Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

 
 
Từ trước tới nay, câu chuyện cổ tích giản lược về Chử Đồng Tử và Tiên Dung thường hay làm dấy lên thắc mắc trong lòng người đọc: Tại sao công chúa Tiên Dung lại dám tự ý kết duyên không theo lệnh vua cha, Một câu chuyện gặp nhau trần trong phòng tắm ngoài trời, có gì mà đáng để lưu lại ngàn đời như vậy và có thể khiến trở thành một trong tứ bất tử ở Việt Nam. 
tien dung chu dong tu 3

Đó chính là bởi vì những gì tinh túy nhất, thâm sâu nhất đã bị giản lược đi, chỉ để lại hiện tượng bề mặt đọc qua thấy trần trụi và thô tục. Người đời sau tiếp đó lại gán cho câu chuyện sử những ý nghĩa theo nhu cầu của những con người hiện đại: quyền tự do yêu đương.
Sự thực có phải như vậy không?
Ý nghĩa của bản gốc: Hết thảy đều hành sự thuận theo Thiên ý 
Khi những câu chuyện được truyền lại đời này qua đời khác, người ta đã tự ý sửa lại theo nhận thức và quan niệm của mình. Vì càng ngày con người càng không tin thực sự có tồn tại Thần Phật, nên những chi tiết nguồn gốc “Tiên cốt” của các nhân vật hay các tình tiết thần thoại thường bị lược bớt đi sau này (“tiên cốt”  hay “cốt tiên” nghĩa là nhân vật vốn có nguồn gốc Thần Tiên trên thượng giới đầu thai làm người phàm).
Thay vào đó, các đời sau chỉ chép lại nội dung bề mặt, mô tả nhân vật như những con người gốc gác hoàn toàn phàm tục, và đưa vào những ý nghĩa phù hợp với quan niệm của mình.
Như đề cập tới trong phần 3: Tứ bất tử của Việt Nam, họ là ai, Chử Đồng Tử được tôn Chử Đạo Tổ (Đạo Tiên). Bản thần tích gốc về câu chuyện Chử Đồng Tử và Tiên Dung do Nguyễn Bình soạn vào năm 1572 toát lên ý nghĩa:
Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân vốn đều nguồn gốc Tiên trên thượng giới xuống theo Thiên ý để thực hiện sứ mệnh của mình. Hoàn cảnh gặp gỡ kỳ lạ hay hôn nhân tự nguyện rốt cuộc chỉ cái cớ tác thành để họ cùng nhau thực hiện sứ mệnh giúp dân giúp nước và đặt định tín ngưỡng Phật Đạo Thần cho dân tộc Việt
Hết thảy hành động của họ đều thuận theo Thiên Ý (ý trời). Câu chuyện gốc cổ nhất về Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân hoàn toàn không có ý nghĩa quyền tự do yêu đương.
[Qua câu chuyện gốc, các nhân vật đều toát lên sự thanh thoát cao thượng, điềm tĩnh, không chút dung tục phàm trần, không màng danh, lợi, tình ái. Họ chỉ đơn giản là tùy duyên để thực hiện vai diễn dưới hạ giới, đắc đạo, hành đạo, cứu nhân trước khi bay trở về Thiên giới.]
Chúng ta cùng đi vào tình tiết chính của câu chuyện:
Vua Hùng thứ 18, là vua Hùng Duệ Vương, sinh được một người con gái đẹp như tiên vì thế đặt tên là Tiên Dung.
Ngay trước lúc sinh công chúa, nhà vua nằm mộng thấy mình bồng trên tay một bé gái có mây ngũ sắc vờn quanh. Đêm ấy hoàng hậu thụ thai rồi sinh ra công chúa Tiên Dung.
Tiên Dung xinh đẹp, nết na hiếu thảo. Năm Tiên Dung 16 tuổi nhiều Lạc Hầu, Lạc Tướng đều nhắm nhe muốn xin làm con rể vua Hùng; thái tử con vua nước phương Bắc, Hoàng đế nước láng giềng phía Nam cũng gửi lễ vật xin được ra mắt Tiên Dung.
Hết thảy lời cầu xin Tiên Dung đều từ chối. Không phải nàng trịch thượng kiêu kỳ, hay muốn quyền tự do lựa chọn, mà là nàng chờ đợi Thiên Ý.
Công chúa cúi đầu tâu với vua cha: Muôn tâu Phụ vương, con trộm nghĩ truyện trăm năm do Trời Đất sắp đặt, việc lúc nào đến sẽ đến, con đâu dám trái mệnh trời.
Vua Hùng nghe hài lòng, không ép. Lại thể theo ý nguyện của Tiên Dung, nhà vua truyền cấp cho chiếc thuyền lớn để nàng đi du ngoạn khắp nơi.  Công chúa tâu với vua cha: Muôn tâu con mong muốn biết các thần dân của phụ vương sống ra sao, muốn xem bờ cõi phụ vương mở rộng tới đâu, núi sông tươi đẹp như thế nào.
Lần ấy công chúa Tiên Dung cho thuyền xuôi dòng sông Cái đi mãi về xuôi.
Giữa những bãi dâu, lũy tre, đồng lúa xanh rì, con sông uốn khúc đưa thuyền công chúa trôi mãi tựa như có một bàn tay vô hình đưa đẩy. Đứng tựa mạn thuyền, chợt công chúa thấy qua khúc ngoặt hiện ra trước mắt mình một bãi cát vàng chạy dài tít tắp. Sao đây chưa phải là bờ biển, sao đây không gần núi đá cao mà lại có  bãi cát mịn sạch bong như thế này?
Tiên Dung truyền lệnh cắm sào lên bãi cát dạo chơi. Nước sông trong vắt, sóng lăn tăn vỗ quanh mạn thuyền, bãi cát phẳng lỳ chưa hề có dấu chân người. Tiên Dung tung lên bãi quả còn, thế là cả đám thị nữ ùa theo. Tiên Dung truyền vây màn, cho nàng tắm mát.
Nước mát lạnh khi nàng dội mấy chục gáo nước và vì thế không hề hay biết cát khô dưới chân bị nước cuốn trôi để lộ ra cái đầu, tảng ngực trần và toàn bộ thân thể một người con trai, cũng giống nàng, không một mảnh vải che thân. Công chúa suýt kêu lên một tiếng gọi thị nữ. Vừa lúc người kia ngửng lên, Tiên Dung kịp nhận ra gương mặt chàng trai hai mắt mở to, vẻ còn sợ hãi hơn nàng. Tiên Dung hỏi: Người là ai? sao lại ở đây? Chàng trai đáp: Thưa tôi họ Chử, làm nghề đánh cá, nhà ở gần đây thôi. Tôi … Công chúa lại hỏi tiếp: Vậy nhà ngươi mắc tội gì? Vì sao phải đi trốn như thế này? Chàng trai vẫn nằm yên trên cát, trả lời: Tôi không có tội gì cả, chỉ vì tôi nghèo, không có quần áo che thân nên khi thấy người lạ, phải chui vào bãi cát, bụi lau lẩn trốn…
bai cat chu dong tu
Nơi bãi cát Chử Đồng Tử trốn, nay chính là Xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, Hà Nội
Không thể kéo dài cả hai trong cảnh ngộ như thế này. Tiên Dung ném cho chàng trai cái khăn và gọi chàng trai đứng dậy, ngắm nhìn gương mặt thuần hậu của chàng, nàng hỏi tiếp: Chuyện của chàng hẳn là dài lắm? 
Tên chàng là Chử Đồng Tử. Đồng Tử quê ở Chử Xá (nay thuộc xã Văn Đức, Huyện Gia Lâm, Hà Nội).
Cha chàng là Chử Cù Vân, mẹ tên Bùi Thị Gia. Một này kia, trong lúc ông bà Chử đi vắng, đột nhiên ngọn lửa bốc lên thiêu trụi căn nhà nhỏ, không để lại chút gì dù chỉ là cái bát mẻ để ăn cơm. Rồi sau đó bà Gia ốm nặng, và mất. Từ đấy cha con Chử Đồng Tử lủi thủi bên nhau, cuộc sống vô cùng nghèo khổ. Có lẽ trên thế gian này chưa có ai nghèo như bố con họ Chử, nghèo đến mức cả nhà chỉ có một chiếc khố dùng chung. Suốt ngày, hai người ngâm mình dưới nước đánh bắt cá, mỗi lần có việc phải tiếp xúc với người ngoài hoặc đi chợ bán cá, mua gạo thì cha nhường con, con nhường cha mặc khố lên bờ.
chu dong tu 3
Trước khi ra đi, ông Chử Cù Vân dặn con: Bố chết đã có đất cát vùi kín. Con ở trần gian không thể ở trần đi ra ngoài, nên giữ khố này để mà dùng.
Nhưng Đồng Tử đã ngăn lại và nói: Bố cứ yên lòng. Con sống ở đời chịu khó làm ăn sẽ mua được nhiều quần áo.
Không thể để cha chết trần. Chử Đồng Tử quỳ lạy cha xin tha tội bất hiếu, đóng khố cho cha cẩn thận rồi mới đem chôn.
Cũng từ đấy Chử Đồng Tử thường suốt ngày lặn ngụp đánh cá ở những quãng sông vắng. Mỗi lần gặp thuyền buôn đi qua chàng cứ phải đứng ngâm nửa mình dưới nước.
Sẽ không ai biết trên đời có một chàng Chử Đồng Tử hiếu thảo nhường ấy, nghèo khổ nhường ấy, nếu như…
Thiên duyên kỳ ngộ: cuộc gặp gỡ của hai người có sự dẫn dắt của Trời
… Chử Đồng Tử bạo dần lên, kể tiếp: Tôi đang đánh cá thì nghe tiếng đàn hát, cười nói. Sự tình hoảng hốt còn phân vân chưa biết tính sao thì thuyền đã lướt tới. Cũng vì hôm nay tôi mải đuổi bắt một con cá to. Khi đầu nó nhô lên, hai mắt như hai viên ngọc, vẩy bạc óng ánh. Cứ mỗi lần con cá quẫy đuôi là tôi lao tiếp theo vài sải. Những tưởng mười mươi chộp được, ai ngờ nó lặn mất tăm, ngẩng đầu lên đã thấy buồm gấm như một đám mây phủ sẫm mặt nước. Tôi chỉ còn cách xấp ngửa chạy lên bờ như mọi khi tìm bụi lau chui vào ẩn nấp. Nhưng… quanh mình chỉ thấy bãi cát trống trơn. Thưa, bãi cát… như là con sông theo lệnh Long Vương rút cạn nước mà nên sự tình. Vì quãng sông này tôi thường lui tới. Vừa mới hôm qua tôi còn ở đây mà chưa hề thấy. Tôi càng chạy cát càng lún dưới chân, ngoảnh nhìn lại thấy thuyền đã đậu bên bờ. Thuyền đậu mà vừa to vừa lạ. Tôi chỉ còn cách moi cát vùi mình xuống. Tưởng cố nằm chờ, mọi sự sẽ qua đi. Ai ngờ…
tien dung 2
Chử Đồng Tử vừa ở nơi đó hôm qua còn chưa có bãi cát này, rồi lại được dẫn dắt để đuổi theo con cá mà tới địa điểm gặp gỡ, nào có gì là ngẫu nhiên, đó đều là do Trời sắp đặt, là ý Trời dẫn dắt.  
Đến lượt Tiên Dung tự kể chuyện mình: Thiếp là con gái vua Hùng… Chử Đồng Tử giật mình quỳ xuống: Tôi không được biết, xin tha tội chết. Tiên Dung vội bước lên, nâng chàng dậy.
Nàng Tiên Dung chắp hai tay trước ngực, mặt ngửa nhìn trời: Tôi đã nguyện không lấy chồng nhưng hôm nay  gặp chàng trai trong cảnh ngộ này cũng là do Trời Đất xếp đặt xui khiến.
Nói rồi nàng vén màn truyền thị nữ mang thêm cho một bộ quần áo, bộ nam trang luôn có sẵn trên thuyền đã một lần công chúa mặc cải dạng lên bờ trảy hội.
Tất cả thị nữ đều kinh ngạc mở to mắt khi thấy nữ chủ nhân của mình từ trong màn bước ra bên một chàng trai tuấn tú. Hai người sánh vai nhau bước xuống thuyền.
Công chúa kể lại sự tình cho các thị nữ cùng nghe rồi truyền mở tiệc hoa. Từ lúc bước chân lên thuyền, bước vào một thế giới mới giàu sang quyền quý, lại biết mình sẽ kết vợ chồng cùng công chúa, Chử Đồng Tử có ý từ chối. Nhưng Tiên Dung nói: “Ta làm theo ý Trời, là do duyên Trời tác hợp, chàng việc gì mà lo ngại?”
Hai người bước ra đầu thuyền quỳ trên chiếc chiếu đậu. Trước mặt là hương án bày đĩa hoa, bát nước và ba nén hương. Đôi vợ chồng trẻ khấn lạy cảm ơn sự tác thành của Trời Đất, cầu xin các đấng thần linh chứng giám.
Công chúa Tiên Dung: Mời chàng sang nghỉ phòng bên. Thiếp đã cho người về báo với vua Cha, Mẫu Hậu và Thái Trưởng công chúa, Duyên khánh công chúa, Thái Hiến công chúa. Khi nào được phép chúng ta sẽ thành thân. Bổn phận làm con, phải giữ tròn chữ hiếu, chữ trinh.
Người thị nữ cầm giá nến đi trước dẫn đường, Chử Đồng Tử theo sau.
Nào ngờ… Nghe con gái cử người về báo tin, vua Hùng nổi giận: Tiên Dung không biết trọng danh tiết, đi chơi giữa đường lại hạ giá, lấy người nghèo. Thiếu gì vương tôn công tử mà đi lấy một người không rõ gốc gác. Từ nay mặc kệ nó, không cho trở về nữa.
Nhập thế gian
Thế là chàng Chử Đồng Tử không khoác áo phò mã cưỡi ngựa hồi cung. Còn công chúa Tiên Dung bán hết ngọc ngà châu báu đổi lấy bộ quần áo nâu sồng trở thành một cô gái nơi quê mùa cùng chồng xây dựng tổ ấm.
Đôi vợ chồng trẻ không về Chử Xá, làm nhà mới ở xuôi phía dưới nơi mà sáng sáng chỉ cần chống cửa là nhìn ngay thấy bãi cát trời đất xếp đặt cho hai người gặp nhau.
Thế rồi mưa thuận gió hòa, thóc đầy bồ, tôm cá đầy khoang, nơi Chử Đồng Tử – Tiên Dung ở, người theo về quần cư ngày càng đông vui. Làng thêm xóm mới. Chợ thêm phiên, lều quán kéo dài. Bến sông kè đá. Thuyền to không biết từ phương xa nào tới mang theo nhiều hàng quý hiếm.
Một hôm Tiên Dung bàn với Chử Đồng Tử: Thiếp nghe người khách buôn phương xa mới tới đây nói rằng đất mình nhiều sản vật quý… Nếu biết vượt biển mang bán tận phương xa thì sau mỗi chuyến đi một dật vàng lãi thành mười dật. Chàng thấy thế nào?
Ban đầu Đồng Tử gạt đi: Trước đây ta nghèo đến mức không có cả đến cái khố mà mặc, nay được giàu có sung sướng thế này là mang ơn trời đất lắm rồi. 
Tiên Dung: Nếu mộng giàu sang thì thiếp đã chẳng theo chàng. Ngoài đất nước ta, còn có núi sông nào nữa? Ngoài thế giới ta đang sống, còn có thế giới nào nữa? Chàng hãy nghe em, thử một chuyến đi xa.
[Có lẽ đây chính là thiên ý. Chử Đồng Tử cần phải đi để gặp Thầy gặp Đạo]
Gặp Sư Phụ và đắc đạo
Chử Đồng Tử nghe lời háo hức lên thuyền cùng người khách thương vượt biển. Sau ba ngày ba đêm, thuyền thả leo dưới chân một đảo vắng lấy thêm nước ngọt. Trong khi các thùy thủ sửa sang buồm lái thì Chử Đồng Tử lững thững lên bờ dạo chơi. Chàng thấy hòn đảo xanh tươi, phong cảnh đẹp lạ kỳ, con chim có tiếng hót lạ như dụ chàng vui chân đi tiếp, đi mãi sâu vào bên trong đảo. Chử Đồng Tử ngửng đầu lên nhìn thấy chót vót trên núi cao một cái am cỏ. Từ trong khe núi có một cụ già râu tóc bạc phơ bước ra. Ông cụ đầu đội nón mây, tay lê gậy trúc, chân dậm hài cỏ vừa đi vừa phất tay áo rộng, hát rằng:
Núi cao chót vót nước lại thâm
Trong cõi trần ai kẻ tri âm
Ai kẻ tri âm thời đồng tâm
Đồng tâm xin kết bạn giai âm
Kết bạn giai âm muôn dặm cũng tầm
Vui với núi cao cùng nước thâm.
Chử Đồng Tử đón sẵn bên đường, vái lạy: Tôi trộm nghe câu hát, biết mình có phúc được gặp bậc tiên. Dám xin rủ lòng cho theo học đạo.
Ông cụ nói: [Ta chờ con đã lâu rồi.]
Nói đoạn quay người đi trước bước chân thoăn thoắt. Đồng Tử theo sau thấy mình đạp lên đá mà nhẹ như đi trên mây, một chốc tới am cỏ, nhìn xuống xa vời không thấy bãi đá, cây rừng đâu cả. Ông cụ giữ Chử Đồng Tử ba ngày, truyền dạy phép thuật.
Trước khi chia tay, cụ cho Chử Đồng Tử một chiếc gậy và một cái nón, dặn: Phép biến hóa ở cả trong hai thứ này.
Chử Đồng Tử xuống núi, ngoảnh lại đã không thấy am cỏ đâu. Đang hoảng sợ thì nhìn phía xa chàng thấy trên mặt biển thấp thoáng một cánh buồm vội dơ tay vẫy gọi. Thuyền ghé vào bờ, không ngờ gặp đúng những người đã cùng Chử Đồng Tử đi buôn. Người trên thuyền mừng rỡ kể lại hôm ấy Chử Đồng Tử lên đảo rồi lạc trong khe núi. Mọi người chia nhau tìm kiếm hồi lâu không thấy đành phải nhổ neo đi tiếp. Ai cũng nghĩ Đồng Tử không còn nữa. Chuyến buôn nay mới trọn vẹn, mọi người cho thuyền quay mũi dong buồm về đến đây, tính chuyện lên thắp nén hương. Một người nói: Vừa đúng ba năm… Chử Đồng Tử giật mình nhớ lại:
Chàng ở trên núi chỉ có ba ngày. Thì ra một ngày trên cõi tiên bằng một năm dưới hạ giới.
Tiên Dung thấy chồng đắc đạo trở về thì mừng lắm. Nàng cũng xin được truyền dạy phép thuật, cả hai vợ chồng cùng tu luyện rồi đi hành đạo, cứu nhân độ thế.
Hành đạo cứu người
Tiên Dung nói: Ta đã hằng sản hằng tâm cứu người nghèo, giúp kẻ khó, làm cho nhiều người có nhà ở, cơm ăn, áo mặc. Nhưng cái sự đau ốm, tử biệt sinh ly thì vẫn chưa làm cho trăm họ vợi đau khổ phần nào.
Chử Đồng Tử chỉ vào chiếc gậy, cái nón, nhắc lại lời ông cụ trên am cỏ nói với mình: Phép biến hóa ở cả trong hai vật này.
Phải năm phát dịch người chết rất nhiều. Có nhà chết không còn một ai. Có làng đầu xóm, cuối xóm ngày đêm vang tiếng người khóc thảm thiết.
Trước tai họa của nhân dân, Chử Đồng Tử – Tiên Dung ra tay cứu vớt. Người chết nằm đó, chỉ cần Chử Đồng Tử cầm gậy thần chỉ thẳng vào là mở mắt hồi sinh. Nghe tin làng Ông Đình chết nhiều người lắm. Chử Đồng Tử ngả nón rồi cùng Tiên Dung ngồi lên bơi vun vút qua sông. Khi hai ông bà tới nơi thì hầu như cả làng không còn bóng người, xác chết nằm phơi khắp trong nhà ngoài ngõ. Những người đang hấp hối cũng chỉ biết nằm thoi thóp thở. Chử Đồng Tử phải đến gần cầm gậy đập mấy cái liền vào từng xác chết, gọi: dậy, dậy mau! Những xác người từ từ mở mắt rồi ngồi nhỏm dậy. Khi biết mình vừa được sống lại họ quỳ lạy tạ ơn rối rít. Chử Đồng Tử cười, hỏi: Khỏe hẳn chưa? Đáp: Thưa, khỏe lắm rồi ạ. Chử Đồng Tử: Khỏe thì ra sân vật nhau cho ta xem !
Người nghe, tất thảy reo hò ầm ĩ kéo nhau ra sân ra bãi ôm nhau, vật nhau theo tiếng trống thúc dồn dập của người cầm chịch. Nhưng ngoảnh nhìn thì cứu tinh của họ, ông bà Chử Đồng Tử – Tiên Dung đã đi từ lúc nào. Hẳn là hai người tiếp tục đi đến những thôn khác, đáp ứng lời nguyện cầu của dân làng khác đang có dịch bệnh hoành hành.
Từ ngày đắc đạo, Tiên Dung đã chia hết của cải cho người nghèo trong vùng. Hai người như hai vị khách lữ hành đi khắp mọi nơi cứu nhân độ thế.
Huyền thuật hiển linh 
Một bữa nọ hai người đang bước mải miết trên đường thì trời xập tối. Làng xóm còn xa, chung quanh gò hoang, đầm nước vắng vẻ, sương đêm bốc lên lạnh lẽo. Chử Đồng Tử – Tiên Dung đều cảm thấy mỏi mệt bèn bảo nhau dừng chân tạm nghỉ. Hai người chọn nơi cao ráo, cắm chiếc gậy xuống, úp cái nón lên rồi ngồi bên dưới tựa vào vai nhau nhắm mắt thư giãn.
lau dai
Chẳng ngờ phép thuật hiển linh. Nửa đêm quanh chỗ hai người ánh sáng chói lòa. Rồi trong phút chốc cả một tòa thành quách, lâu đài, cung điện hiện ra. Trời đã sáng, dân đi làm thấy có sự lạ, bảo nhau theo đến rất đông. Người ta thấy cổng thành cờ xý rực rỡ, lính canh uy nghiêm, voi ngựa ra vào rầm rập. Nhìn vào bên trong thấy lâu đài tráng lệ, tỳ tướng, quân hầu, thị nữ đứng giàn hai bên như đang tấu trình công việc. Ngồi trên giữa chính điện là Chử Đồng Tử – Tiên Dung, mặc áo hoàng bào thêu long phượng, nét mặt oai nghiêm mà đầy nhân hậu.
Biết mình có diễm phúc được bậc thiên tiên che chở, dân các miền bảo nhau kéo về quy phục, lập thành phố xá đông vui như một nơi đô hội.
Khách phương xa tới nước mình trước khi đến Phong Châu đều dừng thuyền lên bờ vào làm lễ ra mắt Chử Đồng Tử – Tiên Dung.
Ngày tháng trôi qua, Chử Đồng Tử – Tiên Dung mải miết hành nghề cứu dân. Những lúc rỗi hai người lại ngồi bên nhau trò chuyện. Chử Đồng Tử: Từ ngày làm bạn với nàng cuộc đời ta thay đổi nhưng cũng chưa bao giờ mơ ước được có hôm nay. Tiên Dung đáp: Do có sự xếp đặt của Trời cả thôi. 
Chử Đồng Tử lại nói: Như cái sự mong muốn của ta là con người thoát cảnh nghèo nàn được sống ấm lo hạnh phúc thì đã đạt một phần. Tiên Dung lắc đầu: Con người có thể sống dư thừa ấm no, nhưng hạnh phúc thì còn tùy thuộc… Đồng Tử gật đầu:
Nàng nói chí phải. Ai chẳng biết lúc trăng tròn đầy là đẹp, nhưng không biết trăng non đầu tháng mọc nơi hoàng hôn, trăng khuyết  rụng ngay buổi bình minh nơi mặt trời mọc. Đạo ta còn phải truyền rộng..
Duyên tiếp duyên và cùng nhau thực hiện sứ mệnh
Hai người lại đi khắp bốn phương, có lần vào tới tận cửa biển Quỳnh Nhai, nay thuộc Nghệ An, khi ấy là biên giới nước ta.
Lần ấy Chử Đồng Tử – Tiên Dung vừa rời lâu đài đi tới Đông Kim (thuộc xã Đông Tảo ngày nay) thì gặp một người con gái đang cấy lúa bên đường. Thấy Chử Đồng Tử dừng ngựa nhìn cô gái, Tiên Dung hiểu ý chồng bèn đế gần nói với cô:  Em là người tiên hay người trần? Thiếu nữ trả lời: Em là Tây Sa, tiên nữ ở Tây cung xuống giả là người trần đó thôi. Cũng như hai vị, nay đã đắc đạo.
Cuộc hội ngộ hôm nay hẳn do ý trời. Tiên Dung nói: Mưu sự tại nhân, hành sự tại Thiên (con người mưu sự, nhưng thực hiện là do Trời).
Chử Đồng Tử hỏi: Ta đã học được đạo cứu giúp con người, các nàng có đi theo ta không? Cả hai nàng cùng đáp: Cứu người là việc thiện, sao chúng em lại không theo? Từ đấy Chử Đồng Tử có thêm người vợ thứ, vốn là tiên nữ Tây cung đầu thai vào một nhà họ Nguyễn có nghề thuốc nam gia truyền, dân trong vùng quen gọi là nàng Nguyễn.
Nàng Nguyễn đã về Phong Châu chữa bệnh cho vua Hùng. Khi nhà vua khỏi bệnh truyền đem lụa, gấm ra tiễn. Nàng Nguyễn cúi đầu lạy tạ, thưa chính công chúa Tiên Dung nghe tin vua cha ốm đã cử nàng về thay mặt Chử Đồng Tử – Tiên Dung báo hiếu.
Hoàn thành sứ mệnh trở về thiên quốc
chu dong tu
Ảnh: Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân
Nhưng rồi thanh thế Chử Đồng Tử – Tiên Dung ngày càng rộng lớn. Tiếng đồn về lòng nhân đức, sự cảm phục tài năng phép thuật cứu được người chết sống lại càng ngày càng xa. Thêm vào đó những lời đồn đại về cung điện nguy nga, lâu đài thành quách rộng lớn, phố chợ đông vui, nhiều người về quy phục đến tai vua Hùng, cố tình gây cho nhà vua lòng nghi ngờ Chử Đồng Tử – Tiên Dung mưu đồ phản nghịch. Nghe lời sàm tấu nhà vua quyết định cử tướng mang quân đi đánh bắt Chử Đồng Tử – Tiên Dung về hỏi tội.
Quân nhà vua sát khí đằng đằng, gươm giáo sáng lóa chỉ một ngày tốc thẳng tới nơi. Nhưng vì trời tối và còn cách con sông rộng nên các tướng truyền hạ trại ngày mai sẽ tấn công bắt trói giải nghịch tử nghịch nữ về triều.
Trong lâu đài, các tướng của Chử Đồng Tử – Tiên Dung xin được ra nghênh chiến. Ai cũng muốn có dịp lập công tạ ơn Chử Đồng Tử – Tiên Dung. Ai cũng muốn làm sáng tỏ nỗi oan ức vì sự hiểu lầm của vua cha.
Nhưng Chử Đồng Tử gạt đi: Việc binh đạo sát hại dân lành là điều ta trước nay không muốn. Tiên Dung cũng khuyên mọi người: Đạo làm con không được chống lại cha. Hai người truyền đóng cửa thành. Nhấc nón, nhổ gậy.
Quan quân nhà vua còn đang bàn tính. Dân trong vùng còn đang lo lắng chờ đợi. Thì nửa đêm trời nổi sấm chớp, mưa như trút nước, gió mạnh đổ rạp ngọn cây.
Tự nhiên ánh sáng chiếu lòa như giữa ban ngày, những người bạo nhất dám hé mắt nhìn ra thấy trong tiếng ầm ầm cả tòa lâu đài thành quách của Chử Đồng Tử – Tiên Dung đang bốc khỏi mặt đất rồi bay vút về trời.
Sau đó mưa tạnh, gió yên. Cho đến sáng quan quân mới dám cử người đi dò la rồi lần lượt sang sông. Đến nơi, ai nấy kinh hãi nhìn nhau vì trước mặt chỉ là một đầm nước rộng mênh mông. Cả tòa thành lớn cùng tiên chủ, quân hầu không để lại vết tích gì. Đó là đêm 17/11 Âm lịch.
dam mot dem 1
Đền Hóa Dạ Trạch- Đầm một đêm xã Khoái Châu, Hưng Yên, nổi tiếng linh thiêng, nơi Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân cùng thành quách bay về trời
  Vua Hùng hay tin, về tận nơi xem xét. Bấy giờ mới tường mọi việc. Nhà vua cho đặt tên đầm là Nhất Dạ Trạch (đầm một đêm). Lại truyền xây miếu thờ Chử Đồng Tử – Tiên Dung, nhà vua mở đầu lễ dâng hương, dặn nhân dân địa phương ngày đêm thờ phụng, hàng năm triều đình cử quan đại thần về làm lễ tưởng niệm. Tất cả những nơi Chử Đồng Tử – Tiên Dung đã tới truyền đạo, cứu giúp, nhân dân cũng lập đền thờ rất tôn nghiêm.
Tham khảo: Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Huyền Sử Tiên Dung Chử Đồng Tử (Nguyễn Bình 1572)
Hà Phương Linh
Theo daikynguyenvn
 
 
Người không có Đức thì không thể làm nên việc gì, Đức chính là điều trọng yếu trong việc tu thân. Trong nền văn hóa Thần truyền vừa lâu đời vừa thâm thúy của nước ta, “Thực hành Đức chính, chọn người hiền tài” là cốt lõi của việc trị quốc bình thiên hạ, là mỹ đức mà người đời xưa nay luôn lấy làm gương và lưu truyền rộng rãi.
gia cat luong
Tranh minh hoạ Gia Cát Lượng. (Ảnh: Internet)
Hiền nhân thường thường là nói về những người có tài năng cứu nhân độ thế, đức hạnh cao thượng. Cổ nhân luôn luôn lấy tiêu chuẩn chọn người gồm nhiều mặt cả đức lẫn tài, và không hề coi đức với tài như nhau, mà là vô cùng coi trọng vị trí thống soái và tác dụng chủ đạo của Đức đối với tài, đặt Đức lên trên cùng. “Tài giả đức chi tư, đức giả tài chi soái” (Tạm dịch: Người có tài chỉ là phụ, người có Đức mới quan trọng). Tư Mã Quang thời Bắc Tống căn cứ theo quan hệ giữa Đức với tài đã chia người ta ra làm 4 loại: Đức tài toàn vẹn là Thánh nhân, Đức tài đều kém là người ngu, Đức trên tài là quân tử, tài hơn đức là tiểu nhân. Khi dùng người, tốt nhất là lựa chọn Thánh nhân, sau đó là quân tử, nếu như đều chẳng có, thì thà chọn người ngu còn hơn chọn tiểu nhân. Bởi vì có tài mà vô Đức là loại người nguy hiểm nhất, so với loại người không tài không Đức thì còn tồi tệ hơn. Khang Hy thời nhà Thanh dùng người tài thì có một tiêu chuẩn nhất quán như sau: “Quốc gia dùng người, cần phải lấy Đức làm căn bản, tài nghệ chỉ là thứ yếu”. “Tài Đức đều cao thì tốt, nếu có tài mà kém Đức, thì cũng không bằng có Đức mà không có tài”.
Thời kỳ Chiến quốc có một câu chuyện rằng: Ngụy Huệ Vương hỏi Tề Uy Vương:“Ông là Vương nước Tề, chắc hẳn là thu thập được nhiều bảo vật?”
Tề Uy Vương đáp: “Không có”.
Ngụy Huệ Vương nói: “Nước nhỏ như nước tôi, cũng đều có tàng trữ mấy viên minh châu lớn đường kính cả tấc, loại trân châu ấy phát ra ánh sáng có thể chiếu rọi 12 chiếc xe. Ông là vua nước lớn như thế, tại sao một chút bảo vật cũng chẳng có?”.
Tề Uy Vương nói: “Châu báu quý nhất của nước tôi là người tài, bảo vật này so với bảo vật mà ông nói thì không như nhau. Tôi có một bề tôi tên là Đàn Tử, tôi phái ông ta trấn thủ Cao Đường, người nước Triệu ở phương Bắc không dám xâm phạm. Có một bề tôi khác tên là Kiềm Phu, tôi phái ông ta đóng ở Từ Châu, có thể quản lý hơn 7000 hộ dân từ bốn phương trời lui tới. Tôi còn có một bề tôi tên là Loại Thủ, dưới sự quản lý của ông ta trăm họ an cư lạc nghiệp, đồ vật đánh rơi trên đường không ai nhặt lấy, đêm không cần phải khóa cửa. Châu báu như thế, quang minh chói lọi nghìn dặm, chứ đâu chỉ có 12 cỗ xe?”. Tề Uy Vương như vậy là đã nói ra nguyên nhân tại sao nước Tề giàu mạnh.
Thừa tướng Gia Cát Lượng thời Thục Hán lúc lâm chung bèn đề cử với Hậu Chủ giới thiệu Tương Uyển làm quan Tướng quốc, nói rằng bình thường người ấy chú trọng việc tu thân, có Đức hạnh cao thượng, biết nghe lời trung, làm việc vô tư. Sau khi Gia Cát Lượng qua đời, Tương Uyển mỗi ngày xử lý hàng vạn việc, lấy việc chính sự và chăm sóc cho nhân dân làm cơ bản, độ lượng khoan dung, không phụ hy vọng của mọi người. Lúc đó nước Thục yếu nước Ngụy mạnh, nước Ngụy có rất nhiều nhân tài kiệt xuất, nhiều lần đánh Thục, vậy mà Tương Uyển và Khương Duy có thể bảo vệ được nước Thục trong suốt 29 năm trường, khiến cho đất nước hòa bình yên ổn, chứng minh Gia Cát Lượng dùng người rất chính xác. Kỳ thực Gia Cát Lượng bản thân là một nhân tài. Ông vì kế hoạch thống nhất Trung Quốc mà đã “Cúc cung tận tụy, đến chết không thôi”. Ông ở trong“Xuất sư biểu” trao cho Hậu Chủ có viết:“Nhà thần có 800 cây dâu tằm, áo cơm con cháu có thể tự lo được. Ngày thần chết, không muốn trong nhà có dư dả lụa là gấm vóc hay tiền của lợi tức, cũng giúp được cho bệ hạ”. Người mà ông bổ nhiệm cũng đều thanh liêm biết tự giữ mình. Tương Uyển“Tính cách cao thượng khiêm tốn, trong nhà không tích cóp tài sản gì. Con cái ông đều làm ăn một cách bình dân, không khác gì trăm họ”. Khương Duy cũng là “Nhà cửa thanh đạm, không có tài sản gì đáng kể, ra vào cung chẳng có xe đưa đón”.
Làm việc chính sự có dựa trên Đức hạnh hay không, nó quan hệ đến việc một người phải chăng có thể dùng quyền hạn trong tay mà mưu lợi cho trăm họ, quan hệ đến tác phong và uy tín của tác phong tập quán của nhân dân và quan lại, và sự an nguy của chính quyền. Từ xưa đến nay, quan lại có Đức hạnh cao, phẩm cách tốt là cơ sở của một nền chính trị liêm khiết sáng sủa, họ vào bất kỳ lúc nào cũng có thể đặt lợi ích của trăm họ lên hàng đầu, đó cũng là giá trị chân chính của việc chọn người tài đức. Ngược lại, chỉ chọn dùng kẻ thân thích thì chỉ có thể làm cho đất nước và dân tộc suy yếu nguy vong. Bởi vì nó lấy lợi ích cá nhân làm căn bản, khiến cho lòng ích kỷ ham muốn cá nhân bành trướng, những kẻ kém cỏi hoành hành, vô cùng tai hại. Những loạn thần tặc tử xưa nay, phần nhiều không phải là vì kém tài mà là vì kém Đức. Vô Đức mới là mối họa lớn của con người.
Thái Kinh thời Bắc Tống có sở trường là thư họa, lúc ấy rất có danh tiếng. Tống Huy Tông thấy vậy vô cùng vui mừng. Thái Kinh bèn lấy các bức thư họa và bình phẩm của mình, một mặt nhờ người khác đem tặng cho Tống Huy Tông, cung phi và hoạn quan. Thái Kinh chính là dựa vào kiểu a dua nịnh hót như thế mà dần dần được làm Tể tướng. Hắn hoang phí rất nhiều tiền của quốc gia xây dựng mở rộng hoàng cung, cho đến trước lúc triều Bắc Tống diệt vong thì đều tại xây dựng, vàng bạc tham ô còn nhiều hơn cả ngân khố triều đình. Hắn hãm hại trung thần, kết bè kéo đảng, chỉ chọn dùng toàn thân thích. Một lần, Thái Kinh tìm người mà ông ta đã đề bạt trước đây là Ngô Bá Cử làm việc. Ngô Bá Cử muốn làm theo quy củ chế độ của triều đình, Thái Kinh lập tức nổi giận bừng bừng thét: “Đã làm quan to mà còn muốn làm người tốt, sao có thể như vậy được?”.Lập tức giáng chức Ngô Bá Cử trục xuất khỏi triều đình. Thời kỳ Thái Kinh nắm quyền triều chính, nạn hối lộ hoành hành, dân chúng lầm than, là thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử nhà Bắc Tống. Nhân dân cả nước đứng lên kêu gọi đem tử hình Thái Kinh để tạ tội với thiên hạ. Trung thư thị lang Hầu Mông nói: “Nếu như Thái Kinh có thể mưu tính một cách đoan chính, thì dù là Tể tướng hiền lương từ thời cổ đại cũng không hơn được ông ta! Đáng tiếc là ông ta không theo con đường chính đạo”.
Từ đó có thể thấy, bất kể là người tài năng, trí óc tới đâu, nếu như trong lòng không chính, không những là không thể cống hiến cho đất nước, mà ngược lại sẽ tạo thành nguy hại to lớn. Đây là do không tu dưỡng đức hạnh mà ra. Ngày nay, đạo đức xã hội mỗi ngày trượt dốc hàng vạn dặm, việc chấn hưng nền văn hóa thần truyền vĩ đại có ý nghĩa càng trọng yếu. Pháp luật chỉ ràng buộc hành vi của con người, còn đạo đức ràng buộc tâm người, Pháp trị tiểu nhân, Đức trị quân tử. Chúng ta cần phải giữ vững tâm pháp đạo đức, mới có thể đi trên con đường chính đạo, mới có được tương lai tươi sáng, mới có thể khiến phong tục tập quán của người dân đi theo đường chính, vạn sự được hưng vượng phồn vinh, thiên hạ được thái bình.
Zhi Zhen
Theo daikynguyenvn
 
 
Người xưa ở Trung Quốc thường có câu “Phụ nữ không có tài, chính là đức”, vậy ý nghĩa chân thực của câu này nghĩa là gì.
(Ảnh: internet)
(Ảnh: internet)
Câu chuyện Một giảng viên đại học ở Trung Quốc giải thích câu “Phụ nữ không có tài, chính là đức” sau đây cho thấy những lý giải của người thời nay là hổ thẹn với tổ tông.
Câu “Nữ tử vô tài tiện thị đức” (Phụ nữ không có tài, chính là đức) này luôn khiến cho những nhà vận động nữ quyền căm ghét đến cực độ, họ cho rằng câu nói này là của cánh mày râu dùng để hạ thấp phái nữ! Thế nhưng sự thật không những không phải như vậy, mà còn hoàn toàn ngược lại! Số lượng phụ nữ hiểu lầm về câu nói này là rất lớn! Vậy tại sao lại nói như thế!
Khi tôi dạy một lớp học, có một nữ học sinh đưa hai tay khoanh trước ngực hỏi tôi: “Thưa thầy giáo, tại sao thầy hay tán dương những câu cổ ngữ như vậy, em xin hỏi thầy, cổ nhân nói: “Phụ nữ không có tài, chính là đức”, xin thầy giải thích giúp em xem, tại sao người xưa lại phân biệt đối xử với phận nữ nhi chúng em như thế? Làm sao có thể coi họ là thánh hiền được?”
Tôi nói: “Câu hỏi của em rất hay, mọi người đều có hiểu lầm như vậy, có điều trước khi giải thích, thầy muốn trước hết hỏi em, vế trên của câu nói này là gì?”
Em học sinh nghe tôi hỏi ngây ra một lát, sau đó mới nói: “Ủa, có sao? Có vế trên nữa sao ạ?” Những học sinh ngồi bên dưới lặng im như tờ, có một học sinh tiếp lời: “Vế trên là: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã” “(Duy chỉ có phụ nữ và tiểu nhân là khó giáo dưỡng) !
Tôi nói: “Đây cũng là một vấn đề mà mọi người đều hiểu lầm đấy, thầy sẽ sử dụng một cách hiểu khác để giải thích lại, tuy nhiên câu vừa rồi không phải là vế trên của câu: “Nữ tử vô tài tiện thị đức”, bởi vì một câu bảy chữ, một câu mười chữ, số lượng từ không đồng nhất, sao lại làm vế trên được?”
Lúc này, các em học sinh to mắt nhìn nhau và đều bị choáng váng với câu hỏi của tôi.
Tôi nói tiếp: “Nguyên ban đầu vế trên của câu này là: “Nam tử hữu đức tiện thị tài” (Đàn ông có đức chính là tài) nên vế dưới mới là: “Nữ tử vô tài tiện thị đức”!”
Câu đầu tiên: “Nam tử hữu đức tiện thị tài”, câu này là hy vọng về một người đàn ông có triển vọng, cần phải lấy đức làm gốc, tài năng chỉ là phụ trợ. Tại sao lại phải lấy đức làm gốc?
Hãy nhìn xem xã hội hiện nay loạn như thế nào, những thứ lừa đảo rất nhiều, lên mạng xem thì những sự việc cổ quái, kỳ lạ và tàn ác… cái gì cũng có. Đây chính là hậu quả của việc có tài mà lại khuyết thiếu đức, tóm lại, câu nói này có ý khuyên bảo rằng là đàn ông thì phải lấy đức làm gốc, chứ không phải là bảo họ không cần coi trọng tài cán.
Còn vế dưới: “Nữ tử vô tài tiện thị đức” (phụ nữ không tài, chính là đức hạnh) là có ý nghĩa gì? Vẫn là ý khuyên bảo người phụ nữ phải lấy đức hạnh làm gốc, chứ không phải là đánh giá thấp hay hạ nhục rằng phụ nữ thì không thể có tài cán gì. Tất cả điều này bị hiểu sai là bởi vì hiểu sai chữ “vô” trong từ “vô tài” mà tạo thành. Từ “vô” này là động từ, là có ý rằng “vốn có” nhưng coi như “không”, cũng chính có ý là “vốn có tài” nhưng trong lòng lại tự cho mình là không có.
Đơn cử một ví dụ mà nói, giống như cổ nhân nói “Vô vật” (không có gì) không phải là trên đời này không có vạn vật, mà là dẫu ở bên trong cái xoay vần của vạn vật, nhưng nội tâm không có bất kỳ chướng ngại nào, “vô ngã” không phải là không có mình, mà là có ý rằng tâm không bị vướng mắc đối với hết thảy được mất. “Vô niệm” không phải là thật sự không có ý niệm, suy nghĩ gì, mà có ý là không có ý nghĩ xằng bậy, ngông cuồng.
Cho nên nói “vô tài” không phải thực sự không có tài, mà là “ta mặc dù rất có tài nhưng tuyệt đối không khoe khoang cái tài đó, cho nên tự cho mình là “không tài cán” gì, phụ nữ thời cổ đại, “cửa chính không ra, cửa sau không bước” (ý nói thường xuyên ở nhà và không tiếp xúc với người ngoài) mà lại có được tài hoa hơn người, hơn nữa còn có thể tự cho mình là “không tài”, đây chẳng phải đức hạnh vô cùng cao thượng sao? Câu này rõ ràng là ca ngợi người phụ nữ trong xã hội thời xưa chúng ta có đức hạnh cao thượng! Đâu có chỗ nào là có ý phân biệt đối xử với phụ nữ chứ? Vậy mà chúng ta còn có hiểu lầm sâu nặng đến như thế với một câu nói hay như vậy, chúng ta quả thực là đã dùng tâm tiểu nhân để đo lòng quân tử, là chúng ta đã có lỗi với người xưa, chứ không phải người xưa có lỗi với chúng ta!”
Phụ nữ thời cổ đại, “cửa chính không ra, cửa sau không bước” (ý nói thường xuyên ở nhà và không tiếp xúc với người ngoài) mà lại có được tài hoa hơn người, hơn nữa còn có thể tự cho mình là “không tài”, đây chẳng phải đức hạnh vô cùng cao thượng sao?
phu-nu-2
Sau khi nghe tôi giải thích xong, các học sinh nữ đều thấy khoan khoái trong lòng, các học sinh nam thì như trút được gánh nặng.
Mai Trà biên dịch từ NTDTV
Theo daikynguyenvn.com
 
 
Thần thoại cổ đại Trung Quốc mô tả việc tạo ra vũ trụ, nguồn gốc của con người, và sự xuất hiện của văn hóa. Chúng là một phần di sản của văn hóa 5000 năm Trung Quốc.
Bàn Cổ dựng trời.(Chen Zhiching / Thời báo Đại Kỷ Nguyên)
Thần thoại cổ đại Trung Quốc mô tả việc tạo ra vũ trụ, nguồn gốc của con người, và sự xuất hiện của văn hóa. Chúng là một phần di sản của văn hóa 5000 năm Trung Quốc.
Ví dụ, các thần thoại cổ xưa kể lại câu chuyện về việc trái đất được hình thành như thế nào. Thuở xưa ông bà ta kể với con cháu rằng vũ trụ được sáng tạo bởi Bàn Cổ.
Vũ trụ trước khi được tạo ra là một quả trứng lớn và hỗn loạn. Từ trong quả trứng Bàn Cổ được sinh ra. Bàn Cổ ngủ trong quả trứng đó trong vòng 18 ngàn năm. Khi ông tỉnh dậy, trời đất đều tối thui. Bàn Cổ vươn tay và chân làm mở tung quả trứng. Ánh sáng và dương khí dâng lên hình thành một bầu trời xanh cao lớn. Đồng thời, âm khí nặng và dày hạ xuống hình thành vùng đất rộng bao la. Vũ trụ từ đó có trời và đất.
Bàn Cổ trụ trời và đất, dần dần bầu trời trở nên cao hơn và mặt đất trở nên rộng hơn. Bàn Cổ càng ngày càng trở nên cao lớn hơn. Mười tám ngàn năm trôi qua, bầu trời không thể cao thêm và mặt đất không còn có thể hạ thấp thêm được nữa. Từ đó Bàn Cổ trở thành vị thần cai quản trời và đất, và bằng cách này trái đất không trở lại trạng thái hỗn loạn của nó.
Bàn Cổ là vị thần duy nhất cai quản trời và đất. Trạng thái của thế giới đi theo cảm xúc của ông ta. Khi ông hài lòng, bầu trời quang đãng, và khi ông giận dữ, thời tiết trở nên u ám. Giọt nước mắt của ông đem mưa đến và hơi thở mạnh của ông đem đến những cơn gió mạnh. Khi ông ta chớp mắt, sấm sét đến và khi ông ta ngáy sấm chớp rầm rầm.
Rất nhiều năm trôi qua, bầu trời rất cao và trái đất rộng thênh thang. Bàn Cổ sau khi hoàn thành sứ mệnh của mình, cơ thể ông đã biến thành mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, núi, sông và cây cỏ… Theo cách này, ông đã quên mình dành toàn bộ cơ thể mình cho sự sống tương lai của con người.
Theo người Trung Quốc, truyền thuyết cổ xưa kể lại rằng Nữ Oa sáng tạo ra nhân loại, tất cả chúng ta đều là con cháu của bà.
(Theo theepochtimes)
 
 
Nhiều nhà khoa học chuyên nghiên cứu về môi trường và kiến trúc trên thế giới đang tập trung khảo sát một mô hình thôn trang kỳ bí theo bố cục bát quái ở Trung Quốc.
Thôn này có tên là thôn Gia Cát hay Bát Quái, tọa lạc tại thị trấn Lan Khê, tỉnh Triết Giang, được mệnh danh là “Trung Quốc đệ nhất thôn”. Đây cũng chính là trung tâm sinh sống của hậu duệ Khổng Minh Gia Cát Lượng nổi tiếng thời Tam Quốc.

Dựa theo Bát quái trận đồ lập nên thôn
Vào cuối đời Tống, đầu nhà Nguyên (khoảng năm 1300), hậu duệ đời thứ 27 của Gia Cát Lượng là Gia Cát Đại Sư bắt đầu lập thôn Bát Quái tại Lan Khê, Triết Giang.
Theo sử chép, Gia Cát Lượng từng lập ra một trận pháp thần kỳ gọi là Bát trận đồ, biến ảo khôn lường, uy lực vô cùng, từng vây khốn cả 10 vạn tinh binh của đại tướng Đông Ngô Lục Tốn. Gia Cát Đại Sư đã vận dụng học thuyết Kham dư (phong thủy) vào Bát quái trận đồ của ông tổ mình, thiết lập thôn trang án theo Cửu cung bát quái.
Toàn cảnh thôn bát quái nhìn từ trên cao.
Thôn lấy cái hồ lớn (chung trì, nửa nước nửa đất) hình thái cực làm trung tâm, 8 con đường từ hồ toả ra thành “nội bát quái”. Phía ngoài thôn lại đắp 8 tòa núi nhỏ hình thành “ngoại bát quái” bao bọc. Các sảnh, đường, nhà ở phân bố dọc theo 8 đường. Gia Cát Đại Sư trước khi qua đời có để di huấn là không được thay đổi nguyên dạng.
Trải qua hơn 800 năm dâu bể, lượng người trong thôn tăng lên nhiều, nhưng tổng thể cửu cung bát quái không hề thay đổi. Trong thôn có đền thờ Thừa tướng Gia Cát Lượng, hoa viên, ba nhà bia, 18 sảnh đường, 18 giếng, 18 ao, hơn 200 phòng ốc đều là kiến trúc cổ đời Minh, Thanh độc đáo.
Trung tâm thôn bát quái là một hồ nhỏ. có hình xoáy âm dương, còn gọi là hồ thái cực.
Con cháu Gia Cát đời đời đều theo lời giáo huấn của tổ phụ “không làm lương tướng, tất làm lương y” nên nhiều đời theo nghề thuốc.
Trong thôn có cả Nhà triển lãm trung y dược, vườn thảo dược… Nơi đây, riêng đời Minh, Thanh có 5 tiến sĩ, 11 cử nhân, hàng trăm tú tài. Các chuyên gia, học giả Trung Quốc đang đề nghị đổi Lan Khê thành Thành phố Võ Hầu (tước hiệu của Khổng Minh – Gia Cát Lượng).
Đêm không cn đóng ca, ngoài không nht ca rơi”
Theo nhiều nhà nghiên cứu, kiến trúc bát quái này có công năng phòng vệ và cải tạo môi trường rất cao. Thôn Gia Cát đặc biệt mát mẻ, sạch sẽ, thông thoáng.
Nhà kiến trúc Từ Quốc Bình cho rằng, kiểu kiến trúc của thôn này hoàn toàn khác với phong cách thôn trang truyền thống Trung Quốc, không lấy trung tuyến làm chủ mà bức xạ ra 8 hướng.
Kiến trúc trong thôn bát quái.
Các nhà trong thôn mặt đối nhau, đuôi liền nhau, đường nối nhau, rất thoáng mà kỳ thực kín đáo. Địa hình xung quanh nhìn giống như cái nồi, bốn phía cao, giữa thấp. Người ngoài vào thôn, nếu không có người quen dẫn đường thì lẩn quẩn không biết lối ra.
Nhà thư pháp Gia Cát Cao Phong, cháu đời thứ 42 của Gia Cát Lượng cho biết, trong thôn “đêm không cần đóng cửa, ngoài không nhặt của rơi”.
Năm 1925, chiến tranh ác liệt, quân đội của Quốc dân đảng là Tiêu Kính Quang đánh nhau với quân phiệt Tôn Truyền Phương ba ngày dữ dội sát bên thôn Bát Quái nhưng không có viên đạn nào lọt vào thôn. Khi quân Nhật tấn công xuống phía Nam, đại quân kéo qua đại lộ Long Cương nhưng không phát hiện ra thôn này. Duy có một lần máy bay Nhật ném bom trúng một phòng trong thôn.
Theo thống kê tại hội thảo “Nghiên cứu Gia Cát Lượng học” lần thứ 7 toàn Trung Quốc (10/1993), hậu duệ các chi của Gia Cát Lượng hiện có khoảng 16.000 người, riêng ở Lan Khê có hơn 6.000 người. Trong thôn này, hơn 4.000 người đều mang họ Gia Cát và xưng là “người mình” với nhau.
Theo baodatviet
 
 

Tương truyền Tôn Tẫn chính là cháu của Tôn Vũ (tức Tôn Tử), là người thông minh, có nghĩa khí.

Ảnh dienanh
Ảnh dienanh
Tôn Tẫn là người nước Yên, cha là Tôn Tháo, mẹ là Công Chúa Yên Đơn, ông nội là Tôn Võ Tử .
Công Chúa Yên Đơn thọ thai 48 tháng mới sanh ra Tôn Tẫn. Lúc sanh ra là lúc Công Chúa Yên Đơn đương bị khổn trong trận do Hỗn Thiên Tán của Túy Vân, nên nằm bất tỉnh rồi lâm bồn đúng giờ Tý tại núi Kinh Kha nước Yên
Lúc Tôn Tẫn lên 9 tuổi thì Tôn Tháo mất, Tôn Kiều là chú đang làm quan Đại Phu nước Tề đem Tôn Tẫn về nuôi dưỡng. Sau đó Tôn Kiều gặp nạn, phải lánh sang nước Châu, gia đình sa sút, Tôn Tẫn phải đi làm thuê để sinh sống .
Tôn Tẫn lớn lên, nghe đồn Quỉ Cốc Tiên Sinh có tài cao phép lạ , nên tìm đến xin thọ giáo. Nguyên ở Dương Thành thuộc địa phận nhà Châu, có một chỗ gọi là Quỉ Cốc, vì nơi ấy có núi cao rừng rậm, âm khí nặng nề. Trong núi ấy có một ẩn sĩ họ Vương tên Hủ , trước ở núi Vân Mộng cùng Mặc Địch hái thuốc, tu Tiên, sau đến ẩn nơi Quỉ Cốc, nên người ta thường gọi là Quỉ Cốc Tiên Sinh .
Quỉ Cốc Tiên Sinh có học vấn uyên bác, tu Tiên đắc đạo, tinh thông lý số, thông hiểu lẽ huyền vi của Trời Đất, lại cũng tinh thông binh thơ đồ trân. Học trò của Quỉ Cốc Tiên Sinh có nhiều người tài giỏi như : Tôn Tẫn, Bàng Quyên, Tô Tần, Trương Nghi, vv… Tôn Tẫn và Bàng Quyên thì học về binh pháp. Còn Tô Tần và Trương Nghi thì học về du thuyết .
Bàng Quyên học được 3 năm, tự cho mình đã giỏi rồi, nên xin thầy cho xuống núi đi lập công danh.
Quỉ Cốc bảo Bàng Quyên đi hái một cành hoa đem vào đây để thầy đoán vận mạng cho. Bàng Quyên đi ra khỏi động, nhằm lúc khí Trời nóng nực, cây cối không ra hoa, chỉ thấy một bông hoa cỏ, liền nhổ lên cả gốc, toan đem trình thầy, bỗng nghĩ rằng bông hoa nầy mềm yếu và không đẹp nên ném xuống đất, rồi đi tìm hoa khác, nhưng không tìm được cành hoa nào, đành trở lại chỗ cũ, nhặt cành hoa đã bỏ lúc nảy, bỏ vào túi áo, rồi vào trình thầy rằng :
– Trong núi mùa nầy không có hoa. 
– Không có hoa thì vật gì trong túi áo của ngươi đó ?
Bàng Quyên không giấu được, buộc phải đưa ra trình.
– Nhà ngươi có biết cái hoa nầy tên gì không ? Nó là hoa Mã Đâu Linh, mỗi lần nở 12 bông, ứng với số năm vẻ vang của ngươi. Hoa nầy hái ở Quỉ Cốc, thấy mặt Trời thì héo, bên chữ QUỈ có chữ ỦY  thành chữ NGỤY (đây đều là chiết tự tiếng Trung Quốc) , nhà ngươi xuất thân ở nước Ngụy. Sau nầy nhà ngươi vì việc lừa dối người mà bị người lừa dối lại. Vậy nên lấy điều đó mà răn mình. Ta có 8 chữ nầy, nhà ngươi khá nhớ : “ Gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì hỏng.”
Bàng Quyên lạy thầy 2 lạy nói rằng :
– Lời giáo huấn của thầy, đệ tử hết lòng ghi nhớ.
Tôn Tẫn tiễn Bàng Quyên xuống chơn núi.
Bàng Quyên nói :
– Đệ cùng huynh kết nghĩa anh em, thề giàu sang cùng hưởng, khốn nàn cùng gánh. Chuyến đi nầy nếu đệ lập được công danh thì sẽ tiến cử huynh để cùng lập cơ nghiệp.
Hai người chia tay, Tôn Tẫn buồn rớm nước mắt, trở lên núi. Quỉ Cốc Tiên Sinh hỏi Tôn Tẫn :
– Ngươi bảo cái tài của Bàng Quyên làm được Đại Tướng không ?
– Nhờ ơn thầy dạy bảo đã lâu, lẽ nào Bàng Quyên không làm được Đại Tướng ?
– Không làm được, nhứt định không làm được. 
Tôn Tẫn nghe thầy nói vậy thì lấy làm lạ nhưng không dám hỏi thầy lý do. Hôm sau, Quỉ Cốc bảo các học trò :
– Ban đêm, ta rất khó ngủ, ta rất ghét tiếng chuột kêu. Các trò phải luân phiên nhau thức mà đuổi chuột cho ta.
Các trò đều vâng lời, chia phiên thức gác. Tới phiên Tôn Tẫn, Tiên sinh lấy một quyển sách trao cho Tôn Tẫn nói :
– Đây là 13 thiên binh pháp của ông nội nhà ngươi tên là Tôn Võ Tử, xưa đem dâng cho vua Hạp Lư nước Ngô, nhờ đó mà Hạp Lư phá tan quân Sở. Hạp Lư giữ cuốn sách nầy làm gia bảo, bỏ vào hộp sắt, giấu vào cột Cô Tô Đài. Từ khi quân nước Việt đốt Cô Tô Đài, cuốn sách ấy mất tích luôn.Ta có chơi thân với ông nội ngươi, nên được xem sách ấy, ta nhớ và ghi lại, tự tay ta chú giải thêm nhiều điều bí mật trong cách hành binh. Ta chưa từng cẩu thả giao sách cho ai, nay thấy ngươi trung hậu, nên ta giao cho ngươi học, trong 3 ngày giao lại cho ta. Học cuốn sách nầy, khéo dùng thì làm lợi cho thiên hạ, không khéo dùng thì hại rất lớn. Bàng Quyên không là người tốt, nên ta không dạy.
Tôn Tẫn đem sách về phòng, ngày đêm nghiền ngẫm, trong 3 ngày thì nằm lòng. Ba ngày sau, Tôn Tẫn đem sách nộp cho thầy. Tiên Sinh theo từng thiên hỏi lại Tôn Tẫn, Tôn Tẫn đối đáp rất trôi chảy. Tiên Sinh mừng rỡ nói :
– Ngươi biết dung tâm như thế, Tỗ phụ ngươi dầu đã qua đời chắc rất vui lòng.
Nói về Bàng Quyên, xuống núi thẳng đến nước Ngụy, vào cầu quan Tướng Quốc Vương Thác. Vương Thác tiến cử Bàng Quyên lên vua Ngụy Huệ Vương. Khi Bàng Quyên vào chầu vua, gặp lúc nhà bếp dâng lên món thịt dê. Bàng Quyên mừng thầm vì nhớ lời thầy dặn , gặp dê thì vinh .
Bàng Quyên được Huệ Vương trọng dụng, lần lần phong lên đến chức Nguyên Soái, kiêm Quân Sư. Con trai là Bàng Anh, cháu là Bàng Thông, Bàng Mai đều được vua phong làm Tướng, cả nhà vinh hiển. 
Lúc bấy giờ có Mặc Địch ghé Quỉ Cốc thăm bạn cũ là Vương Hủ (Quỉ Cốc Tiên sinh), Mặc Địch gặp Tôn Tẫn, đàm luận rất hợp ý, bèn bảo Tôn Tẫn :
– Anh học nghệ đã thành, sao không đi lập công danh ?
– Tôi có người bạn học là Bàng Quyên, đã ra làm quan ở nước Ngụy, có hẹn khi nào đắc chí sẽ tiến cử tôi, nên tôi đợi.
– Bàng Quyên đã làm Nguyên soái nước Ngụy, để tôi vì anh mà đến đó dọ ý Bàng Quyên thế nào ?
Mặc Địch từ giã Quỉ Cốc rồi đi vào nước Ngụy, nghe Bàng Quyên cậy tài, nói quá không biết thẹn, không có ý tiến cử Tôn Tẫn. Mặc Địch vào nói cho Huệ Vương rõ các việc. Huệ Vương liền đòi Bàng Quyên đến hỏi :
– Ta nghe nói Tôn Tẫn cùng học một thầy với Nguyên soái, lại được học riêng binh pháp bí truyền của Tôn Võ Tử, tài giỏi không ai bằng, sao Nguyên soái chẳng vì Quả nhân mà tiến cử người ấy đến giúp Trẫm. 
– Tâu Bệ hạ, hạ thần không phải không biết tài của Tôn Tẫn, nhưng Tôn Tẫn là người nước Tề, nay làm quan nước Ngụy thì thế nào cũng liên lạc với Tề. Nay Bệ hạ muốn triệu Tôn Tẫn thì hạ thần xin viết thơ gọi đến.
Bàng Quyên ở vào thế buộc phải viết thơ gọi Tôn Tẫn, nhưng thâm tâm rất sợ Ngụy Vương trọng dụng Tôn Tẫn, bỏ rơi mình, nên thầm tính kế hại Tôn Tẫn.
Bàng Quyên viết thơ xong, Huệ Vương dùng xe Tứ Mã và đồ lễ long trọng, sai người đến Quỉ Cốc rước Tôn Tẫn.
Tôn Tẫn tiếp được thơ của Bàng Quyên, vội đem trình thầy. Tiên sinh bảo Tôn Tẫn đi hái một cành hoa để bói coi tốt xấu. Tôn Tẫn thấy bình hoa trên án có một cành hoa cúc, bèn đến rút lấy đem trình thầy, rồi đem cắm trở lại vào bình.
Tiên sinh đoán rằng : Cành hoa nầy bị bẻ, không hoàn hảo, nhưng tánh chịu rét, dẫu có bị tàn hại cũng không hề gì. Vả cắm trong bình, mọi người đều quí trọng, mà cái bình ấy lại là vàng đúc cùng một loại với chung đỉnh, chắc rồi sẽ có tiếng tăm lừng lẫy. Nhưng cành hoa nầy 2 lần cất nhắc lại cắm vào bình, vậy sự nghiệp của ngươi chưa thể đắc ý ngay được, mà kết cuộc sẽ làm nên ở quê mình. Vậy ta đổi tên cho, có thể mong tiến thủ được. Tên ngươi là TÂN  , ta thêm một chữ NHỤC  ở bên tả thành chữ TẪN , vậy tên của ngươi là Tôn Tẫn (các ký tự tiếng Trung Quốc) . (Tân là khách, Tẫn là bị chặt xương đầu gối) Tiên sinh đổi tên như thế là vì Tiên sinh biết trước học trò mình bị cái hoạ chặt chân, nhưng không dám tiết lộ. .
Khi Tôn Tẫn lạy thầy từ biệt, Thầy trao cho một bức cẩm nang, dặn kỹ khi nào gặp việc nguy cấp mới mở ra xem. Tôn Tẫn lạy tạ thầy lần nữa, rồi xuống núi, lên xe Tứ Mã thẳng đến nước Ngụy, tạm ở trong phủ của Bàng Quyên.
Bàng Quyên biết Tôn Tẫn tài giỏi hơn mình, sợ Ngụy Vương dùng Tôn Tẫn, bỏ rơi mình, nên Bàng Quyên, ngoài mặt giả đò anh em thân thiết, nhưng ngầm lập kế ám hại Tôn Tẫn. Bàng Quyên giả mạo chứng cớ, cáo buộc Tôn Tẫn tư thông nước Tề để hại nước Ngụy. Huệ Vương nghe lời sàm tấu của Bàng Quyên, bắt Tôn Tẫn chặt chưn và thích vào trán 4 chữ “ Tư Thông Ngoại Quốc ”.
Tôn Tẫn trở thành phế nhân, mỗi ngày chịu ơn Bàng Quyên cung cấp 3 bữa ăn. Bàng Quyên lại dùng thủ đoạn để gạt người bạn cũ chép 13 thiên binh pháp truyền lại cho mình.
Tôn Tẫn vì lầm gian kế của Bàng Quyên nên rất khổ sở, quá chán nãn cho tình người đen bạc, lại bị vết thươngchặt chưn hành hạ quá đau đớn, muốn tìm kế thoát thân, nhưng chưa biết phải làm sao, sực nhớ bức cẩm nang thầy ban cho, liền bí mật mở ra xem, thấy thầy đề 2 chữ : Giả điên.
Buổi chiều hôm ấy, khi mâm cơm đưa tới, Tôn Tẫn cầm đũa định ăn, bỗng làm ra dáng mê man, nôn oẹ, hồi lâu nổi giận giương mắt hét to lên rằng : Mày dùng thuốc độc hại ta, rồi hất đổ mâm cơm xuống đất, miệng lảm nhảm chửi hoài.
Bàng Quyên được lính hầu báo cho biết việc Tôn Tẫn nổi điên thì không tin, đến tận nơi xem xét và nhốt Tôn Tẫn vào chuồng heo, đem cơm đến cho ăn. Tôn Tẫn lại hét : “ Mày lại đem thuốc độc đến hại ta à ?” Nói rồi gạt mâm cơm đổ xuống đất. Tên lính hầu nhặt cơm cho chó ăn, lấy một cục bùn đưa Tôn Tẫn thì Tôn Tẫn liền lấy ăn ngay.
Bàng Quyên tin chắc Tôn Tẫn điên thật nên không lấy làm lo, dần dần thả lỏng Tôn Tẫn muốn đi đâu thì đi, nhưng ra lịnh cho người theo dõi, mỗi sáng phải trình báo cho biết Tôn Tẫn hiện đang ở đâu.
Bấy giờ Mặc Địch sang chơi nhà Điền Kỵ nước Tề. Có người học trò tên Cầm Hoạt ở nước Ngụy đến. Mặc Địch hỏi thăm Cầm Hoạt lúc nầy Tôn Tẫn có đắc ý không ? Cầm Hoạt thuật lại việc Tôn Tẫn bị chặt châ và trở nên điên khùng.
Mặc Địch nói : 
– Ta muốn tiến cử hắn nào ngờ lại thành ra hại hắn.
Mặc Địch liền nói rõ tài học của Tôn Tẫn cho Điền Kỵ nghe và việc Bàng Quyên ganh tài ám hại Tôn Tẫn, khuyên Điền Kỵ tìm cách rước Tôn Tẫn sang Tề. Điền Kỵ vào tâu với vua Tề là Tề Uy Vương. Uy Vương muốn đem binh đón Tôn Tẫn thì Điền Kỵ can, nói phải lập kế mới rước Tôn Tẫn được. 
Uy Vương sai Thuần Vu Khôn sang Ngụy dâng trà, đem Cầm Hoạt đi theo giả làm kẻ hầu. Qua đến Ngụy, Cầm Hoạt bí mật đi tìm Tôn Tẫn, rồi mướn người khác giả làm Tôn Tẫn, đặng rước Tôn Tẫn thật về Tề.
Thuần Vu Khôn và Cầm Hoạt đưa được Tôn Tẫn ra khỏi nước Ngụy thì đi thẳng về Lâm Tri, có Điền Kỵ thân hành ra đón. Tề Uy Vương rất mừng, muốn phong Tôn Tẫn làm Quân Sư, nhưng Tôn Tẫn tâu rằng :
– Hạ thần chưa có chút công chi nên chưa dám nhận quan tước. Vả nếu Bàng Quyên biết thần làm quan cho Tề ắt lo đề phòng, chi bằng tạm giấu đi mới dễ bề hành động.
Uy Vương bằng lòng, cho Tôn Tẫn ở trong dinh Điền Kỵ, tôn là thượng khách.
Lúc đó, Ngụy Huệ Vương sai Bàng Quyên đi đánh nước Triệu để đòi đất Trung Sơn. Quân Triệu bị thua. Triệu Thành Hầu cầu Tề cứu viện. Tề Uy Vương định phong Tôn Tẫn làm Đại Tướng đem binh cứu Triệu. Tôn Tẫn tâu rằng :
– Hạ thần là kẻ tàn phế, nếu cho làm Đại Tướng e cho quân địch sẽ cười Tề không có tướng tài, chi bằng Đại Vương cử Điền Kỵ làm Tướng, và hạ thần bí mật theo giúp mưu kế.
Tề Uy Vương cử Điền Kỵ làm Đại Tướng, Tôn Tẫn làm Quân Sư bí mật ở trong xe, kéo đại binh cứu Triệu.
Điền Kỵ muốn đem quân thẳng đến Hàm Đan là kinh đô của Triệu. Tôn Tẫn nói : Tướng nước Triệu không đánh nổi Bàng Quyên, nên khi ta kéo quân đến đó thì Hàm Đan đã mất về tay quân Ngụy rồi, chi bằng ta cứ đóng quân giữa đường, rêu rao nói rằng ta đi đánh Tương Lăng của Ngụy. Huệ Vương lo sợ, ắt phải gọi Bàng Quyên trở về giữ Tương Lăng. Bấy giờ ta đón đánh Bàng Quyên thì thế nào cũng thắng.
Điền Kỵ y theo kế đó mà làm. Quả đúng như lời Quân Sư Tôn Tẫn, Bàng Quyên kéo binh về giữ Tương Lăng. Điền Kỵ bày binh theo cách của Tôn Tẫn, đánh Bàng Quyên một trận tơi bời, Bàng Quyên ban đêm chạy trốn về Ngụy.
Năm sau, Bàng Quyền cùng Thái Tử Thân đem binh đánh nước Hàn. Hàn sang cầu cứu Tề. Tề Uy Vương cử Điền Kỵ và Tôn Tẫn đi cứu Hàn.
Điền Kỵ muốn kéo quân đến nước Hàn. Tôn Tẫn nói :
– Không nên, trước kia ta cứu Triệu mà chưa hề đến Triệu, nay cứu Hàn cũng y theo kế hoạch đó. Cái thuật giải cứu Hàn là phải đánh vào nơi yếu trọng của Ngụy thì quân Ngụy tất phải kéo về. Cái kế ngày nay là phải đem binh thẳng đến kinh đô Ngụy thì mới cứu được Hàn.
Bàng Quyên đang thắng thế ở nước Hàn, nhưng Ngụy Huệ Vương ra lịnh cho Bàng Quyên phải tức tốc rút binh về đón đánh quân Tề đang thừa cơ kéo đến đánh kinh đô của Ngụy. Tôn Tẫn bày kế lừa Bàng Quyên. Quân Tề làm như sợ hãi khi biết Bàng Quyên kéo quân trở về Ngụy. Ban đầu làm 10 vạn bếp, sau đó rút quân như bỏ chạy, hôm sau làm 6 vạn bếp, hôm sau rút chạy nữa, chỉ còn làm 3 vạn bếp.
Bàng Quyên cho quân quan sát các bếp của quân Tề, cười lớn nói với Thái Tử Thân :
– Thật là hồng phúc của Ngụy Vương, quân Tề hèn nhát, vào đất Ngụy có 3 ngày mà binh sĩ bỏ trốn quá nửa. Kỳ nầy, Quyên sẽ bắt sống bọn Điền Kỵ để rửa cái hận Tương Lăng năm trước.
Nói xong, Bàng Quyên chọn 2 vạn tinh binh tiến gấp đánh quân Tề, còn đại binh từ từ đi sau.
Tôn Tẫn dọ biết tin đó, tính toán và dự kiến đoàn quân của Bàng Quyên sẽ đến Mã Lăng vào lúc tối. Đường Mã Lăng ở giữa hai trái núi có cây cối um tùm, rất dễ phục binh. Tôn Tẫn sai chặt cây ngã ngang để chẹn lối đi, chỉ chừa một cây to giữa đường, cho cạo sạch một một ô vuông vỏ cây ở phía Đông, rồi dùng than viết lên đó mấy chữ : “ Quân Sư Tôn bảo : Bàng Quyên chết tại cây nầy.”
Tôn Tẫn sai bộ tướng Viên Đạt, Độc Cô Trần, kén 5000 quân cung nỏ, mai phục 2 bên tả hữu Mã Lăng, dặn kỹ hễ nơi gốc cây có ánh lửa phát ra thì nhất tề nhắm vào đó bắn.
Lại sai Điền Anh dẫn 1 vạn quân mai phục cách Mã Lăng 3 dặm chẹn đường quân Ngụy.
Tôn Tẫn phân phát binh xong thì cùng Điền Kỵ dẫn binh còn lại lên đóng phía Bắc để dự bị tiếp ứng.
Bàng Quyên kéo binh đến Mã Lăng thì Trời vừa tối, thấy cây cối bị đốn ngã nằm ngổn ngang, cho rằng quân Tề sợ quân Ngụy đuổi theo kịp nên đốn cây cản đường như thế.
Bàng Quyên cho thu dọn cây cối, bỗng thấy có một cây giữa đường, gần nơi gốc đẽo trắng, có viết chữ nhưng Trời tối không thấy rõ. Bàng Quyên sai một tên lính châm lửa lên xem, Bàng Quyên đọc xong mấy chữ thì la lên : 
– Ôi ! Ta mắc mưu thằng què rồi !
Vừa la xong thì có cả muôn mũi tên từ nỏ bắn ra, quân Ngụy chết thôi vô số. Bàng Quyên bị loạn tên trọng thương, liệu không thoát được, bèn rút kiếm tự đâm cổ chết.
Cuộc đời của Bàng Quyên đúng y như lời của Quỉ Cốc Tiên Sinh đã nói trước : Ngươi sẽ vì lừa người mà bị người lừa lại, gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì hỏng. Bàng Quyên chết tại Mã Lăng. (Mã là ngựa).
Giết xong Bàng Quyên rồi, Tôn Tẫn xin với vua Tề cho về ẩn dật tu luyện ở núi Thạch Lư. Một năm sau, không còn ai biết Tôn Tẫn ở đâu nữa.
st
 
 
Tôn Tẫn lúc mới đến nước Tề, lúc này còn chưa ai biết về tài năng của ông , vậy ông làm sao để trở thành nhà quân sư lừng lẫy trong lịch sử.
ton tan
Thời Chiến Quốc, đại tướng nước Tề là Điền Kỵ thường cùng Tề Vương và các quý tộc cung đình cá cược đua ngựa. Mỗi cuộc thì đặt tiền cửa đến hàng trăm lượng vàng. Tuy ở chiến trường ông oai phong dữ dội, chiến công hiển hách là thế nhưng ở sòng bạc ông lại nhiều lần bị thất bại.
Sẩm tối ngày hôm ấy, nhà Điền Kỵ có một vị khách trông rất phong trần dầu dãi, người này tuy mặc áo vải nhưng có phong thái hơn người. Ông tên gọi Tôn Tẫn .Trong tiệc rượu, hai người đàm luận về chiến thuật chiến lược khi hai quân giao chiến. Nói đến chiến trận, Điền Kỵ phấn chấn hẳn lên, đặc biệt cách ăn nói thông minh và tài thao lược kinh người của Tôn Tẫn càng khiến ông hứng khởi vui thích. Bất giác đã qua ba tuần rượu, Điền Ky chợt nhớ tới chuyện đua ngựa, mặt mày như có đảm mây sầu che phủ. Tôn Tấn cảm thấy băn khoăn, vội vã hỏi:
Lão huynh, có chuyện gì phiền não thế?
 Điền Kỵ trầm ngâm hồi lâu, sau rất mới ngượng nghịu thổ lộ nỗi khổ não chất chứa trong lòng bấy lâu.
Tôn Tẫn nghe ông kể xong, trầm tư giây lát rồi nói: Việc này không hề khó, lần sau huynh có thể đặt tiền cược lớn gấp ba, đệ bảo đảm huynh sẽ thắng!
Điền Kỵ bán tín bán nghi hỏi;
– Lão huynh có diệu kế gì vậy?
Tôn Tấn có vẻ đã tính toán sẵn:
– Thưa vâng, đến lúc đó huynh tất sẽ rõ, không cần phải suy nghĩ nhiều đâu!
Đến hôm đó, Điền Kỵ đặt cược một nghìn đồng vàng ngay trước mặt mọi người. Tề Vương và những vương công quý tộc kia tưởng rằng ông thua nhiều nên cay cú làm bừa. Họ cười nói;
– Lần này ông ta sẽ thua thảm hơn, nhìn mà xem!
Phương pháp đua ngựa hồi đó là: người dự đua đều phải tự mình chia ngựa của mình làm ba loại thượng, trung, hạ. Sau đó vào cuộc đua lần lượt theo thứ tự thượng đẳng, trung đăng, rồi hạ đẳng. Cuộc đua xong xuôi, chỉ cần ngựa của ai hai lần được ghi, tên là ”đầu bảng cược”, coi như là thắng.
Lại nói hôm đó Điền Kỵ tuy đứt khoát đặt tiền cửa nhưng trong lòng vẫn không khỏi lo lắng, lẩm bẩm: ”Lần này nếu lại thua, thì có thể.. ”.
Lúc này, Tôn Tẫn đến gần Điền Ky, nói nhỏ:
Lão huynh, đừng có lo lắng, lại đây.. Hãy cho ngựa hạ đẳng của huynh đua với ngựa thượng đẳng của họ rồi lại dùng ngựa thượng đẳng của huynh đua với ngựa trung đẳng của họ, ngựa trung đẳng của huynh để cuối cùng mới dùng, như thế họ chỉ còn lại ngựa hạ đẳng. Hiểu rõ chưa?
Ái chà! –  Điền Kỵ nghe thế, vỗ đùi đen đét – Tại sao xưa nay ta không nghĩ ra điều này nhỉ?
Liền vội vàng đặn dò thủ hạ cứ sắp xếp như thế, như thế.
Kết quả cuộc đua, không ngoài dự kiến, Điền Ky thắng hai cuộc, thoắt cái mặt mày tưng bừng, bình tĩnh lấy đi một nghìn lạng vàng từ tay Tề Vương.
Ít lâu sau, Điền Kỵ không đã đem bí mật khiến ông chiến thắng trong cuộc đua ngựa kể cho quốc vương. Tề Vương vội vàng sai ông vời Tôn Tẫn đến. Từ đó, Tôn Tấn làm quân sư cho nước Tề, nhiều lần đánh bại địch thủ trên chiến trường, tiếng tăm lừng lẫy, trở thành một trong những nhà quân sự kiệt xuất trong lịch sử Trung Quốc.
st