Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

Ai là bậc chuyên gia tìm kiếm Thiên Lý Mã?

(Kiến Thức) - Thiên Lý mã vốn là tên gọi của loại ngựa tốt và quý nhất trong các giống ngựa, nhưng rất ít người biết được nó.

Năm (770 – 500 TCN), thời Xuân thu chiến quốc, ở Trung Hoa có một người họ Tôn tên Dương là bậc thầy am hiểu về ngựa, qua vóc dáng, ngoại hình có thể tìm kiếm và biết được đâu là Thiên Lý mã - loài ngựa có sức khỏe dẻo dai, chạy xa vạn dặm, nhưng nhẹ như lông hồng, chân không in dấu, nên người đời nể phục gọi là Bá Nhạc.
Thiên Lý mã vốn là tên gọi của loại ngựa tốt và quý nhất trong các giống ngựa, nhưng rất ít người biết được nó. Song nhờ có Bá Nhạc mà Thiên Lý mã được phát hiện và trở nên nổi tiếng, quý hiếm trong dân chúng. Bá Nhạc sống vào đời nhà Chu thời Xuân thu, cùng thời với Hàn Xương Lê (thường gọi là Hàn – Dũ ). Hàn – Dũ là một trong những “Đường Tống bát đại gia”, đại thi hào đời Đường này đã đưa hình ảnh Bá Nhạc và Thiên Lý mã vào văn học qua những tác phẩm kinh điển của mình, từ đó hình ảnh Bá Nhạc trở nên nổi tiếng khắp Trung Hoa và được lưu danh muôn đời.
 Tranh minh họa. 
Bá Nhạc vốn là người say mê ngựa, vườn nhà rộng rãi nên ông cho xây dựng rất nhiều chuồng ngựa rồi đi tìm kiếm những chú ngựa ông cho là tốt về nuôi, có khi trong nhà đến vài chục con. Để chăm sóc chúng được tốt ông tìm hiểu đọc sách và đúc rút kinh nghiệm nên trở thành người am hiểu và đoán biết tướng ngựa rất giỏi. Chỉ thông qua ngoại hình, vóc dáng, đầu, đuôi…ông có thể biết được đặc tính của ngựa để chăm sóc cho phù hợp. Trong đó Thiên Lý mã là một loài ngựa quý, hiếm nhưng không phải ai cũng phân biệt được giữa hàng trăm nghìn con ngựa. Thời đó, duy chỉ có Bá Nhạc là tinh tường, am hiểu hơn cả nên chỉ cần thoạt nhìn ông sẽ nhận ra ngay.
Thiên Lý mã, cứ mỗi lần cho ăn phải cấp cho nó một thạch (3) thóc mới vừa đủ no. Song chủ ngựa vốn không biết mỗi lần nó cần ăn bao nhiêu, vẫn cứ theo tiêu chuẩn ngựa thường. Bởi thế, Thiên Lý mã dù có sức chạy xa nghìn dặm, mà chỉ vì ăn chẳng đủ no, sức không được sung, so với ngựa thường cũng chưa hơn được thì làm sao ngày ngày cứ bắt nó phải chạy suốt hàng ngàn dặm. Vì thế, chủ ngựa thường để hoài phí giống ngựa quý trong tay mà không hay biết, khi cho ăn không đủ no, làm không đúng cách nên Thiên Lý mã trở nên mờ nhạt trong đàn ngựa.
Theo sách “ Hàn Thi Ngoại Truyện “ tại chương 7 ghi lại chuyện như sau. Dịp đó, Chu Vương muốn tìm một con Thiên Lý mã để cưỡi, nghe tiếng Bá Nhạc trong dân gian đã lâu, cho người gọi đến nhờ tìm. Bá Nhạc đã không quản ngại đường xa, khó khăn lặn lội khắp nơi để tìm được con ngựa ưng ý cho Đế Vương. Ông mất nhiều thời gian và công sức nhưng vẫn không kiếm được con ngựa nào ưng ý dâng vua. Một hôm, Bá Nhạc đi gặp một con ngựa ký già bị người ta bắt kéo một xe muối lên núi Thái Hàng. Móng nó duỗi ra, đuôi cụp lại, thở phì phò đầu gối khuỵu lại, mồ hôi rỏ xuống đầm đìa. Giữa dốc nó thụt lùi, ráng đội càng xe lên nhưng không lên được nữa. Bá Nhạc trông thấy, xuống xe, ôm đầu nó mà khóc, cởi áo mà lau mồ hôi cho nó. Con ngựa như gặp được chủ nhân hiểu nó, nên cúi đầu xuống mà phì hơi, vươn cổ lên mà hí, tiếng hí động tới trời như tiếng kim tiếng thạch. Bá Nhạc thầm khẳng định rằng đây chính bảo mã ông cần tìm.
Sau đó, vội vàng bỏ tiền mua ngựa và đem về thành dâng Chu Vương. Khi nhìn thấy con ngựa Nhạc nguyên đem về, vua tỏ vẻ nghi ngờ vì bộ dạng gày gò, nhưng ông khẳng định nếu cho ăn đúng với tiêu chuẩn và chăm sóc cẩn thận nó chính là Bảo mã thiên lý đi xa nghìn dặm mà vua cần tìm. Chu Vương lập tức giao nó cho người trông coi ngựa trong triều, dặn kỹ lưỡng phải chăm sóc đúng như lời Bá Nhạc nói. Quả đúng như “Thần tài soi Mã” nhận định, con ngựa sau đó hồi sức rất nhanh và có thể cưỡi ngày ngàn dặm, phi nước đại mà chân không lưu dấu. Sau đó chính Bảo mã này theo Chu Vương ra trận lập nhiều chiến công vang dội nên Bá Nhạc được vua rất trọng vọng, dân gian rất ngưỡng mộ ông.
Bá Nhạc có một quyển sách gọi là Mã kinh (Những chuyện kinh điển về ngựa) vẫn còn lưu truyền trong đời. Có chuyện vui về quyển sách này đến giờ vẫn còn được người ta kể cho nhau nghe mỗi khi nhắc đến ông. Con trai Bá Nhạc khi đó còn nhỏ tuổi, nhưng cũng rất yêu loài ngựa và thích đọc sách của cha, nên cũng thuộc ít nhiều những điều cha đã đúc kết. Cậu bé tâm đắc nhất nhận xét “Một con ngựa tốt thật sự phải có trán nhô cao, mắt rất lớn, móng chân to và ngay ngắn”. Một hôm, cậu bé đi chơi bắt gặp một con cóc đang nhảy nên đuổi theo bắt mang về khoe ngay với cha là bắt được con ngựa hay và nói rằng chỉ có điều chân nó không được to mà thôi. Bá Nhạc không biết phải giải thích với con thế nào, đành nói rằng: “Con ngựa này cũng tốt đấy, nhưng nó hay nhảy quá, không ai cưỡi được nó đâu”.
Với tài đoán xét ngựa và uy tín của mình, nên mỗi khi ông dừng ở đâu xem ngựa thì ở đó dân tình kéo đến rất đông để xem và nghe ông nhận xét. Vì thế nên có người bán ngựa đã biết nhờ “thương hiệu” của ông để kinh doanh. Có chuyện anh chàng dắt ngựa ra chợ bán nhưng đã đứng 3 ngày mà không ai đến hỏi mua, bèn đến nhờ Bá Nhạc "Mời ngài đi một vòng đến chỗ ngựa tôi đứng. Lúc đến thì nhìn tôi, rồi đi qua, sau đó lại quay đầu ngó ngó tôi. Chắc chắn tôi sẽ tạ ơn ngài rất hậu". Rồi Bá Nhạc nhận lời đến. Ông đi đến bên con ngựa, lim dim con mắt nhìn một hồi, lúc đi qua, lại quay mình lại đưa tay vẽ từ trên xuống trên mình ngựa một hồi, rồi mới bỏ đi. Bá Nhạc vừa đi khỏi thì có rất nhiều khách chen nhau đến, vây quanh bên chủ nhân của con ngựa, coi ngựa hỏi giá. Lập tức, giá của con ngựa tăng cao gấp mười, bán vèo một cái xong ngay.
Ảnh minh họa.  
Khi Nhạc Nguyên đã già, vua Tần Mục Công lên ngôi cũng biết đến danh tiếng của ông bèn đến hỏi ông tiến cử người giỏi về ngựa như ông để giúp vua tìm ngựa chinh phạt chiến trường. Bá Nhạc nói: "Ngựa thường thì có thể quan sát hình dáng, gân cốt, nhưng ngựa Thiên Lý thì không có tiêu chuẩn nào, khó mà nắm vững được. Nó chạy nhanh như tên bay, không tung bụi, không thấy vết chân. Con cháu tôi đều là những người kém tài, có thể dạy chúng chọn ngựa tốt bình thường, chứ không thể dạy chúng chọn được ngựa Thiên Lý. Tôi có người bạn thân là tên Phương Cao, họ Cửu. Người này có tài xem tướng ngựa chẳng kém gì tôi, xin Tần đế cho mời ông ấy”. Vua Tần làm theo, cho gọi người họ Cửu và sai ông ta đi tìm Thiên Lý mã. Vài tháng lăn lộn khắp đất nước, Cửu Phương Cao trở về tâu rằng đã tìm thấy ở Sa Khâu. Tần vương hỏi con ngựa đó hình dáng ra sao, người họ Cửu chỉ đáp ngắn gọn rằng: “ Con ngựa cái lông vàng”.
Lập tức Mục Công cho người đến Sa Khâu mang ngựa về, nhưng đó lại là con ngựa đực, lông đen. Đế Mục lấy làm không hài lòng và tỏ ý thất vọng về người họ Cửu cũng như lời tiến cử của Bá Nhạc, cho gọi Nhạc đến và than rằng : "Dở quá, ông tiến cử người chọn ngựa mà màu sắc, đực cái cũng không phân biệt được, thì làm sao mà chọn được ngựa Thiên Lý?”. Bá Nhạc Nguyên nghe xong thì thở dài nói rằng : "Tài hiểu biết về ngựa của ông ấy cao siêu lắm. Giỏi hơn tôi gấp nghìn vạn lần! Cái mà ông ta quan sát là thực chất tinh thần: nắm cái bản chất, bỏ qua biểu hiện thô thiển nông cạn; quan sát nội dung mà bỏ qua hình thức, ông ta chỉ nhìn cái cần nhìn, không nhìn cái không cần nhìn, ông ta chỉ quan sát cái nên quan sát, mà bỏ đi cái không nên quan sát. Cách quan sát sự vật của Cửu Phương Cao có ý nghĩa to lớn hơn cách xem tướng ngựa bình thường”. Tần Mục Công thấy thế liền đem ngựa về, sai người chăm sóc, cho ăn đúng chế độ của ngựa Thiên Lý. Quả nhiên, chỉ sau một thời gian con ngựa này bộc lộ rõ đặc tính của một con Thiên Lý mã quý hiếm trong thiên hạ, chẳng khác nào bảo mã Bá Nhạc tìm được cho Chu Vương năm xưa. Từ đó, người ta cũng biết đến tài năng của Cửu Phương Cao. Nhiều nguồn dã sử phỏng đoán rằng, Phương Cao có biệt tài đoán ngựa còn giỏi hơn Bá Nhạc song Cửu không nổi tiếng như người bạn của mình, bởi có lẽ phần nào do tên tuổi Bá Nhạc cùng với Thiên Lý mã xuất hiện nhiều trong trang viết của Hàn Dũ nên được người đời nhắc nhớ hơn.
Ngày nay, người ta thường ví Bá Nhạc tìm Thiên Lý mã là mượn truyền thuyết về nhân vật này để nói về những người giỏi trong thiên hạ không ít, song tìm được những “Bá Nhạc” biết chiêu hiền đãi sĩ thì cũng cần những người tài.
Hải Anh

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015

Tạp chí mật thiết với quân đội Trung Quốc chỉ đích danh Giang Trạch Dân là ông trùm mạng lưới tham nhũng

有軍方背景的雜誌直接點名炮轟江澤民是貪腐的幕後大老闆,香港前全國政協委員劉夢熊斷言「江澤民垮台係指日可待」。(網路擷圖)
Một tạp chí có quan hệ mật thiết với quân đội ĐCSTQ đã chỉ đích danh Giang Trạch Dân là “ông trùm” mạng lưới tham ô, Cựu Ủy viên Chính hiệp Hồng Kông Lưu Mộng Hùng nói rằng: “Ngày Giang rớt đài là có thể trông đợi được”. (Ảnh mạng)
Trang mạng của một tạp chí có quan hệ mật thiết với quân đội Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) gần đây đã đăng bài viết  “Đảng – Chính – Quân hùm beo tụ tập, kẻ cầm đầu khó mà thoát tội”. Bài viết hiếm thấy này đã điểm đúng cái tên Giang Trạch Dân, chỉ đích danh Giang Trạch Dân chính là ông trùm mạng lưới tham nhũng khổng lồ ở Trung Quốc. Ngoài ra, bài viết này còn kêu gọi “đã đến lúc hỏi trách nhiệm kẻ cầm đầu!”, bài viết nói rằng rằng Giang Trạch Dân đã “tự tay tạo dựng nên một mạng lưới tham nhũng khổng lồ, tự tay bòn rút những khoản tham ô lớn”, ông trùm của “Tân tứ nhân bang” (bang phái 4 thành viên kiểu mới) Chu – Lệnh – Từ – Bạc chính là Giang Trạch Dân. ” ‘Ông trùm’ liệu có bị lôi ra? Quần chúng nhân dân đang lau mắt chờ xem!”, sự lộ liễu của bài viết này quả thật trước giờ chưa hề có. Một cựu Ủy viên Chính hiệp Hồng Kông sau khi xem xong bản tin này, đã phát biểu: “Ngày rớt đài của Giang Trạch Dân là có thể trông đợi”.
Ngày 15 tháng 9, trong một tiết mục trên mạng mang tên “DreamBear Thiên hạ”, cựu Ủy viên Chính hiệp tại Hồng Kông Lưu Mộng Hùng đã chỉ đích danh Giang Trạch Dân là ông trùm đứng đằng sau của Chu Vĩnh Khang, Từ Tài Hậu và Quách Bá Hùng. Từ đó, ông Lưu Mộng Hùng biểu thị “ngày Giang Trạch Dân rớt đài là có thể trông đợi được”, và cho đến hôm nay, bài viết ấy  rất có thể được phỏng vấn trực tiếp từ Trung Quốc.
Tạp chí tin tức thời sự Hoàn Cầu đã đăng bài viết này vào ngày 1 tháng 9, tức trước ngày diễu binh. Mở đầu bài viết là đoạn bàn về tình hình công cuộc “đả hổ” từ sau “thập bát đại”, đoạn thứ hai lại chỉ ra “ Đảng – Chính – Quân hùm beo tụ tập kết bầy, hiện trạng chấn động lòng người này cũng khiến người ta không biết suy nghĩ thế nào”. Ngoài việc  miêu tả dân chúng ủng hộ hành động tận lực trừ gian ra, bài viết còn kêu gọi phải bứng tận gốc “chồi ương mầm họa” trong giới lãnh đạo cấp cao thuộc Đảng – Chính – Quân.
Bài viết này định nghĩa mạng lưới bốn người Chu Vĩnh Khang, Lệnh Kế Hoạch, Từ Tài Hậu, Bạc Hy Lai là “Tân tứ nhân bang”, còn so sánh với “Cựu tứ nhân bang”, tác giả nhận định rằng “Tân tứ nhân bang” này muốn đoạt quyền tiếm vị, điên cuồng tham ô tiền bạc đến mức vang danh thiên hạ.
Quảng cáo
Bài viết liệt kê: Chu Vĩnh Khang, Từ Tài Hậu, Quách Bá Hùng, Tô Vinh đều được Tăng Khánh Hồng, Giang Trạch Dân đề bạt. Tác giả đã sử dụng hình thức một vấn một đáp ” ‘Ông trùm’ là ai? Là Giang Trạch Dân vậy”. Trực tiếp điểm danh Giang Trạch Dân, lại còn nói “dân chúng đang lau mắt chờ xem”, trông ngóng “ông trùm” chừng nào bị lôi ra.
Sau đó, bài viết còn phê phán Giang Trạch Dân “ thao túng quyền lực, đã “về” mà không “hưu””, “đối với quyền lực rất chi là quyến luyến, mặc sức tác loạn, Giang Trạch Dân còn ôm cứng quyền hành trên 10 năm lại tự tay tạo ra một mạng lưới tham ô khổng lồ, đề bạt vô số quan tham. Từ những tội danh mà Chu Vĩnh Khang, Quách Bá Hùng, Từ Tài Hậu phạm phải có thể thấy rằng, tình hình nội bộ ĐCSTQ bấy giờ là “thượng bất chính hạ tắc loạn”, đã bại hoại từ trong xương tủy. Thậm chí câu nói “bịt miệng phát tài” vào 13 năm trước của một nữ phóng viên Hồng Kông khi bị Giang Trạch Dân dạy đời cũng được đề cập đến, tác giả chỉ ra rằng chỉ thị “bịt miệng phát tài” đã khiến cho Giang Trạch Dân cuộn trong chiếc giường êm ấm được lót bởi những món tham ô khổng lồ trong nội bộ Đảng – Chính –  Quân của ĐCSTQ và hệ thống xí nghiệp quốc doanh.
Cuối cùng, bài viết còn nói, quy định mới “có lên có xuống” của chính quyền Bắc Kinh đưa ra đã “trợ giúp đắc lực cho việc thanh lý, chặt đứt mạng lưới tham ô khổng lồ được sự bảo hộ của ‘ông trùm’ giấu mặt!”.
有軍方背景的雜誌直接點名炮轟江澤民是貪腐的幕後大老闆,香港前全國政協委員劉夢熊斷言「江澤民垮台係指日可待」。(網路擷圖)
Tạp chí tin tức thời sự Hoàn Cầu đã chỉ đích danh Giang Trạch Dân là “ông trùm” của mạng lưới tham ô, Cựu Ủy viên Chính hiệp Hồng Kông Lưu Mộng Hùng nói rằng: “Ngày Giang rớt đài là có thể trông đợi được”. (Ảnh mạng)

有軍方背景的雜誌直接點名炮轟江澤民是貪腐的幕後大老闆,香港前全國政協委員劉夢熊斷言「江澤民垮台係指日可待」。(網路擷圖)
Tạp chí tin tức thời sự Hoàn Cầu chỉ đích danh Giang Trạch Dân là “ông trùm” của mạng lưới tham ô, Cựu Ủy viên Chính hiệp Hồng Kông Lưu Mộng Hùng nói rằng: “Ngày Giang rớt đài là có thể trông đợi được”. (Ảnh mạng)
有軍方背景的雜誌直接點名炮轟江澤民是貪腐的幕後大老闆,香港前全國政協委員劉夢熊斷言「江澤民垮台係指日可待」。(網路擷圖)
Tạp chí tin tức thời sự Hoàn Cầu chỉ đích danh Giang Trạch Dân là “ông trùm” của mạng lưới tham ô, Cựu Ủy viên Chính hiệp Hồng Kông Lưu Mộng Hùng nói rằng: “Ngày Giang rớt đài là có thể trông đợi được”. (Ảnh mạng)
Được biết, “Tạp chí tin tức thời sự Hoàn Cầu” vốn là một ấn phẩm nguyệt san mang tính tổng hợp thuộc Quỹ hạt nhân Quốc tế được thành lập vào tháng 1 năm 2007, tạp chí này đặt tòa soạn tại Hồng Kông. Vào ngày 30 tháng 4 năm nay, tạp chí này đã tổ chức kỷ niệm 100 số đầu tiên tại nhà hàng Trung Hoa Hỷ Lai Đăng thuộc thành phố Thẩm Quyến, các tờ báo lớn của Hồng Kông cũng đã từng đưa tin. Theo nguồn tin được biết, đã có 500 quan chức thuộc các cơ quan của quân đội như Hội nghiên cứu Văn hóa Quân sự Trung Quốc, cùng với các binh chủng quân khu, tỉnh thành, ban liên lạc tại Hồng Kông cũng đến tham dự.
Ông Hoa Bác, một nhà quan sát tình hình chính trị Bắc Kinh cho rằng, tín hiệu này là vô cùng rõ ràng. Đầu tháng 9, Chủ nhiệm Tổng Quân chính Trương Dương đã tiến hành cảnh cáo, giáo dục các quan chức từ cấp tổ chức quân chính trở lên, ông nói rằng “Cần đẩy mạnh thanh lý triệt để những ảnh hưởng độc hại từ vụ án Quách Bá Hùng, Từ Tài Hậu, tăng cường lực lượng điều tra những vụ án lớn, trọng yếu”, “nhổ tận gốc trốc tận rễ”.
Ông Hoa Bác phân tích, nói dễ nghe thì Tập Cận Bình hiện đang rung cây dọa khỉ, nói nghiêm trọng thì Giang Trạch Dân đã bị “định tính” nên phải công khai phê phán Giang, bởi vì Tập Cận Bình không thể không động thủ, nếu không như vậy thì cục diện rất khó xử lý.
Tiến sỹ Lý Thiên Tiếu, chuyên gia các vấn đề Trung Quốc thuộc Đại học Colombia cho rằng, điều kiện bắt giữ Giang Trạch Dân hiện đã chín muồi. Đối với cơ tầng cấp cao mà nói, ông Tập Cận Bình đã “suất binh” đánh phá các kết cấu quyền lực cố hữu, khống chế “Thường ủy” dưới trướng Giang Trạch Dân. Từ sự kiện diễu binh ở Bắc Kinh có thể thấy, quân quyền của Tập Cận Bình đã được củng cố. Cơ quan Chính Pháp ủy cũng đã bị đẩy ra ngoài rìa. Ông Tập Cận Bình cũng xây dựng hệ thống truyền thông riêng để phát ngôn cho mình. Ngoài những tội ác sẽ dồn họ Giang vào chỗ chết như vụ bức hại Pháp Luân Công ra, thì khắp đất Trung Quốc không đâu là không chửi rủa ông ta, việc bắt giữ Giang Trạch Dân đã có ý chí mạnh mẽ của dân chúng làm cơ sở.
Ông Lý Thiên Tiếu còn nêu ra một ví dụ, trước khi “Tứ nhân bang” thời nay bị bắt, quyền lực của nó không chỉ có trong một đời. Tuy nhiên, sau khi bốn “tướng giặc” đã bị dọn dẹp, lúc tin này vừa được công bố thì thế lực ấy đã nhanh chóng bị giải thể, người dân cả nước đều nâng ly chúc mừng.
Chia sẻ bài viết này

Học sinh: “Không thể để mất đức”


Bài viết của một phóng viên Minh Huệ ở Trung Quốc
[MINH HUỆ 5-7-2015] Các học viên Pháp Luân Đại Pháp được hưởng rất nhiều lợi ích từ môn tu luyện. Khi những người khác lắng nghe sự thật về Đại Pháp, hiểu được chân tướng và làm theo nguyên lý của Đại Pháp, họ cũng sẽ được thụ ích.
Thay đổi nhờ Đại Pháp
Tôi là một giáo viên ở tỉnh Liêu Ninh và tôi đã tuân theo nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn của Đại Pháp trong lớp học. Tôi học Pháp cùng với các học sinh và hướng dẫn các em luyện các bài công pháp.
Ngay khi các học sinh hiểu được những nguyên lý của Đại Pháp, các em biết rằng mình nên học hành chăm chỉ, sống chan hòa và quan tâm đến người khác. Điều đó giúp cải thiện được thành tích học tập và cách cư xử của các em cũng trở nên tốt hơn.
Một học sinh, biệt danh là “Trứng Thối”, thường hay bị bạn bè trêu chọc. Em đã học được từ Đại Pháp rằng nếu một ai đó mắng chửi hoặc đánh người khác, họ sẽ bị mất đức và sẽ chịu tổn hại. Em không còn cãi nhau với các bạn và nói: “Mình không thể để mất một chút đức quý giá nào cả.”
Khi các học sinh làm điều sai trái, không em nào muốn nhận lỗi của mình, nhưng hay đổ lỗi cho người khác. Bây giờ các em đã biết hướng nội và tìm lỗi ở mình.
Có một học sinh thường nói chuyện không lễ phép với ba mẹ, nhưng bây giờ em đã hiểu rằng em sẽ mất đức khi không kính trọng người lớn tuổi. Bây giờ em đã biết kính trọng cha mẹ và cũng lịch sự với người khác hơn.
Một học sinh thường xuyên bỏ học thì bây giờ không còn bỏ học nữa sau khi học Đại Pháp. Sức học của em cũng tự nhiên tiến bộ.
Nhận được lợi ích từ Đại Pháp khi biết được sự thật
Một đồng nghiệp mà tôi đã không liên lạc trong hơn 30 năm cần được biết sự thật về Pháp Luân Đại Pháp, nhưng tôi bị mất địa chỉ liên lạc với cô ấy.
Con gái tôi tình cờ gặp con gái cô ấy trong một buổi họp lớp, và cuối cùng tôi cũng biết được thông tin liên lạc của cô ấy.
Tôi sắp xếp để tới thăm cô ấy. Cô đã nằm liệt gường vào thời gian đó và không có phương pháp chữa trị nào có hiệu quả. Trong một lần tới thăm, tôi kể cho cô ấy nghe câu chuyện và kinh nghiệm tu luyện Đại Pháp của tôi, cũng như sự thật về môn tu luyện. Tôi nói cô ấy hãy thành tâm niệm “Pháp Luân Đại Pháp hảo, Chân – Thiện – Nhẫn hảo” và để lại tài liệu Đại Pháp cho cô ấy.
Trước khi tôi rời đi, cô nói rằng tài liệu chân tướng chữ nhỏ quá nên cô ấy thấy không rõ. Tôi nói với cô ấy đừng lo và hãy thử lại. Cô nhìn lại và đã nhìn thấy rõ ràng.
Vài ngày sau tôi tình cờ gặp lại cô ấy khi đi mua hàng ở chợ. Thật khác hẳn, cô ấy có thể tự mình đi lại.
Cô nói với tôi rằng: “Mỗi buổi sáng tôi đều niệm ‘Pháp Luân Đại Pháp hảo, Chân – Thiện – Nhẫn hảo.’“ Tôi trở nên khỏe hơn mỗi ngày, và bây giờ tôi đã khỏe mạnh và không còn nằm liệt giường nữa.”

Đăng ngày 22-09-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Bài học giữ vững tâm tính của người xưa

(Ảnh: epochtimes.com)
(Ảnh: epochtimes.com)
Ở một thị trấn nhỏ có một quầy bán dưa, chủ nhân là ông Vương. Ông Vương bán dưa có một biệt tài đặc biệt, bất cứ một trái dưa nào, chỉ cần ông cầm lên tay ước lượng một cái, liền có thể nói ra được trọng lượng của dưa, hơn nữa không hề sai dù chỉ một li.
Một hôm, phương trượng của ngôi chùa gần đó dẫn theo tiểu hòa thượng đến mua dưa. Với mấy quả dưa mà họ chọn ra, ông Vương cười nói: “Tổng cộng 2 cân 6 lạng”. Tiểu hòa thượng không tin, dùng cân cân thử, quả nhiên không sai một lạng.
Tiếp theo đó, phương trượng lại chọn ra một quả dưa rồi nói với ông Vương rằng, nếu như ông Vương có thể đoán chuẩn xác quả dưa đó lần nữa, ông sẽ đem một thỏi bạc tặng cho lão Vương. Thỏi bạc đó nặng đúng hai lạng.
Ông Vương khoái chí nhận lời. Ông cẩn thận nâng quả dưa lên, sau khi ước chừng thì im lặng không nói được gì; qua một lúc lâu, những người đứng xem ở bên cạnh liên tục hối thúc, ông Vương mới cắn răng nói là một cân ba lạng. Dùng cân cân thử, quả dưa đó rõ ràng là một cân năm lạng.

Một thỏi bạc, quả thật đã khuấy động tâm trí của ông Vương, từ đó khiến ông ấy khó phát huy được bản năng thực sự của mình.
Câu chuyện tương tự như thế, Trang Tử cũng từng giảng qua: một người đánh cờ nếu dùng chậu sành làm tiền đặt cược, kĩ nghệ của anh ta có thể phát huy được vô cùng nhuần nhuyễn; còn nếu anh ta dùng vàng để đánh cược, thì trình độ ấy sẽ tuột dốc thảm hại.
Trang Tử nhìn sâu trông rộng, đối với điều này mà đúc kết: Ngoại trọng giả nội chuyết (Một người càng xem trọng vật ngoài thân thì nội tâm càng thô thiển).
Lòng người như nước, chỉ cần một cơn gió nhẹ liền có thể khuấy động mặt nước bằng phẳng. Huống hồ nữa là, thế gian đèn đỏ rượu xanh này khắp nơi đều là mê hoặc, nhà cao cửa rộng, xe cộ đắt tiền, kim tiền mỹ nữ, danh lợi địa vị … sẽ như một cơn gió lốc quét ngang qua tâm hồn bạn. Nếu không chú ý, nội tâm của chúng ta sẽ sóng gió dâng trào, khó mà quay trở về với bản tính trong sáng, thuần tịnh, yên bình .
Hơn một nghìn năm trước, Gia Cát Lượng trong “Giới tử thư” (thư dạy con) đã viết như sau:Không đạm bạc thì không thể sáng tỏ được chí hướng của bản thân; tâm thần không tĩnh lặng thì không thể có lý tưởng cao xa”. Một con người, chỉ có an tâm vào cuộc sống đạm bạc, chỉ có bằng lòng với cuộc sống tĩnh lặng, mới có thể kháng cự được những mê hoặc bất tận trong hồng trần cuồn cuộn này, mới có thể giữ vững được tâm hồn của mình.
Một trái tim là cái gốc mà chúng ta dựng thân trên thế gian này. Trong trái tim này, chất chứa trí huệ và tài hoa của chúng ta, cũng chất chứa tâm tính và phẩm chất của chúng ta. Chỉ có giữ vững trái tim này, chúng ta mới có thể nhận rõ chính mình thật sự, mới có thể phát huy tiềm năng của bản thân mình ở mức độ cao nhất, mới có thể hoàn thành tâm nguyện cuối cùng của mình.

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

Lưu Bị có lẽ không quá tin tưởng Gia Cát Lượng?

Những phát hiện mới gần đây khẳng định, mối quan hệ giữa hai nhân vật nổi tiếng thời Tam Quốc Lưu Bị và Gia Cát Lượng hoàn toàn không thân thiết “như cá với nước”.

Học giả Gia Cát Văn trong cuốn “Ba ngày đọc những vụ án chưa giải quyết trong năm nghìn năm lịch sử Trung Quốc”, được xuất bản bởi NXB Trung Hoa pháp chế đã cho hậu thế biết thêm nhiều điều mới mẻ trong mối quan hệ tưởng như khăng khít giữa Lưu Bị và Khổng Minh.
Năm 207, Lưu Bị đã ba lần đến lều cỏ mời Gia Cát Lượng về triều. Cảm động trước lòng thành của Lưu Bị, Gia Cát Lượng nhận lời phò tá quân vương.
Theo nhiều tư liệu lịch sử ghi chép, hai người “nhất kiến như cố” (vừa gặp đã quen). Lưu Bị sau này còn nói: “Cô gia nay có Khổng Minh, giống như cá gặp nước vậy”. Chính điều này làm hậu thế về sau cho rằng quan hệ quân thần giữa hai người là vô cùng khăng khít.
“Tam Quốc diễn nghĩa” cũng có ghi lại: Lưu Bị đối với người thao lược toàn tài như Gia Cát Lượng vô cùng tín nhiệm, chuyện quân chính đại sự nào cũng tìm Lượng để lên kế hoạch, thậm chí Lượng nói gì, ông cũng nghe theo.
Sự khác biệt giữa tiểu thuyết và đời thực
Tuy nhiên nhiều bằng chứng lịch sử lại khẳng định rằng, Gia Cát Lượng không được Lưu Bị trọng dụng tới vậy.
Giai thoại “Tam cố mao lưu” (ba lần Lưu Bị đến vời Gia Cát Lượng), hậu thế ai ai cũng biết, coi đó là mối quan hệ quân – thần chuẩn mực để noi theo.
Nhiều hoc giả đã nảy sinh nhiều nghi vấn về vấn đề này, đồng thời cũng đã tìm ra không ít vướng mắc trong mối quan hệ giữa hai nhân vật nổi danh dưới thời Tam Quốc.
Thứ nhất, dù cho có sự kiện Lưu Bị ba lần đến lều tranh mời Gia Cát Lượng, thậm chí sau này Lưu Bị giao phó con trai cho Lượng ở thành Bạch Đế, thì mối quan hệ của hai người không phải quá thân thiết như “Tam Quốc diễn nghĩa” miêu tả.
Địa vị của Gia Cát Lượng ở triều đình Thục Hán cũng không phải “dưới một người trên vạn người” như hậu thế tưởng tượng.

Đại chiến Xích Bích.
Đại chiến Xích Bích.
Thực tế cho thấy, sau trận chiến Xích Bích, Lưu Bị tiến hành đánh chiếm Tây Xuyên. Khi ấy, mặc dù Gia Cát Lượng trấn thủ Kinh Châu, nhưng Lưu Bị vẫn cử Bàng Thống và Pháp Chính làm trợ thủ đắc lực đi theo phò tá.
Cho tới sau này, Lưu Bị mới hạ lệnh cho Gia Cát Lượng dẫn quân vào Tây Xuyên.
Thứ hai, khi trận chiến tại Hán Trung diễn ra, Gia Cát Lượng dù có tài thao lược, nhưng lại chỉ giữ “vị trí hậu cần”. Cánh tay phải tham mưu và trợ thủ đắc lực cho Lưu Bị vẫn là Pháp Chính.
Cho tới khi Lưu Bị làm chủ thành Hán Trung, địa vị của Pháp Chính vẫn được xếp trên Gia Cát Lượng một bậc.
Thứ ba, sinh thời, Lưu Bị vô cùng tín nhiệm người em kết nghĩa là Quan Vũ nên đã giao cho vị nhị đệ này toàn quyền trấn thủ Kinh Châu. Vậy nhưng cuối cùng, Quan Vũ thất thủ, dẫn đến cục diện thất bại thảm bại.
Nhiều nhà sử học sau này đã nhận định: nếu trước đó Lưu Bị điều Quan Vũ đến Xuyên Châu, cho Gia Cát Lượng cai quản Kinh Châu, tất sẽ không dẫn tới cục diện như vậy.
Đây cũng là một minh chứng cho thấy Lưu Bị không hẳn coi trọng vị Gia Cát Khổng Minh này như người đời vẫn nghĩ.
Một minh chứng rõ ràng hơn cả là sau khi Quan Vũ thất thủ Kinh Châu, Lưu Bị dẫn quân đi chinh phạt nước Ngô.
Trong cuộc chiến này, ông không những không mang theo Lượng, mà còn không quan tâm tới ý kiến của vị trọng thần này, dẫn đến việc Thục quân bị thất bại thảm hại.
Khi đó, Gia Cát Lượng mới thất vọng mà than rằng: “Nếu Pháp Chính ở đó hẳn có thể khuyên Vương không tiến quân sang phía đông. Nhưng nay quân ta lại đánh về phía đông, tất sẽ rơi vào cửa hiểm.”
Câu nói đó cho thấy trong mắt Lưu Bị, lời nói của vị Pháp Chính kia thậm chí được trọng dụng hơn cả mưu lược của Gia Cát Lượng
Vậy điều gì đã khiến Lưu Bị không xem trọng Gia Cát Lượng dù đã ba lần đích thân mời ông về triều? Lý giải cho câu hỏi này, các học giả nghiên cứu đặt ra hai giả thuyết.
Đầu tiên là vì tư tưởng và sách lược chính trị của Gia Cát Lượng và Lưu Bị có nhiều điểm bất đồng. Gia Cát Lượng luôn chủ trương chiến đấu dựa vào sức mình là chính.
Trong “Long Trung sách”, chiến lược cơ bản ông đặt ra là:
“Đoạt lấy Kinh Châu, chiếm được Lưỡng Châu, phía Tây hòa với ‘nhung địch’(các nước phương Tây), phía Nam vỗ về với di Việt, phía đông kết giao cùng Tôn Quyền, phía bắc chinh phạt Tào Tháo. Có như vậy mới phục hưng được Hán triều.”
Trong chiến lược này, Gia Cát Lượng coi việc giữ gìn liên minh Tôn – Lưu là điều cốt yếu.
Tuy nhiên, Lưu Bị là người theo chủ nghĩa cơ hôi, chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, bỏ qua việc thắt chặt liên minh, nuôi mộng tưởng xưng vương cát cứ một phương, dẫn đến việc xảy ra trận chiến tại Di Lăng sau này.
Thứ hai là vì gia thế của Gia Cát Lượng khiến Lưu Bị đề phòng. Anh trai của Lượng là quan nước Ngô, lại từng đảm nhiệm chức sứ thần qua Kinh Châu thương lượng.
Đối mặt với loại “nhân tình thế thái” phức tạp này, Lưu Bị dù trọng dụng tài năng của Khổng Minh, nhưng trong lòng vẫn có phần không tin tưởng.

Theo những phân tích cặn kẽ của các nhà sử học Trung Quốc, Gia Cát Lượng không được Lưu Bị trọng dụng như những gì Tam Quốc diễn nghĩa miêu tả.
Theo những phân tích cặn kẽ của các nhà sử học Trung Quốc, Gia Cát Lượng không được Lưu Bị trọng dụng như những gì "Tam Quốc diễn nghĩa" miêu tả.
Nhà tư tưởng nổi tiếng Trung Quốc Vương Phu Chi (1619 – 1692) trong cuốn “Độc thông giám luận” đã từng đi sâu phân tích về mối quan hệ giữa Lưu Bị và Gia Cát Khổng Minh.
Vương Phu Chi nhận định: chủ trương của Gia Cát là nhất định phải giữ Hán, nhất định phải diệt Tào. Nếu không liên kết với Ngô, giữa tình thế như vậy sẽ bị Ngô khống chế, càng không thể tiến hành bắc phạt.
Tuy nhiên Lưu Bị lại có ý đồ khác. Vốn nuôi mộng tự cường, xưng vương làm chủ một phương, nên Lưu Bị đã cùng Quan Vũ liên thủ.
Sở dĩ Lưu Bị không tín nhiệm Gia Cát Lượng mà tín nhiệm Quan Vũ là bởi Gia Cát Cẩn (anh trai Lượng) được Ngô vương coi trọng. Chính vì vậy, Hán Trung vương luôn lo sợ Lượng có giao tình với nước Ngô, cũng hoài nghi Lượng cùng anh trai cấu kết phản Thục.
Còn đối với sự kiện giao phó con trai cho Gia Cát Lượng ở Bạch Đế thành, Lưu Bị nhiều phần là do tình thế thúc ép.
Trước lúc Lưu Bị qua đời, mâu thuẫn giữa Ích Châu và Kinh Châu đã vô cùng căng thẳng. Con trai Lưu Thiện còn trẻ tuổi, tư chất lại bình thường, khó có thể làm chủ cục diện phức tạp này.
Trong triều lúc đó rối ren, những đại thần Lưu Bị trọng dụng nhất là Pháp Chính và Bàng Thống đều đã qua đời. Như vậy, người có thể ủy thác chỉ còn lại Gia Cát Lượng.
Dù vậy Lưu Bị cũng không ủy thác toàn bộ đại sự cho Lượng, mà trong di chiếu còn nhờ cậy tới Lý Nghiêm – danh gia vọng tộc đất Ích Châu để cùng phò tá con trai.
Như vậy, mối quan hệ quân thần “cá nước” giữa Lưu Bị và Gia Cát Lượng mà “Tam Quốc diễn nghĩa” miêu tả, rất có khả năng chỉ là cách để lưu lại ấn tượng tốt đẹp về các vĩ nhân trong lòng hậu thế mà thôi.

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015

Malaysia: Đoàn nhạc của Pháp Luân Công giành giải thưởng trong Lễ diễu hành mừng Quốc khánh


[MINH HUỆ 2-9-2015] Ngày 31 tháng 8 năm 2015, Thiên Quốc Nhạc Đoàn ở Malaysia, với 40 thành viên đều là các học viên Pháp Luân Công địa phương, đã tham dự Lễ diễu hành nhân mừng Quốc khánh ở Selangor, Malaysia, chào mừng 58 năm ngày Malaysia giành độc lập. Đoàn Pháp Luân Công được trao giải thưởng “Đoàn nhạc xuất sắc nhất”.
2015-9-1-minghui-falun-gong-malaysia-01--ss.jpg
Đoàn nhạc diễu hành qua sân khấu VIP
2015-9-1-minghui-falun-gong-malaysia-02--ss.jpg
Ông Mohamed Azmin Ali, Thống đốc bang Selangor, trao giải thưởng cho các học viên Pháp Luân Công
2015-9-1-minghui-falun-gong-malaysia-03--ss.jpg
Đoàn nhạc chụp hình tập thể
61 đoàn đến từ các cấp chính quyền ở Selangor, các trường công lập, và các tổ chức phi chính phủ biểu diễn trong lễ diễu hành.
Khi đoàn Pháp Luân Công diễu hành ngang qua sân khấu VIP, người dẫn chương trình đã giới thiệu họ với khán giả: “Pháp Luân Đại Pháp là một môn tu luyện rất tuyệt vời. Nó tịnh hóa tâm của mọi người và giúp cơ thể khỏe mạnh. Đoàn nhạc này muốn giới thiệu một lối sống lành mạnh với xã hội.“
Selangor là bang đông dân nhất Malaysia, và là nơi có Sân bay Quốc tế Kuala Lumpur và cảng Klang – cảng biển lớn nhất của nước này.

Đăng ngày 19-09-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Trương Tam Phong ông tổ của Thái Cực


Bài viết của Cổ Vân Long
[MINH HUỆ 5-5-2015] Trong lịch sử, người được vài đời hoàng đế tìm đến, phong danh hiệu e rằng chỉ có một người duy nhất là Trương Tam Phong. Trong suốt hơn 200 năm triều Minh, hầu như mỗi đời hoàng đế đều tìm đến ông. Minh Anh Tông phong cho ông danh hiệu là “Thông vi hiển hóa chân nhân”; Minh Hiến Tông phong cho ông danh hiệu là “Thao quang thượng chí chân tiên”; Minh Tế Tông phong tặng tước hiệu “Thanh hư nguyên diệu chân quân”. (Đạo gia tu chân, nên những tên hiệu này đều có một chữ “Chân”.) Suốt triều đại nhà Minh, từ bậc đế vương tới bách tính, đạo rất phổ biến và được coi trọng, điều này không thể tách khỏi ảnh hưởng to lớn của Trương Tam Phong.
2015-5-3-minghui-zhangsanfeng-01--ss.jpg
Nơi Trương Tam Phong tu đạo
2015-5-3-minghui-zhangsanfeng-02--ss.jpg
Chân dung Trương Tam Phong
Trương Tam Phong là đạo sỹ xuyên suốt ba triều đại Tống, Nguyên, Minh, là ông tổ sáng lập phái Võ Đang.
Trong “Minh Sử: Trương Tam Phong truyện” có ghi chép lại: “Trương Tam Phong là người Ý Châu, tỉnh Liêu Đông, tên là Toàn Nhất, Quân Bảo, Tam Phong cũng là tên hiệu của ông”. Vì ông không chú trọng ăn mặc nên còn có biệt danh là Trương lạp tháp (Trương bẩn thỉu). Ông có dáng vóc cao to, “cao lớn tráng kiện, mắt lớn tai to, râu quai nón dày.” Trời nóng hay lạnh ông cũng chỉ mặc một bộ đạo bào và khoác một chiếc áo tơi …. Ông có biệt tài nhìn một lần không quên, ngao du khắp chân trời góc bể, có người nói rằng một ngày ông có thể đi cả nghìn dặm. Ông đã từng du ngoạn khắp các hang động đá kỳ lạ trên núi Võ Đang và nói với người khác rằng: “Núi này về sau tất sẽ hưng thịnh.”
Vì danh tiếng của Trương Tam Phong như Thần, Chu Nguyên Chương đã từng vài lần viếng thăm nhưng đều không thành. Chu Lệ, con trai ông cũng sớm nghe đại danh của Trương, chỉ tiếc là không có duyên gặp gỡ; Sau khi đăng cơ, ông nhiều lần cử người thăm hỏi khắp nơi nhưng cũng không tìm thấy. Sau này ông hạ lệnh phái Hàn lâm viện Thị độc học sĩ Hồ Quảng đi tìm, hơn nữa còn mang theo một bức thư ngôn từ khẩn thiết.
Trương Tam Phong sau khi nhận được bức thư của Chu Lệ đã đáp lại bằng một bài thơ và đưa đệ tử Tôn Bích Vân chuyển lại cho Chu Lệ.
Thiên địa giao thái hóa thành công, triều dã hàm an trị đạo hanh.
Hoàng cực điện trung long hổ tĩnh, Võ Đang vân ngoại chung cổ thanh.
Thần cư thảo mãng nguyên vô dụng, đế vấn sô nghiêu khổ hữu tình.
Cảm bả vi ngôn lao thánh thính, trừng tâm quả dục thị trường sinh.
(Trời đất hài hòa hóa thịnh vượng, triều đình và dân chúng ổn định đạo trị nước thuận lợi.
Rồng hổ lặng yên trên điện ngọc, tiếng chuông vắt vẻo xuyên mây trên núi Võ Đang
Thần ở nhà quê vốn không tài cán gì, vua hỏi người nhà quê {như thần} có nỗi niềm chi.
Dám mạo muội dâng vua lời hèn mọn, tịnh tâm ít dục sẽ trường sinh.)
Hoàng đế là Cửu ngũ chí tôn, có đất đai nghìn dặm, nguyện vọng lớn nhất của ông là gì? Là được trường sinh. Trương Tam Phong đã kê cho hoàng đế Vĩnh Lạc một phương thuốc trường sinh tuyệt diệu trong bức thư này: “Trừng tâm quả dục” (Tâm phải trong sạch, dục vọng phải ít). Hoàng đế Vĩnh Lạc nhận được điểm hóa của thần nhân cảm thấy vô cùng mãn nguyện.
Suốt 10 năm Vĩnh Lạc, Chu Lệ điều hơn 300.000 quân dân thợ thuyền, trải qua hơn 10 năm đã xây dựng nên những công trình kiến trúc lớn trên ngọn núi Võ Đang gồm tám cung, hai quán, 36 am, 72 đền thờ đá, chi phí tính tới tiền triệu. Sau khi xây dựng xong thì ban tặng danh hiệu “Thái Hòa Thái Nhạc Sơn”, đặt ra chức quan trông coi. Điều này giống y như lời dự ngôn của Trương Tam Phong khi xưa.
Những tác phẩm của Trương Tam Phong vô cùng phong phú, ví như “Đại Đạo Luận”, “Huyền Cơ trực giảng” (giảng rõ huyền cơ), “Huyền yếu thiên” (Bài viết huyền cơ trọng yếu) … đều được những người tu đạo đời sau tôn sùng. Nhưng tác phẩm kiệt xuất của ông là {tập} bài từ có tên “Vô căn thụ” (Cây không rễ)
Mọi loại cây đều phải có rễ mới có thể sinh trưởng, nếu cây mà không có rễ ắt không thể dài lâu. Con người sinh ra trong cõi đời, sinh lão bệnh tử, trăm mối lo canh cánh bên lòng, trăm năm thoáng chốc trôi qua, cũng giống như cây không có rễ. Trương Tam Phong sáng tác 24 bài từ này, lấy tên là “Vô căn thụ” để thức tỉnh thế nhân, giúp họ nhìn rõ kiếp nhân sinh như giấc mộng phù vân, nên sớm tu luyện.
Dưới đây là bài đầu tiên trong “Vô Căn Thụ”
Vô căn thụ, hoa chính u, tham luyến vinh hoa thùy khẳng hưu?
Phù sinh sự, khổ hải chu, đãng lai phiêu khứ bất tự do.
Vô biên vô ngạn nan bạc hệ, thường tại ngư long hiểm xứ du.
Khẳng hồi thủ, thị ngạn đầu, mạc đãi phong ba hoại liễu chu.
(Cây không gốc rễ, hoa rất đỗi thanh u, tham quý vinh hoa mấy người chịu ngơi nghỉ?
Kiếp phù sinh là con thuyền trên biển khổ, phiêu dạt mà chẳng tự do.
Không bến không bờ khó lòng neo đậu, thường rong ruổi chốn hiểm nguy của ngư long.
Nguyện quay đầu là bờ, đừng đợi tới khi sóng dập thuyền tan.)
Lời mở đầu đã chỉ ra rằng kiếp nhân sinh tham hưởng vinh hoa phú quý, giống như chiếc thuyền nhỏ phiêu dạt trong biển khổ, luôn trong cơn nguy hiểm, nên khuyên giải con người thế gian siêu xuất khỏi danh lợi, kịp thời tu luyện, “mạc đãi phong ba hoại liễu chu” (Đừng đợi tới khi sóng dập thuyền tan).
Hàng trăm nghìn năm nay những lý luận của Đạo gia đều rất huyền ảo, ngôn từ khó hiểu nên không được xã hội tiếp nhận một cách rộng rãi. Trương Tam Phong dùng thể loại ca từ, dùng văn tự thông tục mang những lý luận chân tu huyền ảo chuyển thành bài hát “Vô Căn Thụ” mà ai cũng thích, đã ảnh hưởng rất lớn tới người tu đạo đời sau.
Trương Tam Phong sáng lập ra Thái Cực Quyền là một công pháp tính mệnh song tu, chú trọng nội tu, động tác trầm ổn, thần thái khoan thai, cương nhu bổ trợ cho nhau, lấy tĩnh [khắc] chế động; vừa có thể đấu võ, lại có thể đạt được trường sinh. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều người nghiên cứu Thái Cực. Trên trường quốc tế mọi người thường hay thấy những cuộc thi Thái Cực (quyền), những buổi biểu diễn thể dục thể thao của đoàn Thái Cực (quyền) quy mô lớn, biểu diễn Thái Cực (quyền) trong điện ảnh, kịch cũng nhiều. Thái Cực (quyền) hiện nay càng ngày càng phổ biến nhưng cũng càng ngày càng khác xa so với Thái Cực (quyền) mà Trương Tam Phong sáng lập thuở trước, lối tập luyện Thái Cực (quyền) đã bị biến đổi rồi, vừa khó đấu võ, vừa khó được trường sinh. Mọi người phát hiện ra rằng: Thọ mệnh bình quân của những người tập thái cực (quyền) cận đại có danh tiếng chỉ chừng 70 tuổi, điều này cách biệt quá xa so với “hình ảnh phần đông người trên 80 tuổi thời xưa vẫn còn đánh được xe ngựa”. Nguyên nhân do đâu?
Nhắc tới tu luyện, rất nhiều người cho rằng đó chính là luyện công (luyện động tác), đây là nhận thức vô cùng phiến diện. Luyện động tác chỉ là thứ yếu, tu tâm tính mới là chủ đạo. Đạo gia thường giảng “thanh tịnh vô vi”, kỳ thực chính là chỉ tu tâm. Người tu luyện chỉ khi trọng đức tu tâm tính mới có thể đề cao tầng thứ. Thiết nghĩ, những “người nổi tiếng” mà tâm danh lợi, tâm tranh đấu rất mạnh kia họ có thể tĩnh lại hay không? Những tâm bất hảo này sẽ can nhiễu tới họ, làm họ suy kiệt, họ có thể tăng công hay không? Có những người ngay cả yêu cầu cơ bản nhất là “trừng tâm quả dục” (lắng tâm ít dục) còn chưa làm được, còn nhắc tới tu luyện gì đây? Làm sao có thể trường sinh đây?
Cũng có người dưới sự khống chế của tâm danh lợi hoặc chạy theo thời thượng hoặc muốn nổi trội khác người mà đã tùy tiện sửa đổi động tác thái cực, làm ra những thứ loạn bậy lừa người. Trong những công pháp chân truyền đều có huyền cơ, không thể tùy ý thay đổi, dù cho bạn chỉ thay đổi một chút thì đã không phải là thứ đó rồi. Những thứ lừa người như vậy đôi khi trái lại lại gây họa hại cho con người, có mấy người có thể biết được điều này?
Thái Cực chính tông đã thất truyền khiến rất nhiều người ôm chí chân tu phải bó tay thở dài.
Điều may mắn là hiện nay Đại Pháp cao thâm đại đức dễ học, tăng công nhanh, xuất công toàn diện đã được hồng truyền rộng khắp, chính là Pháp Luân Đại Pháp! Chính vì sự thần kỳ của mình mà môn này đã rất nhanh chóng được truyền rộng khắp thế giới, những người tu luyện môn này trên toàn thế giới đã vượt quá 100 triệu người. Những người ôm chí chân tu mà có thể may mắn đọc được cuốn kỳ thư “Chuyển Pháp Luân”, nhất định sẽ có thu hoạch.

Đăng ngày 19-09-2015; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Escaping Misery After Learning Falun Gong

September 19, 2015 | By Minghui reporters Sun Bai and Su Rong, based on interviews in Kaohsiung, Taiwan
(Minghui.org) Although today's technology has developed at an unprecedented pace, mankind is still befuddled when it comes to the secrets of birth, illness, and death. Many people search for the meaning of life, but take their questions to the grave.
Ms. Shu Ya says she is one of the fortunate people who have found answers.
Ms. Shu Ya

Enduring Tribulations

Ms. Shu Ya managed a well-known Italian restaurant and bakery in Kaohsiung, Taiwan. Unfortunately, her life took a tragic turn: her husband was diagnosed with lung cancer and passed away six months later. Their son was only 5 year old. She was overcome with grief and worry, and her hair turned gray overnight.
After her husband's death, the pressure of work and looking after her son was overwhelming. She was exhausted, and her temper worsened with each passing day. She forgot how to smile. Her health deteriorated, and she had to go to the emergency room many times.
By the time her son was 18, her body was worn out. She felt like an elderly person, was in bad health, and doctors could not help her. She tried Yoga, but her health did not improve. She even advised her son about what to do if she died.
Both mother and son cried often and lived from day to day.

Reborn After Learning Falun Gong

Shu Ya's younger sister had tried to introduce Falun Gong to her mother and four sisters in 2000. She tried again in 2010 and invited everyone to a Falun Gong seminar, but only Shu Ya and her mother accepted.
Shu Ya slept through the entire night after the first session. She realized that Falun Gong was not an ordinary qigong practice: since she had not slept well for many years. She also awoke with a healthy appetite.
After the second class, she felt wonderful and could walk with ease on her way home. She did feel cold after the next two sessions, and after the next five sessions, many of her illness symptoms disappeared. By the end of the seminar series, she felt as if she was reborn.

More Positive Changes

Shu Ya went to the local group practice site daily to do the five Falun Gong exercises after the seminars ended, and she read all the books within two weeks.
After she practiced Falun Gong for a month, she felt like a new person and no longer experienced any illness symptoms. She had been sick for a dozen years.
In her sleep, she felt that a pair of large hands massaging her feet. When she woke , she could bend her feet and was able to squat, something she had not been able to do for a long time.
Before practicing Falun Gong, she had nightmares and feared the dark. She often dreamed that a black shadow grabbed her neck, lifted her up and swung her around. In the dream, she tried to chant the Buddha's name, but the shadow grabbed her and pressed her tighter and tighter until she woke up in a cold sweat.
After she started to practice Falun Gong, the black shadow attacked her again. Immediately she called for Master Li Hongzhi, the founder of Falun Gong, to save her. After she called Master Li three times, the black shadow disappeared and never returned.
She was no longer scared at night and slept peacefully.

Improved Temper

Her son told her that she had not lost her temper after she began the practice.
Many of her bad habits had disappeared along with her pain, including her addiction to watching television. Her son was amazed by all the changes he saw in her after such a short time.
Her employees also saw her as a new person. Before the practice, she was impatient and never smiled. Now, she follows Falun Gong's principles Truthfulness-Compassion-Forbearance and treats them well.
Shu Ya said her life has became harmonious, and that she is the most fortunate person in the world. Her restaurant does well, and those around her enjoy the new Shu Ya.