân dịp Hiệp Hội tổ chức chào mừng ngày Pháp Luân Đại Pháp ở Pittsburgh vào ngày 13 tháng 05 năm 2014, và
Xét rằng, Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia và toàn thể học viên Pháp Luân Đại Pháp khắp thế giới chào mừng ngày đầu tiên môn thiền định hoà ái này được giới thiệu ra công chúng. Được sáng lập bởi ông Lý Hồng Chí, môn tu luyện Pháp Luân Đại Pháp bắt nguồn từ văn hoá cổ truyền Trung Quốc, bao gồm năm bài công pháp nhẹ nhàng và thiền định. Điểm cốt lõi là các nguyên lý Chân, Thiện, Nhẫn. Qua lịch sử của nó, Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia đã có những đóng góp vô giá cho phúc lợi của xã hội thông qua tình đoàn kết và qua các hoạt động nhằm đẩy mạnh chất lượng sống cho mọi người. Một loạt các nhà lãnh đạo và các thành viên tận tụy đã làm những điều này trở thành khả thi, giữ vững mãi những châm ngôn cao thượng của tổ chức.
Do đó, Hạ viện của Thịnh vượng chung của Pennsylvania chúc mừng Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia nhân dịp trọng đại này; gửi đến những lời chúc tốt đẹp nhất cho sự phát triển và thành công không ngừng trong những năm sắp tới.”
Và trực tiếp từ đây, một bản sao của bằng khen này, được ký bởi đại diện Mike Turzai vào ngày 13 tháng 05 năm 2014 sẽ được gửi đến cho Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp vào ngày 29 tháng 04 năm 2014.
Mike Turzai, Người ký bằng khen
Samuel H. Smith, Phát ngôn viên của Hạ viện
Người làm chứng:
Anthony Frand Barbrush, Thư ký trưởng của Hạ viện
Thành phố Philadelphia
Bằng khen
Công nhận ngày 13 tháng 05 năm 2014 là ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới
Hội đồng thành phố Philadelphia rất vui mừng và tự hào được cùng với Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia công nhận ngày 13 tháng 05 năm 2014 là Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới.
Xét rằng, Pháp Luân Đại Pháp, còn gọi là Pháp Luân Công là một bộ môn tu luyện tâm linh hoà ái bắt nguồn từ Trung Quốc. Nó bao gồm thiền định, năm bài công pháp và một triết lý về đạo đức mà trọng tâm chính là các giá trị Chân, Thiện, Nhẫn, cũng chính là kim chỉ nam cho các học viên trong đời sống hàng ngày; và
Xét rằng, mặc dù bắt nguồn từ truyền thống tâm linh của Trung Quốc, mãi đến năm 1992, Pháp Luân Công mới được ông Lý Hồng Chí – người bốn lần được đề cử giải Nobel và là nhà sáng lập của môn tu luyện, truyền ra công chúng ở Trung Quốc. Pháp Luân Đại Pháp nhanh chóng được khẩu truyền khi có đến hàng chục triệu người Trung Quốc cảm thấy sức khoẻ và tinh thần tốt lên sau khi tu luyện. Ngày nay, người dân thuộc đủ mọi độ tuổi, giai tầng ở hơn 80 quốc gia trên thế giới đang thực hành Pháp Luân Công. Môn tu luyện luôn được hướng dẫn miễn phí bởi các tình nguyện viên và ai cũng có thể tự luyện hoặc luyện theo nhóm; và
Xét rằng, từ năm 1992, nhờ tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, hơn 100 triệu người trên khắp thế giới có được sức khoẻ tốt hơn, vui vẻ hơn và vị tha hơn; mang đến những lợi ích không kể xiết cho các xã hội trên toàn thế giới; và
Xét rằng, những học viên Pháp Luân Đại Pháp ở Mỹ đã cống hiến rất nhiều thời gian cho cộng đồng của họ để tổ chức các lớp thiền miễn phí, sản xuất các tác phẩm văn hoá âm nhạc và nghệ thuật múa Trung Hoa và tham dự vào các sự kiện tại địa phương. Họ cũng tích cực hoạt động nhằm mang đến những giải pháp hoà bình cho cuộc bức hại Pháp Luân Công ở Trung Quốc và cải thiện tương lai của quốc gia đông dân nhất trên thế giới này.
Do đó, với hiệu lực của bằng khen này, Hội đồng thành phố Philadelphia cùng với Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia công nhận ngày 13 tháng 05 năm 2014 là Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới. Chúng tôi xin gửi tới các bạn sự trân trọng và ngưỡng mộ thành tâm của hội đồng lập pháp và cảm ơn các bạn vì những gì các bạn đã làm để nâng cao sức khoẻ thể chất và tinh thần cho thành phố và khu vực này.
Thành Phố Philadelphia
MICHAEL.A.NUTTER
TUYÊN BỐ
Philadelphia, một thành phố của Tình Anh Em, phấn đấu mỗi ngày để giữ gìn một môi trường nhẫn và thiện cho tất cả mọi người. Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới là lúc để thành phố chúng ta ăn mừng cho những tinh hoa mà chúng ta đang nắm giữ ở đây và công nhận tất cả những ai tu luyện Pháp Luân Đại Pháp ở Trung Quốc và ở khắp nơi trên thế giới.
Ngày Pháp Luân Đại Pháp Thế Giới 2014 sẽ đánh dấu 22 năm kỷ niệm ngày ra đời của một trong những môn thiền định và tu luyện được truyền bá rộng rãi nhất trên thế giới. Từ năm 1992, hơn một trăm triệu người trên thế giới cho biết sức khoẻ của họ tốt lên, họ vui vẻ và vị tha hơn với mọi người nhờ việc tu luyện Pháp Luân Đại Pháp.
Bắt nguồn từ truyền thống tâm linh của Trung Quốc, Pháp Luân Công được ông Lý Hồng Chí – người sáng lập của môn tu luyện này, truyền ra công chúng lần đầu tiên vào năm 1992 tại Trung Quốc. Ngày nay, người dân thuộc mọi độ tuổi và tầng lớp ở hơn 120 quốc gia trên thế giới đang thực hành Pháp Luân Công. Môn tu luyện luôn được hướng dẫn miễn phí bởi các tình nguyện viên và ai cũng có thể tự luyện hoặc luyện theo nhóm.
Pháp Luân Đại Pháp kết hợp thiền định và các bài công pháp để nâng cao sức khoẻ và mọi phương diện trong cuộc sống nói chung. Môn tu luyện bị dán nhãn “bất hợp pháp” ở Trung Quốc vào năm 1999. Tháng 03 năm 2010, Hạ viện Mỹ cho ra đời Nghị quyết 605 để yêu cầu chính quyền Trung Quốc chấm dứt chiến dịch đàn áp Pháp Luân Công kéo dài cả thập kỷ, đồng thời bày tỏ tình đoàn kết với những ai đang bị bức hại vì tu luyện.
NGÀY PHÁP LUÂN ĐẠI PHÁP THẾ GIỚI
Tôi, Michael A.Nutter, Thị trưởng của thành phố Philadelphia, tuyên bố lấy ngày thứ Ba, ngày 13 tháng 05 năm 2014 là ngày PHÁP LUÂN ĐẠI PHÁP THẾ GIỚI ở Philadelphia và tán thành việc Hiệp Hội Pháp Luân Đại Pháp Greater Philadelphia tổ chức sự kiện này để công nhận những cá nhân đang đấu tranh cho quyền tự do được thực hành theo các giáo lý của Pháp Luân Đại Pháp.
Michael A. NutterMayor
Thị trưởng Michael A.Nutter
Tuyên bố của Hội đồng hạt Allegheny
Xét rằng, Pháp Luân Đại Pháp hay còn gọi là Pháp Luân Công là một môn tự tu cao cấp nhằm thanh lọc thân thể và tinh thần thông qua năm bài công pháp và các bài giảng, thiền định và ba nguyên lý chính Chân, Thiện, Nhẫn; và
Xét rằng, hàng triệu người trên hơn 100 quốc gia đã cải thiện sức khoẻ, có được năng lượng mới, trí huệ minh mẫn và đầu óc thanh tỉnh nhờ tu luyện Pháp Luân Đại Pháp; và
Xét rằng, nhà sáng lập, đồng thời là Sư phụ của Pháp Luân Đại Pháp, ông Lý Hồng Chí đã giới thiệu môn tu luyện ra công chúng lần đầu vào năm 1992 ở vùng Tây Bắc của Trung Quốc. Ông đã nhận được rất nhiều giải thưởng và bằng khen vì những nỗ lực của ông trong việc làm nhân loại tốt hơn; và
Xét rằng, đối với những người đang sinh sống tại Trung Quốc, Pháp Luân Đại Pháp đã mang đến nguồn sức mạnh khi đối mặt với bức hại, mặc dù môn tu luyện bị cấm tại chính nơi nó ra đời, các học viên vẫn kiên định bảo vệ sự theo đuổi vào đức tin tâm linh của họ; và
Xét rằng, các tình nguyện viên địa phương đã tích cực tham gia vào hoạt động cộng đồng, hướng dẫn các bài công pháp của Pháp Luân Đại Pháp và mang lại hiểu biết văn hoá cho người dân ở rất nhiều sự kiện cộng đồng.
DO ĐÓ, VỚI TẤT CẢ HIỆU LỰC CỦA BẰNG KHEN NÀY, Hội đồng hạt Allegheny, tuyên bố ngày 13 tháng 05 năm 2014 là Ngày Pháp Luân Đại Pháp của hạt Allegheny và chúng tôi công nhận ngày này là ngày kỷ niệm 22 năm giới thiệu Pháp Luân Đại Pháp ra công chúng.
Ký bởi Chủ tịch Hội đồng John P.Defazio và được trao tặng vào ngày 13 tháng 05 năm 2014.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2014/5/9/美国宾州政要祝贺世界法轮大法日-291418.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2014/5/11/708.html
Đăng ngày 29-05-2014. Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.