Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

Một đời Minh Quân, vạn cổ ca tụng

Đường Thái Tông Lý Thế Dân xuất thân là gia đình quý tộc. “Thế dân” mang hàm nghĩa là “Tế thế an dân”. Ông chí hướng to lớn, thông minh oai vũ, luôn tràn đầy nhuệ khí hóa gia vi quốc, khai sáng nước Đại Đường thịnh vượng, khiến 4 dân tộc tâm phục, chính thực là một vị anh hùng cổ kim hiếm có.
Đường Thái Tông, một trong những nhân vật nổi tiếng và được kính trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Một: Khởi binh dẹp loạn, bình định Thiên hạ
Thời thiếu niên Lý Thế Dân mỗi ngày đều học văn và luyện võ. Năm 18 tuổi, Lý Thế Dân tại Thái Nguyên theo cha là Lý Uyên khởi binh, phát hịch văn bố cáo thiên hạ trách Tùy Dương Đế nghe lời sàm tấu, sát hại trung lương. Lý Thế Dân trị quân nghiêm minh, bắt được Công hạ Tây Hà cùng với tên quan tham là Quận thừa Cao Đức Nho, Lý Thế Dân nổi giận nói: “Chúng ta dấy binh, chính là để cứu dân trong nước sôi lửa bỏng, tiêu diệt bọn nịnh thần các ngươi!”. Sau đó đem bọn chúng ra chém đầu, cuộc chiến Tây Hà kết thúc tốt đẹp.
Sau đó, lúc tại Nam Hạ tấn công Hoắc Ấp, bởi vì lương thực đã hết, sau lưng lại nghe tin quân Đột Quyết thừa cơ tập kích Thái Nguyên, Lý Uyên quyết định quay về Thái Nguyên tính kế lâu dài. Lý Thế Dân phân tích tình thế, cho rằng quân thủ thành Hoắc Ấp tuyệt nhiên không đáng sợ, nên tấn công diệt trước, sau đó tiến thẳng về Hàm Dương mà hiệu lệnh Thiên hạ, mới có thể tranh thủ chiến lược chiếm được ưu thế chủ động, nhưng Lý Uyên không nghe.
Thấy quân đội đã bắt đầu quay về, Lý Thế Dân vội vàng ở trước trướng khóc lớn. Lý Uyên trong trướng nghe được bèn đến hỏi, Lý Thế Dân khóc khuyên cha: “Bây giờ chúng ta khởi binh chính nghĩa, tiến đánh chắc chắn sẽ thắng. Nếu lui về phía sau sẽ bị tiêu tán, kẻ địch thừa cơ công kích sau lưng, chắc chắn không thể tránh được việc binh bại nhân vong, cho nên đau buồn mà khóc”. Lý Uyên tỉnh ngộ, hạ lệnh truy hồi số quân đã cho quay về.
Không lâu sau lương thực được vận chuyển tới, cha con Lý Uyên dẫn quân tấn công Hoắc Ấp, chỉ một trận là thành công. Sau đó tiến thẳng về Trường An, tướng giữ thành mở cửa thành đầu hàng. Năm 618 sau công nguyên, Lý Uyên xưng đế tại Trường An, đổi quốc hiệu thành Đường, Lý Thế Dân được phong làm Tần Vương.
Vào lúc triều đại nhà Đường được kiến lập, cũng là lúc các phe phái quân sự chiếm giữ các vùng đang hỗn chiến đến cao trào. Lý Thế Dân 20 tuổi dũng cảm khởi binh đi bình định thế lực các phương, gánh trên vai trọng trách thống nhất toàn quốc.
Ông mỗi lần tác chiến luôn xung phong dẫn đầu binh sỹ, lúc nghỉ ngơi thì tướng sỹ cùng ăn cùng ngủ, đồng cam cộng khổ. Có một lần, ông mang 500 kỵ binh đi xem xét địa hình tiền phương, kết quả bị kỵ binh của quân địch bao vây. Tướng địch là Đan Hùng Tín cầm thương tấn công Lý Thế Dân, tướng Trì Kính Đức cưỡi ngựa tiếp chiến, đánh Đan Hùng Tín ngã ngựa, yểm hộ Lý Thế Dân đột phá vòng vây.
Một lần trong khi truy kích quân địch, Lý Thế Dân từng 2 ngày không ăn uống gì, giáp trụ cũng 3 ngày không cởi. Tướng sỹ đều rất mệt nhọc đói khát, nhưng lúc ấy chỉ có một con dê, Lý Thế Dân với tướng sỹ cùng ăn, cho nên tướng sỹ đều cảm động ân nghĩa ấy không thôi, mọi người tranh nhau dẫn đầu truy kích.
Quân của ông có nhuệ khí rất cao, đánh luôn luôn thắng. Trước sau Lý Thế Dân đã chỉ mất có 10 năm để hoàn thành đại nghiệp thống nhất nước nhà.
Lý Thế Dân còn thành lập ra một Văn học quán tại phía Tây cung Tần Vương, chiêu mời học giả bốn phương. Nổi tiếng nhất có Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối cùng với 18 vị học sỹ khác. Ông lại chia các vị học sỹ làm 3 đợt, luân phiên nhau tự quản lý, còn bản thân lúc có thời gian liền đến Văn học quán, cùng các vị học sỹ thảo luận các câu chuyện lịch sử cho đến tận đêm khuya. Văn học quán trong xã hội danh tiếng rất lớn, nếu ai được là học sỹ, thì người ta liền nói là người ấy “đăng Doanh Châu” (Doanh Châu là một ngọn núi trên thiên đình, chiểu theo truyền thuyết Trung Hoa).
Hai: Đại lượng nghe lời khuyên can, chỉ thu nhận hiền tài
Đường Cao Tổ Lý Uyên (Ảnh: Wikipedia)
Công nguyên năm 627, Lý Uyên tự xưng Thái Thượng Hoàng, Lý Thế Dân kế vị, sử sách gọi là Đường Thái Tông.
Đường Thái Tông lấy thái độ khoan dung đối đãi với những người theo phái của Thái tử trước kia, cho nên rất nhiều người ở phía đối lập có thể có được cơ hội chuyển sang, trở thành những tài năng hữu dụng trong việc quản lý quốc gia. Ngụy Chinh chính là một người hết sức nổi tiếng trong số đó. Ngụy Chinh đề xuất với Đường Thái Tông 200 ý kiến, đều được chấp thuận. Ngụy Chinh chết, Đường Thái Tông hết sức đau buồn, nói: “Bởi có chiếc gương đồng, có thể chỉnh đốn được tác phong; lấy cổ làm gương, có thể biết được thịnh suy thế gian; lấy người làm gương, có thể biết được điều đúng điều sai. Ngụy Chinh chết rồi, ta đã mất đi một tấm gương”.
Đường Thái Tông túc trí đa mưu, nhưng trong việc trị quốc không phải là người cơ hội, hoặc đùa giỡn. Ông thành tâm lắng nghe ý kiến phê bình của các đại thần, nói rằng: “Trực ngôn cương nghị, khiến Thiên hạ thái bình“. (Trinh quan chính yếu – Luận cầu gián). Có một lần, ông lại muốn quần thần đề xuất ý kiến với mình, bọn người Trưởng Tôn Vô Kỵ bèn nói Hoàng thượng không làm gì sai sót cả. Đường Thái Tông nghe xong rất mất hứng, phê bình bọn họ rằng: “Ta hỏi việc các vị, ta đâu có trách phạt, nhưng các vị lại a dua nịnh nọt với ta. Ta muốn liệt kê những điều hay dở của các vị ngay trước mặt các vị, cho các vị từ bỏ cái bệnh nói lời xu nịnh đi”. Tiếp đó Đường Thái Tông nói hết ra ưu khuyết điểm của mỗi vị đại thần.
Có người lo rằng khuyên can thẳng thắn có thể làm tổn hại đến uy nghiêm của thiên tử, Đường Thái Tông nói: “Người ta không dám nói, oán khí khó tiêu, khó biết được tình cảnh thực sự, đó mới là điều làm ta lo lắng nhất. Nếu ta thất Đức, các vị hãy nhất nhất chỉ ra, ta quyết không trách tội. Không tự biết cái sai của mình thì thật là khổ!”. (Đường Thái Tông ký). Trăm quan được giải trừ lòng nghi sợ, đều trình tấu mọi điều được mất trong chính sự.
Trung lang tướng Thường Hà không giỏi viết văn, cho nên nhờ người khách nghèo sống trong nhà mình là Mã Chu viết hộ, viết ra 20 điều tấu sự để trình lên Hoàng đế. Mã Chu trong tấu chương kể rõ những chỗ yếu kém của quốc gia, Đường Thái Tông không tin những điều trong đó lại do một võ tướng viết ra được, liền gạn hỏi. Thường Hà kể hết đầu đuôi sự việc, Đường Thái Tông nghiêm túc ra lệnh: “Bản tấu này không phải là khanh tự viết, cho nên cần phải ghi rõ tên họ của Mã Chu lên đó, như thế mới hợp lý. Ta chân thành cầu người khuyên can, khanh cũng nên dụng tâm như thế”. Thường Hà mấy lần thúc giục Mã Chu tới diện kiến Hoàng đế, Thái Tông sau khi nói chuyện lập tức lệnh phong Mã Chu làm quan trong triều, sau này trở thành một vị Đại thần hết sức nổi tiếng.
Đường Thái Tông tuyển mộ quan lại tuy là rất rộng cửa, nhưng không bởi vì cầu hiền mà hạ thấp tiêu chuẩn, ông sử dụng người hiền tài đều là dựa vào tài năng và phẩm hạnh của người ấy mà nghiêm khắc cân nhắc lựa chọn.
Ông cũng giỏi dùng người đúng chỗ, hiểu rõ tài riêng của từng người, khiến cho họ đều có thể phát huy được hết sở trường của mình. Trong lịch sử nổi tiếng nhất có Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối là những điển hình, những người này không giỏi xử án hoặc xử lý tạp vụ, nhưng lại rất giỏi mưu cơ và quyết định quốc gia đại sự, cho nên dùng bọn họ làm Tể tướng. Còn với Đới Trụ thì ngược lại, ông ta không thông kinh sử, nhưng làm việc chính trực, cho nên để cho ông ta làm Đại Lý tự Thiếu khanh, phụ trách xử án, kết quả ông ta làm việc hết sức tốt đẹp, rất đúng như Đường Thái Tông trông đợi.
Để tuyển quan Thứ sử giỏi, Đường Thái Tông đã bỏ rất nhiều công phu, ông cho viết tất cả tên họ cùng với thông tin cá nhân của các quan Thứ sử trong cả nước lên tấm bình phong trong phòng ngủ của mình, căn cứ vào đủ loại tin tức kịp thời ghi chép lại công quả của mỗi người trong số họ, căn cứ vào đó để khảo hạch và tuyển chọn. Ông còn lợi dụng chế độ khoa cử, cho những người đọc sách có cơ hội tốt để được vào cung. Mỗi lần ông nhìn thấy đông đảo những người đỗ đạt tân khoa, đều cao hứng nói rằng, “Hiền tài trong thiên hạ đều đã đến để phục vụ quốc gia”.
Ba: Làm lợi cho dân, thực hành tiết kiệm và kỷ luật.
Bức thư pháp của Đường Thái Tông trên bia đá đời Đường (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)
Đường Thái Tông đưa ra tư tưởng “Dân là cái gốc của quốc gia”, chế định rất nhiều sáng kiến để phát triển kinh tế: khuyến khích chế độ quân điền (mỗi người được cho một khoảnh đất như nhau để canh tác), khích lệ khẩn hoang: ban hành mức thuế mới để giảm nhẹ gánh nặng cho dân ;khuyến khích tăng dân số, phát triển sản xuất; phát triển hệ thống thủy lợi, nạo vét sông và kênh mương .
Có người lo rằng lợi dân như thế thì tiền thuế của quốc gia sẽ không đủ, cho nên can gián nói rằng:“Hiện tại quốc gia đúng là lúc cần dùng tiền, nếu chỉ lo an dân, nhiều việc quốc gia đại sự không thể tiến hành được”.
Đường Thái Tông nhân dịp này liền bảo quần thần:“Để dựng nước, trước tiên phải có được lòng dân, để quốc gia giàu mạnh, trước tiên phải làm cho bách tính ăn mặc có dư. Dân oán không trừ, đó là mối nguy lớn của quốc gia, ngoài ra đều không có gì quan trọng”.
Ông còn chủ trì việc chế định ra “Trinh Quán luật”, có chế độ thưởng phạt công minh, tăng cường việc thiết lập nền pháp chế.
Thời thái bình thịnh trị đến rất nhanh chóng, lương thực nhiều năm liên tiếp bội thu, giá cả nhanh chóng hạ xuống. Trăm họ bắt đầu an cư lạc nghiệp, quốc gia giàu có thịnh vượng.
Đường Thái Tông tại phương diện đề xướng việc thực hành tiết kiệm cũng đã làm gương mẫu cho quần thần. Cung điện ông ở cũng là xây dựng từ đầu thời đại nhà Tùy, đều đã cũ nát. Ông ra lệnh cấm quan lại xa xỉ lãng phí. Cho nên, trong các đại thần hình thành được một tác phong tiết kiệm, xuất hiện rất nhiều đại thần thanh liêm cần kiệm. Như Thượng thư bộ hộ Đới Trụ, bởi khi còn sống cuộc sống nổi tiếng giản dị, thậm chí sau khi chết trong nhà không tìm thấy chỗ nào trang trọng để mà thờ cúng. Về phần Ngụy Chinh càng như thế, cả đời không có được một ngôi nhà đúng nghĩa.
Đường Thái Tông còn chú trọng sự tu dưỡng của bản thân. Tài năng thơ văn của ông rất cao, nhưng bởi vì ông khiêm nhường không nặng danh tiếng, nên vẫn cấm người khác biên tập thơ văn của mình thành bộ. Ông nói: “Văn tự của Trẫm , nếu quả thật có ích đối với bách tính, lịch sử sẽ ghi lại, như thế có thể lưu lại trăm đời về sau. Nếu không có gì hay, biên thành tập có tác dụng gì?! Lương Vũ Đế, Trần Hậu Chủ, Tùy Dương Đế đều có tập truyện văn lưu lại cho hậu thế, người nào cũng không có khả năng cứu vãn vận mệnh diệt vong! Làm người sợ nhất là không có Đức chính, văn chương như thế đối với xã tắc thì dùng để làm gì!”.
Sau này người triều đại nhà Thanh biên tập thơ văn của ông đưa vào “Toàn Dương thi” và “Toàn Đường văn”, cùng với 7 quyển Kế văn, 5 bài phú, 1 quyển thơ gồm 69 bài.
Như trong bài thơ “Hoàn thiểm thuật hoài” của ông :
Khái nhiên phủ trường kiếm, tể thế khởi yêu danh.
Tinh kỳ phân điện cử, nhật vũ túc thiên hành.
Biến dã truân vạn kỵ, lâm nguyên trú ngũ doanh.
Đăng sơn huy vũ tiết, bối thủy túng thần binh.
Tại tích nhung qua động, kim lai vũ trụ bình”
Những người viết sử cảm thụ được tiết tháo cao thượng cùng với hoài bão kiến lập đại nghiệp của ông:“Tâm tùy lãng nhật cao, chí dữ thu sương khiết” (trong “Kinh phá tiết cử chiến địa”).
Bốn: Dân tộc dung hòa, thịnh Đường khí tượng
Đường Thái Tông (626-649) đã nhận Ludongzan, sứ giả Tây Tạng vào trong triều; bức tranh được vẽ vào năm 641 sau công nguyên bởi Yan Liben (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)
Bởi nỗ lực của Đường Thái Tông, người Hán và các dân tộc thiểu số đều đối xử hòa thuận với nhau. Ông cũng dùng một số quan lại người dân tộc thiểu số. Ông chấp thuận dân tộc thiểu số trong thiên hạ, định cư tại Trường An. Thời ấy tại Trường An dân tộc Đột Quyết có đến cả vạn gia đình. Công nguyên năm 630, thủ lĩnh các cộng đồng dân tộc vùng Tây Bắc cùng thỉnh cầu được gọi Đường Thái Tông là “Thiên khả Hãn”, được Đường Thái Tông đồng ý, từ đó về sau hay dùng chiếc ấn khắc chữ “Thiên khả Hãn” trong các chiếu thư cho các dân tộc vùng Tây Bắc.
Một lần Thái thượng hoàng Lý Uyên cùng với Đường Thái Tông yến tiệc với quần thần, Lý Uyên để cho Hiệt Lợi khả Hãn vũ múa để giúp vui, lại để cho thủ lĩnh dân tộc phương Nam là Phùng Trí ngâm thơ, không khí vô cùng hào hùng sôi nổi. Lý Uyên cao hứng nói: “Hồ Việt một nhà, xưa nay chưa từng có!”.
Sau này, Đường Thái Tông hỏi quần thần: “Như thế nào mới có thể giải quyết từ căn bản vấn đề quan hệ giữa các dân tộc?”. Các câu trả lời của các vị đại thần đều không làm ông thỏa mãn, cuối cùng ông tự tổng kết ra được 5 điều kinh nghiệm, trong đó điều quan trọng nhất là: “Cần phải yêu chuộng người Hán và người các dân tộc khác như nhau”.
Thời đó Đường triều tại các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa mọi phương diện đều là có địa vị đứng đầu thế giới, biên cương rất rộng lớn, cai trị thời Trinh Quan đã vẽ nên một bức tranh hết sức mỹ lệ huy hoàng trong lịch sử Trung Quốc.
Đường Thái Tông đối nội thực hành chính sách mềm dẻo, cùng dân nghỉ ngơi, hiền tài đều được trọng dụng, đất nước không có án oan. Về đối ngoại lấy Đức thu phục người, văn hay võ tùy dùng từng lúc, khiến Trung Quốc không chỉ trở thành quốc gia hùng mạnh và giàu có thịnh vượng nhất trên thế giới, mà còn là đất nước văn minh bậc nhất, các nước lân cận đều rất ngưỡng mộ. Rất nhiều quốc gia thậm chí còn sử dụng trực tiếp mô hình chính sách của nhà Đường. Xã hội Nhật Bản thời cổ về chính trị và kinh tế tựa hồ như là phiên bản của Đường triều. Rất nhiều sứ thần, lưu học sinh cùng với nghệ nhân, tăng lữ từ Á châu, Phi châu đều đến Đường triều, đến Trường An, khiến Trường An thời bấy giờ trở thành một đô thành có tính quốc tế. Văn hóa thời đại nhà Đường, tôn giáo đều đạt đến thời kỳ cực thịnh. Bởi địa vị của Đường triều trên thế giới vào lúc ấy, các sứ giả và thương nhân Trung Quốc cũng xuất hiện tại khắp các quốc gia Á châu, cho nên người nước ngoài liền gọi chung người Trung Quốc là “Đường gia tử” (”Người nhà Đường”). Ngày nay người phương Tây vẫn gọi người Trung Quốc là “Đường nhân” (”Người Đường”).
Vào những năm chiến tranh Lý Thế Dân luôn tuyển chọn những anh hùng hào kiệt có võ công cao cường nhất vào đội ngũ kỵ binh của mình, thời bình thì tập trung những học giả ưu tú nhất về phủ Tần Vương, nắm giữ thiên hạ, thống lĩnh quần hùng sáng lập nên cẩm tú sơn hà, xã hội phồn vinh, cùng một nền văn hóa sáng lạn. Mọi người tưởng nhớ vĩnh viễn trong ký ức một Thiên triều vĩ đại, vô hạn kính ngưỡng khí chất chính nghĩa, lòng nhân ái, sự khiêm tốn và hoài bão to lớn của Hoàng đế Đường Thái Tông.
Trí Chân
(Theo Minhhue.net)

Thuốc kháng sinh hại chúng ta như thế nào?

Sự đề kháng lại thuốc kháng sinh là một hiện tượng đang phát triển và đã trở thành một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng nhất trên thế giới. Kháng kháng sinh là một hình thức kháng thuốc, trong đó một số loài vi khuẩn vẫn có thể sống lâu hơn khi người dùng uống một hoặc nhiều loại thuốc kháng sinh. Hiện tượng này là hậu quả của việc dùng sai và lạm dụng thuốc kháng sinh trong y học và trong thức ăn chăn nuôi. Kết quả của điều này, là có một sự hiện diện ngày càng tăng của các “siêu trùng” – vi sinh vật, chủ yếu là các vi khuẩn, mà có mang một số gen kháng kháng sinh.
Thuốc kháng sinh Novamoxin (ảnh từ Wikimedia Commons)
Thuốc kháng sinh Novamoxin (ảnh từ Wikimedia Commons)
Mức độ nghiêm trọng của vấn đề này đang được nhấn mạnh bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong một báo cáo gần đây đã gọi hiện tượng này là một “mối đe dọa toàn cầu.” Báo cáo của WHO dựa theo một báo cáo năm 2013 của Trung tâm Kiểm soát và ngăn chặn dịch bệnh (CDC), cho thấy 2 triệu người ở Mỹ bị nhiễm vi khuẩn kháng kháng sinh mỗi năm, và có 23.000 người chết trong số đó. Năm ngoái, Tiến sĩ Sally Davies đã gọi vấn đề này như là một “quả bom hẹn giờ” và nói rằng nó chắc chắn sẽ trở nên quan trọng với tầm ảnh hưởng to lớn, như là hiện tượng biến đổi khí hậu.
Kết quả của kháng kháng sinh và số lượng ngày càng tăng của các siêu vi khuẩn, đó là các bệnh lây nhiễm thông thường mà trước đây có thể được điều trị dễ dàng mà không có vấn đề gì, thì nay đã trở thành không thể chữa trị được. Năm 2012, WHO báo cáo có 450.000 trường hợp mắc bệnh lao trên 92 quốc gia, là những nơi có nhiều loại thuốc được dùng để điều trị, và phát hiện rằng chúng không có hiệu quả.
Tình trạng tương tự có thể xảy ra đối với bệnh lậu, và những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe cộng đồng nó kéo theo. Bệnh lậu lây truyền qua đường tình dục hiện đang gia tăng trên toàn thế giới, và do đó là có khả năng cần điều trị kháng kháng sinh.
“Kháng sinh hiệu quả đã là một trong những lý do chính cho phép chúng ta sống lâu hơn, sống khỏe mạnh hơn, và được hưởng lợi từ y học hiện đại. Trừ khi chúng ta có những hành động có ý nghĩa để cải thiện những nỗ lực ngăn ngừa các bệnh lây nhiễm và cũng thay đổi cách chúng ta sản xuất, kê đơn, và sử dụng thuốc kháng sinh, thế giới sẽ mất nhiều hơn và nhiều hơn nữa các công cụ của y tế công cộng, và sẽ kéo theo sự tàn phá “, Tiến sĩ Keiji Fukuda, trợ lý tổng giám đốc của WHO về an toàn sức khỏe, cho biết.
Báo cáo mới của WHO đã thu thập thông tin về kháng kháng sinh từ 114 quốc gia. Vấn đề này là đặc biệt nghiêm trọng bởi vì hiện nay không có loại thuốc kháng sinh mới nào được phát triển. Như Tiến sĩ Danilo Lo Fo Wong, cố vấn cấp cao về kháng kháng sinh cho WHO châu Âu đã chỉ ra, “Các thuốc kháng sinh mới được đưa vào thị trường là không thực sự mới. Chúng là các biến thể của những loại thuốc mà chúng ta đã có. ” Nhóm thuốc kháng khuẩn mới gần đây nhất được phát triển đã cách đây 27 năm, theo báo cáo.
Nhiều loại vi khuẩn có khả năng phá hủy thuốc kháng sinh để tự bảo vệ mình. Chúng phát triển một gen kháng kháng sinh đối với một hoặc nhiều thuốc kháng sinh bằng cách phát triển một sự hoán chuyển các kết quả- trong quá trình sản xuất các enzym làm vô hiệu hóa các kháng sinh. Và các vi khuẩn tích tụ sự đề kháng bằng cách phát triển các loại gen mới. Trong một vòng xoắn kỳ lạ của số phận, ngành di truyền học có thể làm việc ngược lại chúng tôi. Do đó, bất cứ lúc nào một người sử dụng thuốc kháng sinh mà không có chỉ dẫn đúng hoặc sử dụng trong một thời gian ngắn hơn thời gian cần thiết, nó sẽ thúc đẩy sự phát triển của kháng kháng sinh.
Sir Alexander Fleming, người phát minh ra penicillin, đã cảnh báo về mối nguy hại này trong bài giảng Nobel của ông năm 1945, ông đã nói: “Đến thời điểm khi penicillin có thể mua được ở bất cứ hiệu thuốc nào. Khi đó sẽ có một mối nguy hiểm là người không hiểu biết sẽ dễ dàng dùng thuốc với liều lượng không đủ ,và bằng cách phơi bày các vi khuẩn của anh ta tới loại thuốc này với liều lượng không gây chết người sẽ làm cho chúng kháng cự lại.”
Ngoài ra, việc sử dụng rộng rãi các loại thuốc kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi để giúp chúng phát triển nhanh hơn và tăng cân nhiều hơn cũng làm tăng mức độ của vấn đề. Khi gia súc bài tiết các thuốc kháng sinh chúng phần lớn là không bị phân hủy. Sau đó chúng thâm nhập vào môi trường thông qua mặt đất và nước, và khi lại được đưa vào cơ thể con người thì chúng vẫn giữ được khả năng thúc đẩy việc kháng kháng sinh. Như vậy, vi khuẩn kháng thuốc ở động vật do tiếp xúc với thuốc kháng sinh trong thức ăn của chúng, có thể được truyền sang con người thông qua ba con đường: tiêu thụ những sản phẩm từ động vật, tiếp xúc gần với động vật, và thông qua môi trường. Năm 2001, Liên hiệp các nhà khoa học liên quan (Union of Concerned Scientist) ước tính rằng hơn 70 phần trăm các thuốc kháng sinh sử dụng ở Hoa Kỳ được đưa vào trong thực phẩm động vật của họ. Mặc dù WHO cảnh báo rằng, việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi là nên bị cấm, nhưng chúng vẫn tiếp tục được sử dụng mà không có sự hạn chế nào.
Với ít tùy chọn thuốc hơn, thì ảnh hưởng tiêu cực nhất là đến những người nghèo và những người không có bảo hiểm sức khỏe, những hoàn cảnh mà hạn chế sự nghiên cứu để thu được phương pháp điều trị hiệu quả nhất.
Theo WHO, tổ chức từ thiện y tế Médecins Sans Frontières (Các bác sĩ không biên giới), và các chuyên gia trên toàn thế giới đã tuyên bố rằng một kế hoạch toàn cầu đối với việc sử dụng thuốc kháng sinh hợp lý là rất cấp thiết. Bỏ qua lời khuyên của họ cũng có nghĩa là gieo hạt giống của sự hủy diệt cho chính chúng ta.
Tiến sĩ César Chelala là một nhà tư vấn sức khỏe cộng đồng quốc tế và được trao giải thưởng của Overseas Press Club ở Mỹ
Dr. César Chelala
Theo vietdaikynguyen

Việt Nam giải bài toán Phòng Không Hạm như thế nào?

Khu vực biển Đông khiếm thiếu khả năng phòng không hạm khi không một nước Đông Nam Á nào có một tàu khu trục phòng không thực thụ.

Khinh hạm FREMM của Pháp-Italia có khả năng phòng không mạnh
Khinh hạm FREMM của Pháp-Italia có khả năng phòng không mạnh
Khả năng phòng không của chiến hạm Việt Nam
Xét về tàu mặt nước, Hải quân Việt Nam hiện chỉ được xếp vào loại trung bình trong khu vực. Trước đây, chúng ta được trang bị 5 tàu hộ vệ hạng nhẹ Petya (Project 159), chỉ là loại tàu chống ngầm thuần túy. Hiện nay, Việt Nam đã đặt mua 4 tàu hộ vệ đa năng lớp Gepard 3.9 của Nga, trong đó 2 tàu đã được bàn giao, 2 tàu đang chế tạo.
Tàu hộ vệ lớp Gepard 3.9 có chiều dài 102,4 mét, rộng 14,4 mét, mớn nước 5,6 mét, trọng lượng giãn nước toàn tải 2.200 tấn, tốc độ tối đa 29 hải lý/giờ (53 km/giờ), bán kính tác chiến 4.000 km, thời gian hoạt động liên tục trên biển 15 ngày, và thủy thủ đoàn 98 người.
Vũ khí chủ lực của tàu là 8 quả tên lửa hạm đối hạm Kh-35 Uran E, dẫn đường bằng quán tính và radar chủ động, với tầm bắn tối đa 130 km và tốc độ bắn tối đa là 0,9 Mach (gần 1.100 km/giờ). Ngoài ra, nó còn được trang bị hệ thống pháo hạm, phòng không, chống ngầm, … tiên tiến.
Tuy nhiên, hệ thống tên lửa phòng không của chiến hạm Gepard 3.9 Việt Nam cũng rất yếu khi nó chỉ được trang bị 8 tên lửa phòng không dẫn bằng laser M311 Sosna-R thuộc hệ thống CIWS Palma, chỉ có tầm bắn hiệu quả 10 km, tầm cao 5 km.
Gepard 3.9
Tàu hộ vệ lớp Gepard 3.9, Project 11661E của Việt Nam
Ngoài ra, Việt Nam đã đặt đóng 2 tàu hộ vệ kiểu Sigma tại xưởng đóng tàu Gorinchem, hãng Damen. Tàu hộ vệ mà Việt Nam đặt mua thuộc loại Sigma 9814, là tàu hộ vệ hạng nhẹ có chiều dài 98m và rộng 14m, lượng giãn nước 1950 tấn, với số lượng thủy thủ gần 90 người.
Vũ khí cơ bản của các chiến hạm SIGMA như sau: 2 cụm 4 ống phóng tên lửa chống hạm Exocet MM-40; hệ thống phóng thẳng đứng Silva-54 với 12 ống phóng tên lửa phòng không MICA; 2 giá, mỗi giá 4 ống phóng tên lửa phòng không tầm gần Mistral; 2 cụm 3 ống phóng 324mm ngư lôi chống ngầm B-515, pháo hạm Oto Melara 76mm, 2 khẩu súng máy 20mm.
Các chiến hạm Sigma Việt Nam có thể sẽ được trang bị tên lửa hạm đối hạm MM40 Block3 là phiên bản tên lửa chống hạm mới nhất của dòng tên lửa Exocet, do tập đoàn MBDA tại Pháp phát triển, được nghiên cứu, chế tạo dựa trên cơ sở tên lửa MM40 Block 2.
MM40 Block3 có tầm bắn tối đa 180km, tốc độ cận âm 0,9Mach, được thiết kế để tiêu diệt các tàu chiến mặt nước cũng như các mục tiêu ven biển. Điểm đặc biệt là nó có khả năng được dẫn đường bằng hệ thống định vị vệ tinh GPS và có khả năng tấn công cả các mục tiêu trên đất liền, ven bờ biển.
Sigma
Khinh hạm kiểu Sigma 9813 của Indonesia
Tên lửa MM-40 Exocet Block3 có khả năng xuyên thủng mọi hệ thống phòng vệ của đối phương nhờ quỹ đạo bay phức tạp, độ cao bay thấp so với mực nước biển, cũng như áp dụng các biện pháp chống nhiễu mới.
Tàu Sigma được trang bị hệ thống chỉ huy kiểm soát TACTICOS và hệ thống truyền số liệu chiến thuật LINK-Y MK2; các hệ thống tìm kiếm/đo đạc bao gồm radar đối không/hải MW08, radar mảng pha điện tử đối không SMART-SMK2, radar điều khiển hỏa lực LIROD MK2 và sonar chủ/bị động trung tần; hệ thống trinh sát chi viện điện tử cùng với các ống phóng tên lửa nhử mồi và tên lửa gây nhiễu.
Xét về tổng thể, tàu hộ vệ SIGMA hiện đại hơn và uy lực hơn chiến hạm Gepard của Nga trong biên chế của hải quân Việt Nam. Tuy nhiên, các hệ thống vũ khí; chỉ huy, kiểm soát; điều khiển hỏa lực; tác chiến điện tử; thông tin liên lạc… của SIGMA đều là sản phẩm của hãng Thales và MBDA của Pháp. Điều này sẽ gây nhiều khó khăn trong hiệp đồng, chia sẻ thông tin tác chiến đối với đại đa số các tàu chiến mua của Nga.
Về hỏa lực phòng không, Sigma 9814 được trang bị 12 tên lửa phòng không VL MICA chứa trong hệ thống phóng thẳng đứng (VLS) bố trí ngay phía sau ụ pháo Oto Melara. Tuy nhiên, khả năng phòng không của nó cũng không cao, tầm bắn 20km với mục tiêu cỡ lớn như máy bay trực thăng và 10km với mục tiêu là tên lửa hành trình đối hạm bay thấp.
 Formidable
Khinh hạm lớp Formidable của hải quân Singapore có khả năng phòng không mạnh nhất khu vực
Phòng không hạm là điểm yếu chung của hải quân khu vực
Có thể thấy, các chiến hạm mặt nước trên biển Đông đều có khả năng chống hạm khá mạnh với các loại tên lửa Exocet MM 40 của Malaysia, Việt Nam, RGM-84 Harpoon trang bị trên tàu chiến của Indonesia, Singapore, Thái Lan hay SS-N-25 Kh-35 UranE trên khinh hạm Gepard 3.9 của Hải quân Việt Nam…
Tuy nhiên, khả năng phòng không của các chiến hạm mặt nước của các nước Đông Nam Á rất tồi. Cơ bản các chiến hạm này đều thuộc dạng tàu hộ vệ, thiên về chống hạm, chống ngầm chứ không có tàu khu trục chuyên đảm nhận chức năng phòng không. Đây là điểm yếu lớn nhất, làm cho các quốc gia này đau đầu, vì giá của tàu khu trục thường rất đắt, có loại lên tới hàng tỷ USD.
Trừ khinh hạm Formidable của Singapore có khả năng phòng không khu vực, tầm xa với tên lửa Aster-30 (tầm phóng tới 120km), còn lại các tàu khác chỉ được trang bị các hệ thống phòng không dạng điểm, tầm ngắn và tầm trung như Sea Wolf, Mistral, MICA, RIM-7 Sea Sparrow, RIM-162 ESSM (Evolved Seasparrow Missile).
Với năng lực phòng không yếu kém, các tàu hộ vệ của hải quân Đông Nam Á không có cơ hội tiếp cận các máy bay chiến đấu Trung Quốc để tới tầm phóng hiệu quả của tên lửa phòng không, trước sự uy hiếp của các tên lửa chống hạm phóng từ máy bay, có tầm phóng hàng trăm km của Trung Quốc.
sea wolf
Các hệ thống phòng không tầm gần kiểu như Sea Wolf không thể chống được các máy bay chiến đấu mang tên lửa hành trình chống hạm
Thực tế này cho thấy, nếu một cuộc chiến diễn ra trên biển, Trung Quốc có nhiều lợi thế bởi các tiêm kích hạm hoặc tiêm kích chuyên đánh biển như JH-7, Su-30MKK, Su-35…, nhất là trong tương lai, khi tàu sân bay Trung Quốc hoàn thiện khả năng tác chiến thì lại càng nguy hiểm.
Hiện nay, các nước Đông Nam Á chỉ còn cách sử dụng các tiêm kích đánh biển để bảo vệ chiến hạm trước các máy bay chiến đấu Trung Quốc trong một cuộc chiến giả định tương lai. Tuy nhiên, Trung Quốc đang hoàn thiện lực lượng tàu khu trục phòng không rất mạnh để bảo vệ hạm đội của mình trước sự uy hiếp từ trên không.
Hải quân Trung Quốc đang sở hữu 3 loại tàu khu trục có hệ thống phòng không khu vực, tầm xa là khu trục hạm Type 051C với 48 quả tên lửa phòng không S-300FM (SA-N-20) của Nga, tầm phóng 150km; khu trục hạm Type 052C với 48 quả tên lửa phòng không nội địa HHQ-9, tầm phóng 200km; khu trục hạm Type 052D với 64 ống phóng tên lửa phòng không HHQ-9.
 s300
Hệ thống phòng không hạm S-300FM của Nga
Việt Nam hiện cũng đang gặp phải khó khăn rất lớn trong việc nâng cấp khả năng phòng không của mình. Các hệ thống phòng không hạm hiện nay chỉ có phạm vi bảo vệ rất ngắn, độ cao tác chiến rất thấp nên các chiến hạm Gepard và Siagma sẽ trở nên yếu thế trước các máy bay chiến đấu mang tên lửa hành trình chống hạm tầm xa.
Hiện nay, Nga là nước có khả năng thiết kế các chiến hạm giá rẻ và cũng sở hữu hệ thống phòng không hạm S-300FM (phiên bản trên hạm của S-300). Tuy nhiên, hệ thống này của Nga lại thường được thiết kế trên các tuần dương hạm hạng nặng trên 10.000 tấn chứ không phải các khu trục hạm.
Tuy là một khách hàng quen thuộc của Nga nhưng Việt Nam cũng không có khả năng mua sắm các tuần dương hạm khủng lớp Slava hay Kirov của nước Nga, nên trong tương lai, để giải quyết bài toán phòng không Việt Nam sẽ phải cân nhắc lựa chọn một số khả năng, hoặc là mua hàng của châu Âu hoặc đặt đóng khu trục hạm của Nga, hoặc là hợp tác với Ấn Độ.
Việt Nam giải bài toán phòng không hạm như thế nào?
Hiện khinh hạm FREMM – một sản phẩm hợp tác giữa Tập đoàn đóng tàu DCNS của Pháp và Tập đoàn Fincantieri của Italia đang được 2 cường quốc hải quân này sử dụng có thể là một khả năng được xem xét. Việt Nam có thể bỏ qua khả năng tấn công mặt đất bằng tên lửa hành trình, chỉ mua phiên bản phòng không nhỏ hơn của loại tàu hộ vệ này.
fremm y
Khinh hạm FREMM lớp Bergamini của hải quân Italia
Về tên lửa hành trình chống hạm, chiến hạm FREMM của hải quân Pháp có 2 cụm bệ phóng tên lửa hành trình chống tàu tầm xa MM-40 Exocet Block 3 đạt tầm 180km (8 quả), còn khinh hạm FREMM của hải quân Italia sử dụng 8 tên lửa hành trình chống tàu Otomat MK-2/A Block IV với tầm bắn 200km.
Về phòng không hạm, FREMM Pháp lắp đặt 16 ống phóng SYLVER A43 VLS, sử dụng tên lửa hạm đối không tầm trung Aster-15 (1,7-30km), còn FREMM Italia có khả năng phòng không hạm mạnh hơn, với hệ thống phóng thẳng đứng SYLVER A50 VLS để phóng cả 2 loại tên lửa đối không tầm trung/xa Aster-15 và Aster-30 (Aster-30 có tầm phóng 120km).
Tuy nhiên, giá thành chỉ tính riêng phiên bản phòng không của loại tàu này cũng không hề rẻ, thấp nhất cũng phải tầm trên 600 triệu USD/chiếc. Năm 2009, Hy Lạp từng đàm phán 1 hợp đồng mua 6 khinh hạm loại này với giá 3,45 tỷ USD nhưng không thành công. Còn Morocco đã từng mua 1 phiên bản chỉ có chức năng chống ngầm của FREMM với giá 492 triệu USD.
Một phương án khác là Việt Nam cũng có thể lợi dụng quan hệ tốt với Công ty đóng tàu Damen – Hà Lan để đặt mua phiên bản Sigma lớn hơn, được tích hợp hệ thống phòng không Aster-30. Xét về công nghệ, đây là phương án khả thi vì các hãng châu Âu thường sử dụng chung các tài nguyên vũ khí trong công nghiệp đóng tàu.
Damen
Liệu Damen có đóng được khu trục hạm hạng nặng dựa trên cơ sở khinh hạm Sigma?
Tuy nhiên, phương án này cũng có những khó khăn vì Damen chưa hề có kinh nghiệm đóng tàu hộ vệ hoặc khu trục hạm hạng nặng lên tới 6-7000 tấn, hơn nữa, thiết kế kiểu châu Âu cũng rất đắt, trong khi tầm phóng của Aster-30 cũng không phải là quá xa. Chúng ta có thể thấy điều này trong hợp đồng mua 2 tàu hộ vệ Sigma 9814 của Việt Nam, có lượng giãn nước 2150 tấn (chưa bằng 1/3 lượng giãn nước của các khu trục hạm) nhưng giá lên tới 600 triệu USD.
Phương án thứ 3 là Việt Nam cũng có thể đặt riêng thiết kế khu trục hạm của Nga, tích hợp hệ thống phòng không hạm S-300FM (phiên bản xuất khẩu là Rif-M), Trung Quốc cũng đã đặt mua 2 tổ hợp này để trang bị trên các khu trục hạm Type 051C của mình. Tuy nhiên, giá thành phát triển thiết kế ban đầu một loại khu trục hạm giành riêng cho Việt Nam chắc chắn là không hề rẻ, chưa nói tới khả năng Trung Quốc có thể chọc ngoáy vào vấn đề này.
Phương án thứ 4 có tính khả thi cao nhất là hợp tác với Ấn Độ để phát triển tàu khu trục trên cơ sở khu trục hạm lớp Kolkata của hải quân nước này. Nó được trang bị hệ thống vũ khí toàn diện về khả năng tấn công và phòng thủ, đặc biệt là khả năng phòng không cực mạnh. Nếu hợp tác với Ấn Độ, các nước Đông Nam Á sẽ được lợi rất nhiều vì Ấn Độ cũng đang muốn kiềm chế Trung Quốc
Về khả năng chống hạm, tàu được trang bị 4 hệ thống phóng thẳng đứng với 16 tên lửa hạm đối hạm BrahMos. Đây là loại tên lửa chống hạm có tốc độ nhanh nhất thế giới hiện nay (trên Mach 3), với tầm bắn lên đến 300km. Với khả năng tấn công cực kỳ linh hoạt, BrahMos thực sự là cơn ác mộng cho bất kỳ tàu chiến nào.
 Kolkata
Mô hình thiết kế khu trục hạm lớp Kolkata
Về khả năng phòng không và phòng thủ tên lửa, tàu khu trục lớp Kolkata sử dụng 3 loại tên lửa siêu âm khác nhau cho nhiệm vụ chống máy bay, đánh chặn tên lửa đạn đạo và tên lửa chống hạm với đủ tầm cao, tầm trung và tầm thấp. Bất kỳ tên lửa chống hạm, hay máy bay chiến đấu nào trước khi uy hiếp tàu khu trục lớp Kolkata phải vượt qua 3 hệ thống đánh chặn này.
Về đánh chặn tầm xa, tàu sử dụng 8 hệ thống phóng thẳng đứng VLS cho tên lửa đánh chặn tầm xa AAD, một biến thể của hệ thống phòng thủ tên lửa ADD trên đất liền (vận tốc 4,5Mach), do Ấn Độ tự lực phát triển. Loại tên lửa này có tầm bắn lên đến 200km và có khả năng đánh chặn cả tên lửa đạn đạo.
Về đánh chặn tầm trung, tàu sử dụng 48 tên lửa đánh chặn Barak-8 với tầm bắn 70km, tên lửa có khả năng hoạt động độc lập rất cao và gần như không phải phụ thuộc vào hệ thống nhắm mục tiêu hay dẫn đường của bệ phóng. Ở tầm ngắn, tàu sở hữu 32 tên lửa đánh chặn Barak-1 với tầm bắn 12 km.
Cả 4 phương án trên đều có tính khả thi và Việt Nam có thể đàm phán với các đối tác để mua được, nhưng vấn đề mấu chốt là giá cả của các loại chiến hạm này vượt quá tầm với của nước ta. Để có được một cặp khu trục hạm cùng với các loại tên lửa, đạn dược, Việt Nam có thể phải chi thấp nhất là 1,2-1,3 tỷ USD, đây là gánh nặng quá lớn đối với ngân sách quốc phòng eo hẹp của ta.
Hiện nay, phương án khả thi nhất là Việt Nam phải liên kết với 1 vài nước trong khu vực có cùng điểm yếu như Indonesia, Malaysia…, xây dựng một kế hoạch phát triển lực lượng tàu khu trục đồng bộ với một đối tác duy nhất, thực sự mong muốn kiềm chế Trung Quốc là Ấn Độ. Như vậy, mới có thể làm giảm chi phí ban đầu hoặc giá thành mua sắm, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia
Theo baodatviet

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

Gia Cát Lượng bái sư học Đạo

Gia Cát Lượng là một nhà quân sự nổi tiếng phò tá Lưu Bị của nhà Thục Hán thời Tam Quốc (220-280 SCN). Ông thường được mô tả là mặc một chiếc áo choàng trắng dài và tay cầm chiếc quạt bằng lông hạc.
 
Hồi nhỏ, khi Gia Cát Lượng lên 8, 9 tuổi vẫn chưa biết nói, gia cảnh lại nghèo, do đó phụ thân ông đã để ông chăn cừu trên một ngọn núi ở gần đó.
Trên núi có một đạo quán, trong đạo quán có một lão đạo sĩ tóc bạc. Lão đạo sĩ mỗi ngày đều ra ngoài đi du ngoạn. Một ngày nọ, ông trông thấy Gia Cát Lượng và thử trêu đùa cậu bé, thì cậu bé cũng đùa lại với ông. Từ đó Gia Cát Lượng và lão đạo sĩ thường trò chuyện với nhau bằng cách ra dấu tay. Lão đạo sĩ thấy Gia Cát Lượng thông minh khả ái nên đã tiện thể trị bệnh cho cậu. Không lâu sau, bệnh câm của Gia Cát Lượng đã được chữa khỏi.
Khi có thể nói được, Gia Cát Lượng vô cùng cao hứng; cậu hướng về lão đạo sĩ để bái tạ. Lão đạo sĩ nói: “Hãy về nhà nói với cha mẹ rằng ta sẽ thu con làm đồ đệ, dạy con biết đọc biết viết, học thiên văn địa lý, và phép dùng binh bằng Âm Dương Bát Quái. Nếu cha mẹ con đồng ý, thì hằng ngày con hãy đến đây học, không được bỏ buổi nào.”
Kể từ đó, Gia Cát Lượng bái lão đạo sĩ làm sư phụ. Bất chấp gió mưa, hàng ngày Gia Cát Lượng đều lên núi nghe giảng. Cậu thông minh hiếu học, chuyên tâm ghi nhớ, sách chỉ xem qua là đã hiểu, nghe giảng xong là đã nhớ. Vì thế lão đạo sĩ ngày càng thêm quý mến cậu.
Nháy mắt đã bảy, tám năm trôi qua.
Một ngày nọ, khi Gia Cát Lượng đang xuống núi và đi qua một cái “am” bỏ hoang, thì bất ngờ một trận cuồng phong thổi tới, kèm theo mưa gió rợp trời dậy đất. Gia Cát Lượng vội lánh vào trong am để trú mưa, thì bỗng nhiên, một người con gái cậu chưa từng trông thấy tới nghênh đón cậu vào trong nhà. Chỉ thấy cô gái này mày nhỏ mắt to, mảnh mai kiều diễm, tựa như tiên nữ hạ phàm. Gia Cát Lượng cảm thấy bị cuốn hút bởi cô gái. Khi trời tạnh mưa, cô gái tiễn cậu ra cửa, cười nói: “Hôm nay chúng ta coi như đã biết nhau. Từ nay về sau khi lên núi xuống núi thì xin hãy qua đây nghỉ ngơi và dùng trà.” Lúc Gia Cát Lượng từ trong “am” đi ra ngoài thì thấy có hơi chút kỳ quái, làm sao nơi chưa từng đến này lại có người ở.
Từ đó về sau, mỗi lần Gia Cát Lượng tới am, người con gái không chỉ ân cần tiếp đãi, mà còn có thịnh tình muốn giữ lại dùng cơm. Ăn cơm xong hai người không chỉ cười nói mà còn đánh cờ giải khuây. So với đạo quán, nơi đây quả thực là một thế giới khác hẳn. Gia Cát Lượng bắt đầu mê muội mà không tự nhận ra.
Tâm trí Gia Cát Lượng trở nên bị ảnh hưởng, và cậu cảm thấy chán nản khi học tập. Sư phụ giảng đến đâu thì quên đến đó, lời giảng đi vào tai này rồi xuất ra tai kia, không thể ghi nhớ, lúc đọc sách thì không biết là nói về cái gì, càng xem càng không nhớ.
Lão đạo sĩ biết có vấn đề, bèn gọi Gia Cát Lượng đến, thở dài một tiếng rồi nói: “Hủy cây thì dễ, trồng cây thì khó. Ta đã tốn quá nhiều công sức vì ngươi rồi.”
Gia Cát Lượng nghe sư phụ nói biết có chuyện, vội cúi đầu nói: “Sư phụ! Con sẽ không cô phụ một phen khổ tâm của ngài.”
“Lời này hiện tại ta không thể tin”, lão đạo sĩ nhìn Gia Cát Lượng và nói. “Ta thấy ngươi là đứa trẻ thông minh, định dạy ngươi thành tài, nên mới trị bệnh cho ngươi, thu ngươi làm đồ đệ. Mấy năm trước ngươi thông minh cần mẫn, sư phụ ta khổ tâm dạy ngươi cũng không cảm thấy khổ; nào ngờ giờ đây ngươi từ cần mẫn thành lười nhác, tuy thông minh mà cũng uổng công, lại còn nói sẽ không cô phụ một phen khổ tâm của ta, ta tin sao được?”
Lão đạo sĩ lại nói: “Gió không thổi, cây không động, thuyền không đảo, nước không đục.” Nói rồi chỉ vào cây cổ thụ bị rất nhiều dây mây cuốn vào ở trong sân cho Gia Cát Lượng xem. “Ngươi xem, cái cây kia tại sao sống dở chết dở, không thể tăng trưởng lên được?”
“Bởi vì dây mây cuốn rất chặt vào nó khiến nó không lớn được”, Gia Cát Lượng đáp.
“Đúng rồi, cái cây này ở trên núi, nơi đất đá khô cằn, rất cực khổ nhưng vẫn sống tốt vì nó quyết chí mọc rễ xuống dưới, đâm cành lên trên, không sợ nóng, không sợ lạnh, nên càng ngày càng cao lớn. Thế nhưng cái dây mây chỉ cuốn một lúc mà nó đã không lớn lên được, đây gọi là ‘cây sợ mây mềm quấn’ đấy!”
Vốn thông minh nhanh trí, Gia Cát Lượng không giấu giếm mà hỏi luôn sư phụ: “Sư phụ, sao ngài biết chuyện?”
Lão đạo sĩ nói: “Gần nước biết tính cá, gần núi rõ tiếng chim. Ta xem thần sắc ngươi, quan sát hành động của ngươi, còn không biết tâm sự của ngươi hay sao?” Lão đạo sĩ ngừng lại một lúc rồi nghiêm sắc mặt, nói: “Nói thật cho ngươi rõ, đứa con gái mà ngươi thích kia chẳng phải là người, nó nguyên là một con tiên hạc trên Thiên Cung, chỉ vì ăn vụng hội bàn đào của Vương Mẫu mà bị Thiên Cung đánh hạ xuống để chịu khổ. Tới nhân gian, nó hóa thành mỹ nữ, văn võ thì không, cày bừa chẳng biết, chỉ biết tầm hoan tác nhạc. Ngươi thấy tướng mạo nó đẹp, nhưng nó chỉ biết có ăn ngủ thôi. Ngươi cứ thần hồn điên đảo thế này, cuối cùng chẳng làm nên trò trống gì đâu. Nếu không theo nó chiều ý nó, nó còn làm hại ngươi.”
Gia Cát Lượng nghe xong sợ quá, vội hỏi xem phải làm sao.
Lão đạo sĩ nói: “Con tiên hạc này có thói quen, là mỗi khi đêm đến thì nó hiện nguyên hình, bay lên thiên hà tắm rửa. Lúc ấy, ngươi tiến vào phòng nó, lấy y phục nó đem đốt đi, y phục nó là mang từ trên Thiên Cung xuống. Bị đốt rồi thì nó không thể hóa thành mỹ nữ được nữa.”
Gia Cát Lượng nghe lời sư phụ dặn dò và rời đi. Trước khi đi, lão đạo sĩ đưa cậu một cây gậy đầu rồng và nói: “Con hạc này khi phát hiện trong am phát hỏa, sẽ lập tức từ thiên hà phi trở xuống, gặp ngươi đang đốt xiêm y của nó, tất không chịu thua. Nếu nó làm hại ngươi, hãy dùng quải trượng này đánh nó, nhớ đấy!”
Giờ Tý đêm hôm đó, Gia Cát Lượng nhẹ nhàng vào trong am, mở cửa phòng, quả nhiên thấy trên giường có một bộ xiêm y, nhưng không thấy người đâu. Cậu lập tức nhóm lửa đốt cháy bộ xiêm y đó đi.
Tiên hạc đang lúc tắm trên thiên hà, đột nhiên trong lòng bất an, vội vàng đi xuống nhìn quanh thì thấy trong am có lửa, vội vàng hét to rồi phi trở xuống. Khi thấy Gia Cát Lượng đang đốt xiêm y, nó nhào tới và dùng mỏ mổ vào mắt Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng nhanh mắt nhanh tay, cầm lấy quải trượng, lập tức đánh con hạc rớt xuống đất. Cậu vội chìa tay ra chộp nhưng chỉ nắm được cái đuôi. Tiên hạc liều mạng vùng vẫy thoát ra, vỗ cánh thật mạnh rồi bay vọt lên không trung, nhưng đám lông đuôi thì bị Gia Cát Lượng giứt đứt hết.
Tiên hạc bị cụt đuôi, không còn giống những tiên hạc khác trên Thiên Cung nữa nên vô cùng xấu hổ. Từ đó nó không dám lên thiên hà tắm rửa nữa, cũng không thể biến lại thành mỹ nữ vì đã bị đốt mất xiêm y, đành vĩnh viễn ở tại nhân gian, chui vào lẫn lộn với bầy bạch hạc.
Từ đó Gia Cát Lượng không quên bài học này, đem đám lông đuôi tiên hạc đi cất giữ cẩn thận, lấy đó làm tấm gương để răn mình.
Từ đó về sau Gia Cát Lượng ngày càng cần mẫn, phàm sư phụ giảng gì, đọc sách gì thì đều ghi nhớ, tâm lĩnh thần hội, biến chúng thành thứ của bản thân mình. Lại qua một năm nữa, đúng vào ngày Gia Cát Lượng đốt họa bì của mỹ nữ, lão đạo nhân cười nói với Gia Cát Lượng: “Đồ đệ này, ngươi theo ta đã chín năm rồi, sách gì cần đọc thì đã đọc rồi, điều gì cần truyền thụ thì đã nghe rồi. Có câu nói ‘sư phụ lĩnh tiến môn, tu hành tại cá nhân’, ngươi nay đã 18 tuổi rồi, còn cần lập gia đình, ngươi hãy tự mình xử lý mọi việc.”
Gia Cát Lượng thấy sư phụ nói đã “học xong”, bèn vội vàng khẩn cầu, nói: “Sư phụ, đồ đệ càng học càng thấy học thức nông cạn, con nguyện ở lại với ngài học thêm bản lĩnh.”
“Bản lĩnh chân chính cần phải trong khi thực hành mới có thể đạt được. Sách đã học rồi, còn cần xem Trời Đất thiên biến vạn hóa thế nào, tùy thời mà chuyển, tùy cơ ứng biến, mới có thể hữu dụng được! Hãy lấy con tiên hạc kia làm bài học giáo huấn, từ nay chớ lại để tình sắc làm mê đắm nữa, đây là giáo huấn trực tiếp; hết thảy sự việc trên đời đều không được để giả tướng mê hoặc, nhất định phải xử lý cẩn thận, phải thấy rõ bản chất mới được. Đây coi như lời dặn dò lúc chia tay! Hôm nay ta phải đi đây!”
“Sư phụ, ngài định đi đâu?” Gia Cát Lượng kinh ngạc hỏi. “Từ nay con biết đến đâu tìm ngài?”
“Vân du bốn biển, không có định hướng”, lão đạo sĩ đáp.
Nhất thời không biết làm sao, Gia Cát Lượng nước mắt tuôn rơi, nói: “Sư phụ nhất định phải đi, thì xin nhận đồ đệ một bái, gọi là cảm tạ đại ân dưỡng dục.”
Gia Cát Lượng cúi mình làm lễ, lễ xong ngẩng đầu lên thì đã không thấy sư phụ đâu nữa. Từ đó cũng không nghe nói tung tích của lão đạo sĩ nữa
Lão đạo sĩ trước khi đi đã đưa cho Gia Cát Lượng một vật, chính là bộ y phục Bát Quái mà sau này ông thường xuyên mặc.
Gia Cát Lượng hoài niệm sư phụ, thường mang chiếc áo Bát Quái trên người, coi như vĩnh viễn cõng sư phụ trên lưng. Gia Cát Lượng không quên giáo huấn của sư phụ, nhất là lời dặn dò lúc chia tay, đặc biệt thường mang theo mình chiếc quạt bằng lông vũ, không rời khỏi tay, để tự răn mình phải hành sự thận trọng. Đây chính là lai lịch chiếc quạt lông vũ trên tay Gia Cát Lượng.
Phúc Chính