Thứ Ba, 23 tháng 2, 2016

Người phụ nữ bị liệt hồi phục một cách thần kỳ


Bài viết của Lưu Văn Quân, học viên Pháp Luân Công ở Trung Quốc
[MINH HUỆ 9-1-2016] Tôi đã bị liệt bảy năm trước khi bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công. Tôi bị chẩn đoán là mắc bệnh lao, lan từ phổi đến các hạch bạch huyết và xương. Tôi thường bị co giật. Thành thật mà nói, lúc đó tôi đang chờ chết.
Tuy nhiên, tôi đã may mắn được đọc cuốn Pháp Luân Công vào năm 1996. Nhờ môn tu luyện này, tôi không chỉ hồi phục sức khỏe của mình mà còn có được một cuộc sống gia đình hòa thuận.
Vô số khổ nạn
Tôi kết hôn năm 30 tuổi, gia đình chồng tôi đã xây cho chúng tôi một căn nhà nhỏ. Con gái đầu lòng của tôi sinh năm 1983, sau đó tôi rất yếu và luôn mệt mỏi sau khi làm chỉ một chút việc.
Hai năm sau, khi tôi đang mang thai được năm tháng, có một chiếc xe đạp khác đã đâm phải xe đạp của tôi khi tôi đang trên đường đi làm. Người gây tai nạn đã bỏ chạy. Tôi ngã xuống và cảm thấy đau một chút ở chân.
Không lâu sau đó, tôi không còn cử động được chân phải của mình nữa. Khi mang thai đến tháng thứ bảy, tôi đã bị liệt. Gia đình đề nghị tôi phá thai. Tuy nhiên, các bác sĩ đã từ chối vì họ nghĩ tôi sẽ chết trong quá trình phẫu thuật. Tôi đã sinh được một bé trai.
Con gái của tôi được ba tuổi khi con trai tôi ra đời. Chồng của tôi là giáo viên dạy tư có thu nhập thấp và không ổn định. Chúng tôi không có bất kỳ khoản tiền tiết kiệm nào và không có đủ khả năng để đi khám bác sĩ. Tôi đã nằm liệt giường và yếu đến nỗi không thể nói được. Tôi sống trong đau đớn và tuyệt vọng.
Mơ thấy mình được sống thêm 10 năm nữa
Khi con trai của tôi được khoảng ba tháng tuổi, thì tôi có một giấc mơ. Trong mơ tôi thấy hai nhân viên bảo vệ đến nhìn tôi và bỏ đi. Một lúc sau có hai người phụ nữ bước đến và đưa tôi đến một nơi ảm đạm. Hai bảo vệ cũng ở đó. Một vị đại quan xuất hiện, nhìn thẳng vào hai bảo vệ và hai người phụ nữ rồi nói: “Đừng đi. Hãy để tôi hỏi cô ấy vài câu.”
Vị quan này hỏi tôi rằng: “Đức tin của gia đình mẹ cô và gia đình mẹ chồng cô là gì?”
Tôi nói rằng mẹ chồng tôi là một tín đồ Cơ đốc giáo và gia đình mẹ tôi không theo tôn giáo nào hết. Ông ấy đã hỏi tôi rằng liệu tôi có tin vào Cơ đốc giáo không, tôi đã trả lời rằng tôi không theo bất kỳ một tôn giáo nào hết.
“Bà sẽ làm gì trong tương lai?” là câu hỏi kế tiếp của ông ấy. Tôi nói: “Tôi sẽ tìm ra trường phái tu luyện tốt nhất trên thế gian.”
Ông ấy hỏi xem tôi có tự tin không và tôi đã trả lời rằng có. Vì vậy, ông ấy đã quyết định cho tôi sống thêm 10 năm nữa và bảo với những người phụ nữ kia hãy đưa tôi trở lại nhục thân.
Trên đường trở về, tôi đã mở mắt và tự hỏi mình đã ở đâu trong giấc mơ.
Tôi kể cho mẹ mình nghe về giấc mơ khi tôi đến thăm bà. Bà nói: “Hôm qua con đã gần chết. Làm sao hôm nay con có thể nói chuyện lại được tốt đến vậy?“
“Vị quan đó đã cho con sống thêm 10 năm nữa. Con có thể sống được thêm 10 năm nữa.” Mẹ chồng tôi biết được chuyện này và đã xoay sở mượn tiền để chi trả viện phí.
Bác sĩ nói rằng tôi mắc bệnh lao và cần phải ghép xương. Bệnh viện địa phương không thể làm phẫu thuật này được, nhưng gia đình tôi không thể chi trả nổi tiền viện phí ở một bệnh viện tốt hơn. Họ đã thuyết phục một bác sĩ ở bệnh viện địa phương làm phẫu thuật cho tôi.
Ngày 28 tháng 1 năm 1987, bác sĩ này đã lấy một mảnh xương từ hông phải của tôi, đánh bóng và ghép lại xương cho tôi. Cuộc phẫu thuật đã thành công tốt đẹp. Vị bác sĩ này trở nên nổi tiếng sau ca phẫu thuật ghép xương cho tôi và sau đó đã được chuyển đến làm việc ở bệnh viện tỉnh.
Bị liệt trở lại sau ba năm
Tôi trở về nhà. Mẹ chồng đã chăm sóc cho các con của tôi trong khi tôi nằm viện. Bà rời đi sau khi tôi trở về nhà, vì nhà của tôi quá nhỏ nên không thể chứa thêm dù chỉ một người nữa. Con gái của tôi đã được ba tuổi và con trai được bảy tháng tuổi. Tôi đã nằm liệt giường hơn 100 ngày.
Các bác sỹ khuyên tôi nên ăn thức ăn giàu dinh dưỡng để đảm bảo cho các mô phát triển quanh phần xương mới trước khi tôi xuất viện. Nhưng do gia đình tôi quá nghèo và nợ nhiều, nên tôi đã phải xuất viện.
Chồng tôi đi làm để nuôi sống cả gia đình. Chúng tôi không có khả năng thuê người chăm sóc cho tôi. Hai con tôi và tôi phải ở nhà. Chúng tôi quá nghèo nên thường rơi vào hoàn cảnh không có gì để ăn.
Sau đó ba năm, tôi lại mất cảm giác ở chân phải. Dần dần, tôi mất luôn cảm giác ở chân trái và không thể trở mình. Bệnh lao xương của tôi trở lại và tôi cảm thấy đau đớn cùng cực.
Vì khoản nợ từ lần phẫu thuật trước vẫn chưa trả hết, nên chúng tôi không thể chi trả nổi hóa đơn viện phí khác nữa. Tôi đã nằm liệt giường trong bảy năm tiếp theo. Các con của tôi đã chăm sóc cho tôi khi chồng tôi đi làm. Chúng rất vất vả để giữ cho tôi được sạch sẽ, và cái đệm tôi nằm luôn luôn bị ướt. Nhà của chúng tôi rất bẩn và bốc mùi.
Hai đoạn Pháp trong cuốn Pháp Luân Công đã mang lại cho tôi một cuộc đời mới
Năm 1996, khi con gái tôi đã được 13 tuổi và con trai được 10 tuổi, tôi thường hay nói chuyện với người phụ nữ lớn tuổi sống cạnh nhà. Chúng tôi rất thân với nhau.
Vào tháng 5, người phụ nữ này đã đến nhà tôi và trên tay bà cầm theo một cuốn sách. “Hãy xem cuốn sách này đi. Nó thật tuyệt. Cô sẽ thấy đời tươi đẹp hơn sau khi đọc nó. Hãy đọc đi. Tôi đảm bảo rằng nó sẽ giúp được cô.”
Tôi không định đọc cuốn sách, vì trí nhớ của tôi kém và tôi không thể hiểu được nhiều. Tôi không tin rằng có một cuốn sách tốt đến vậy. Bà ấy đã khăng khăng rằng: “Không ai nói dối hay làm hại gì cô đâu? Cô có để xem qua, đọc nó nếu cô thích và trả lại cho tôi nếu cô không thích.”
Tôi đồng ý thử đọc một lần. Tôi đã tốt nghiệp trung học thuộc loại khá. Tôi bắt đầu đọc trang đầu tiên. Tôi đã xúc động sau khi đọc đến đoạn thứ hai của Luận Ngữ và hiểu rõ rằng: “Chân-Thiện-Nhẫn là đặc tính của vũ trụ. Tôi nghĩ rằng vũ trụ là tự nhiên. Tôi không biết rằng vũ trụ có đặc tính.”
Tôi cảm thấy rất thoải mái khi nghĩ về đặc tính của vũ trụ. Tôi chưa từng cảm thấy thoải mái trong đời. Tôi nhắm mắt lại và ngủ thiếp đi với cuốn sách đặt trên ngực.
Những người hàng xóm đã chứng kiến sự thay đổi của tôi
Tôi có một giấc mơ, trong mơ tôi thấy mình bay trên một bầu trời xanh với nhiều vì sao. Một vị Phật lớn xuất hiện ở phía nam. Những lời của Đức Phật tựa như âm thanh nổi; giọng nói của Ngài vang vọng và khiến trái đất rung chuyển.
Các con tôi đã gọi tôi dậy và con gái của tôi đã hỏi tôi rằng: “Mẹ ơi! Mẹ luôn nói rằng mẹ không thể ngủ được. Sao hôm nay mẹ lại ngủ được thế?” Tôi kể cho các con nghe về giấc mơ. Chúng đã nhìn nhau bối rối. Con trai tôi nói: “Hôm nay mẹ trông khỏe hơn và nói chuyện rành mạch hơn. Có phải chúng con đang mơ không? Điều này không thể là sự thật được.”
Chúng chạy đi gọi dì của chúng lại. Khi họ quay lại thì nhìn thấy tôi đang đứng dậy dựa lưng vào tường. Em gái tôi nhìn tôi và sợ hãi, vì tôi đã nằm liệt giường suốt bảy năm. Cô ấy không thể tin vào mắt mình, nên đã chạy ra ngoài và hô lớn báo tin. Nhiều người hàng xóm đã nghe tiếng hô của cô và cũng chạy đến xem tôi. Tôi chậm rãi bước khỏi giường và đi vào nhà bếp.
Lúc đó, chồng tôi cũng trở về nhà, và thấy có rất nhiều người đang đứng trước cửa nhà mình. Một trong những người hàng xóm đã nói với anh ấy rằng: “Hãy nhìn vợ anh kìa. Chuyện gì đã xảy ra với cô ấy?“ Chồng tôi trả lời: “Tôi biết. Chuyện này không sớm thì muộn rồi cũng sẽ phải đến.” Anh ấy nghĩ là tôi đã chết.
Người hàng xóm nói: “Không phải chết. Hiện cô ấy đã khỏe hơn rồi.” Chồng tôi không thể tin nổi chuyện đó. Anh ấy hét lên: “Đừng nói nhảm nữa!”, khi người hàng xóm đang cố an ủi anh.
Chồng: Hãy tiếp tục đọc Chuyển Pháp Luân
Anh ấy nhìn vào phòng và thấy tôi đang đứng trong nhà bếp. Anh ấy nhìn thấy cuốn Chuyển Pháp Luân, cuốn sách chính của Pháp Luân Công trên giường. Anh ấy cầm cuốn sách lên và nói: “Anh biết em đã đọc cuốn sách này và đã hồi phục. Tác giả của cuốn sách thật phi thường. Em phải đọc đi đọc lại cuốn sách này. Em không thể bỏ nó qua một bên sau khi bệnh của em đã khỏi.”
Đó là khi tôi mới bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công. Hai tuần sau, khi đang may vá quần áo, đột nhiên tôi cảm thấy đau nhói ở bụng, nó giống như thể tôi đang sinh em bé. Có một cái gì đó phình lên ở trong bụng tôi, nó nằm ở phía bên tay trái. Tôi đã cảm thấy nó trong nhiều năm. Tôi vội vã bước vào nhà tắm và cảm thấy như có gì đó rơi ra khỏi người mình. Tôi nhặt nó lên. Nó lớn như một cái búi tròn với đường kính khoảng 15cm. Tôi đã cắt nó ra. Nó có nhiều lớp bên trong và rất cứng. Có mủ nằm giữa các lớp.
Sau khi đọc Chuyển Pháp Luân, tôi không còn bị co giật nữa. Tôi đã hồi phục và rất tỉnh táo. Tôi đứng lớp thay cho chồng tôi được nửa năm. Phòng giáo dục quận khen tôi giảng bài rất hay.
Năm 1999 khi cuộc đàn áp bắt đầu, các quan chức địa phương đã đến nhà tôi và hỏi tôi xem liệu tôi có các sách của Pháp Luân Công hay không. Tôi đã trả lời: “Cho dù các anh đến đây vì điều gì, tôi vẫn muốn nói với các anh rằng, ‘Pháp Luân Công là tốt.’ Tôi có một cuốn Chuyển Pháp Luân. Nhưng các anh không thể lấy nó đi được. Nếu các anh làm vậy, thì giống như là các anh đang giết tôi.”
Tôi kể cho họ nghe câu chuyện của tôi và nói: “Không có cuốn sách này, tôi sẽ chết. Đừng làm điều gì xấu.” Họ đã xúc động và ra về mà không nói một lời nào.
Giấc mơ trở thành sự thật
Khi tôi lần đầu đọc Chuyển Pháp Luân, lúc đó đã là 9 năm 10 tháng kể từ lần tôi mơ thấy mình được cho sống thêm 10 năm nữa. Kể từ đó đã 20 năm trôi qua. Tôi khỏe mạnh và có một gia đình hạnh phúc. Các con tôi trưởng thành và có việc làm. Gia đình và họ hàng của tôi đều biết rằng “Pháp Luân Công là tốt.”
Không lời nào có thể diễn tả được lòng biết ơn của tôi đối với Sư phụ Lý Hồng Chí và Pháp Luân Công. Nhờ có Sư phụ mà tôi mới được sống đến ngày hôm nay.

Đăng ngày 22-2-2016; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

Lý thuyết vũ trụ song song không chỉ là mô hình toán học thuần túy, mà đó là khoa học có thể kiểm chứng

Scientists are searching for collisions between different ‘universe bubbles’ in the cosmic microwave background. (Geralt/CC 0)
Các nhà khoa học đang tìm kiếm những va chạm giữa các ‘bong bóng vũ trụ’ khác nhau dựa trên cơ sở sóng vi ba vũ trụ. (Nguồn: Geralt/CC 0)

Sự tồn tại của các vũ trụ song song gần như là điều không thích hợp với vật lý lý thuyết hiện đại, nó giống như điều gì đó được tưởng tượng ra trong các tiểu thuyết viễn tưởng. Nhưng ý tưởng về việc con người đang sống trong ‘đa vũ trụ’ được tạo ra từ vô số các vũ trụ song song từ lâu đã được xem là có tính khoa học – mặc dù đây vẫn là vấn đề tranh luận gay gắt giữa các nhà vật lý học. Hiện nay đang diễn ra một cuộc đua tìm ra cách kiểm nghiệm lý thuyết này, bao gồm tìm kiếm một bầu trời mà ở đó có dấu hiệu va chạm với những vũ trụ khác.
Điều quan trọng cần nhớ là quan điểm đa vũ trụ không thực sự là một lý thuyết, mà đúng hơn nó là hệ quả từ sự hiểu biết hiện nay của chúng ta về vật lý lý thuyết. Sự phân biệt này có tính quyết định. Chúng ta không hề vu vơ nói rằng: “Cứ cho là có đa vũ trụ”. Chính xác thì ý tưởng cho rằng vũ trụ của chúng ta có thể chỉ là một trong vô số các vũ trụ được bắt nguồn từ những lý thuyết hiện có như cơ học lượng tử và lý thuyết dây.

Lý giải về Đa Thế giới

Bạn có thể đã nghe về thí nghiệm tưởng tượng ‘con mèo của Schrödinger’, một con vật “ma” sống trong một chiếc hộp kín. Mở chiếc hộp này ra cho phép chúng ta theo dõi một trong những tương lai có thể xảy ra đối với con mèo, trong đó có cả một tương lai mà ở đó con mèo vừa sống lại vừa chết. Điều này là quá sức tưởng tượng, đơn giản bởi vì trực giác loài người chúng ta không quen với trạng thái vừa sống vừa chết này.
Nhưng nó hoàn toàn có thể xuất hiện dựa trên những quy luật kỳ lạ của cơ học lượng tử. Lý do điều này có thể xảy ra là vì không gian xác suất trong cơ học lượng tử là vô cùng lớn. Về mặt toán học, một trạng thái cơ học lượng tử là một tổng hợp (hay là sự chồng chất) của tất cả các trạng thái có thể xảy ra. Trong trường hợp con mèo của Schrödinger, con mèo này là tổng hợp của hai trạng thái “sống” và “chết”.
Nhưng chúng ta phân tích điều này như thế nào để có sự hợp lý thực tiễn? Một cách phổ biến đó là sử dụng biểu đồ Feynman để mô tả sự tương tác trong thời-không, từ dó cho thấy thứ mà chúng ta quan sát được là trạng thái “đúng khách quan” duy nhất của con mèo. Tuy nhiên, có người cũng có thể chấp nhận rằng tất cả các khả năng đều đúng, và rằng chúng tồn tại trong các vũ trụ khác nhau của hệ đa vũ trụ.
Miaaaaultiverse (Robert Couse-Baker/CC BY 2.0)
Miaaaaultiverse, chiếc hộp có ghi chữ cảnh báo: “con vật bên trong hộp có thể sống hoặc chết” (Nguồn: Robert Couse-Baker/CC BY 2.0)

Với góc nhìn từ lý thuyết dây

Lý thuyết dây là một trong những hướng đi hứa hẹn nhất hiện nay, nếu không muốn nói là hứa hẹn nhất để có thể hợp nhất cơ học lượng tử và lực hấp dẫn. Điều này vô cùng khó bởi vì quá khó miêu tả lực hấp dẫn ở mức vi mô như kích cỡ nguyên tử và các hạt hạ nguyên tử – vốn thuộc về khoa học của cơ học lượng tử. Nhưng lý thuyết dây tuyên bố rằng tất cả các hạt cơ bản đều được tạo ra từ những dây một chiều, nó có thể miêu tả tất các lực tự nhiên (từng được biết) cùng một lúc: lực hấp dẫn, trường điện từ, và tất cả các lực hạt nhân.
Tuy nhiên, muốn lý thuyết dây có ý nghĩa về mặt toán học thì cần đến ít nhất là mười chiều vật lý. Vì chúng ta chỉ có thể quan sát bốn chiều: cao, rộng, sâu (tất cả không gian) và thời gian, do đó các chiều bổ sung của lý thuyết dây phải bị ẩn giấu theo cách nào đó nếu nó thực sự tồn tại. Để có thể sử dụng lý thuyết dây cho việc giải thích các hiện tượng vật lý mà chúng ta nhìn thấy, những chiều bổ sung này phải “được compact hóa” bằng cách bị xoắn lại sao cho chúng rất nhỏ, đến mức không thể nhìn thấy được. Có lẽ nào với mỗi điểm trong bốn chiều lớn của chúng ta còn có tồn tại sáu phương nữa, nhưng khó phân biệt?
Một vấn đề, hay một số gọi là đặc tính của lý thuyết dây, là có rất nhiều cách để tạo ra sự “compact hóa” này – 10500 là số khả năng compact hóa vẫn luôn được đưa ra. Mỗi một khả năng sẽ dẫn tới một vũ trụ với những quy luật vật lý khác nhau – như là khối lượng khác nhau của điện tử và hằng số hấp dẫn khác nhau. Tuy nhiên cũng có những phản đối gay gắt tới phương pháp luận compact hóa, nên vấn đề này chưa hoàn toàn được giải quyết.
Nhưng nếu như thế thì câu hỏi hiển nhiên là: vậy chúng ta đang tồn tại trong khả năng nào trong vô số khả năng kia? Lý thuyết dây tự nó không đưa ra một cơ chế dự đoán điều đó, điều này khiến nó trở nên vô dụng vì chúng ta không thể kiểm tra. Nhưng may mắn là một ý tưởng từ nghiên cứu của chúng tôi về vũ trụ thuở sơ khai đã chuyển vấn đề này thành đặc tính của [lý thuyết dây].

Vũ trụ thuở sơ khai

Trong thuở đầu của vũ trụ, trước vụ nổ Big Bang, vũ trụ trải qua một thời kì giãn nở rất nhanh chóng gọi là sự thổi phồng của vũ trụ. Thổi phồng là từ ban đầu được dùng để giải thích tại sao vũ trụ quan sát được hiện nay lại hầu như là phân bố đều về nhiệt độ. Tuy nhiên, lý thuyết thổi phồng này cũng dự đoán một phổ dao động nhiệt độ xung quanh sự cân bằng này, điều này sau đó đã được xác nhận bởi một số tàu vũ trụ như tàu Cosmic Background Explorer, tàu Wilkinson Microwave Anisotropy Probe, và tàu  PLANCK spacecraft.
Trong khi những chi tiết chính xác của thuyết này vẫn còn trong tranh luận sôi nổi, thì sự thổi phổng của vũ trụ đã được các nhà vật lý chấp nhận rộng rãi. Tuy nhiên, một hệ quả của lý thuyết này là phải có những phần khác của vũ trụ vẫn đang gian nở ngày càng nhanh. Tiếp nữa, do những dao động lượng tử của thời–không, một số phần của vũ trụ thực sự không bao giờ kết thúc quá trình thổi phồng. Điều này có nghĩa là vũ trụ vĩnh viễn giãn nở, ít nhất là theo sự hiểu biết hiện tại của chúng ta. Do đó, một số phần có thể cuối cùng trở thành các vũ trụ khác, rồi nhiều vũ trụ khác nữa v.v. Cơ chế này tạo ra vô số các vũ trụ.
Bằng việc kết hợp lý thuyết thổi phồng với lý thuyết dây, ta thấy một khả năng là mỗi vũ trụ sở hữu một kiểu compact hóa các chiều bổ sung (ngoại trừ 4 chiều mà chúng ta cảm thụ được) khác nhau và do đó có các quy luật vật lý khác nhau.
The cosmic microwave background. Scoured for gravitational waves and signs of collisions with other universes. (NASA / WMAP Science Team/wikimedia)
Nền sóng vi ba vũ trụ. Được sử dụng để lùng sục các sóng trọng lực và dấu hiệu va chạm với các vũ trụ khác (Nguồn: NASA / WMAP Science Team/wikimedia)

Kiểm nghiệm lý thuyết

Kết hợp lý thuyết dây và lý thuyết thổi phồng, chúng ta sẽ dự đoán được rằng vũ trụ [là tổng hợp những vật thể] tồn tại trong cùng một không gian vật lý (không như nhiều vũ trụ trong cơ học lượng tử, chúng tồn tại trong một không gian toán học), chúng có thể gối chồng lên nhau hoặc va chạm với nhau. Thực vậy, chúng chắc chắn phải va chạm với nhau, do đó có thể để lại những dấu hiệu trên bầu trời thiên thể mà chúng ta có thể tìm kiếm.
Các chi tiết chính xác của các dấu hiệu thì phụ thuộc mật thiết vào các mô hình – từ các điểm nóng hoặc lạnh trong nền sóng vi ba vũ trụ, tới các khoảng trống dị thường trong sự phân bố giữa các thiên hà. Dù vậy, vì những va chạm với các vũ trụ khác phải xảy ra theo một hướng cụ thể, nên các nhà khoa học có chung dự tính là bất kỳ dấu hiệu nào cũng sẽ phá vỡ quy luật phân bố đều của vũ trụ mà chúng ta quan sát được.
Những dấu vết này cũng được các nhà khoa học tìm kiếm tích cực. Một số đang tìm kiếm trực tiếp qua các dấu vết trong nền sóng vi ba vũ trụ, lưu ảnh của vụ nổ Big Bang. Tuy nhiên, không có dấu hiệu nào như vậy được tìm thấy. Những người khác đang tìm kiếm qua sự hỗ trợ gián tiếp như là sóng trọng lực, là những gợn lăn tăn trong thời–không khi có các vật thể khổng lồ đi ngang qua. Những sóng như vậy có thể trực tiếp chứng minh sự tồn tại của sự thổi phồng vũ trụ, cuối cùng củng cố sự ủng hộ cho lý thuyết đa vũ trụ.
Cũng khó dự đoán trước liệu chúng ta có thể chứng minh sự tồn tại của đa vũ trụ hay không. Nhưng những ý nghĩa to lớn được gợi ý từ sự tìm kiếm này khiến nó rất đáng được thực hiện.
Eugene Lim là một giảng viên về vật lý hạt lý thuyết và vũ trụ học ở trường King’s College London.Bài báo gốc được đăng tải ở trang TheConversation.com

Chia sẻ bài viết này

Bản chất lưỡng tính sóng - hạt của ánh sáng (P2)

Ánh sáng có tính hạt bởi thực sự nó là hạt. Chúng có tính sóng bởi sự dao động của các hạt ánh sáng tạo ra sóng, tần số dao động của hạt ánh sáng tạo nên tần số ánh sáng. Ánh sáng lan truyền dưới dạng sóng, còn bản thân các hạt ánh sáng chỉ di chuyển dưới dạng dao động xung quanh một vị trí nào đó và không hoàn toàn cố định trong không gian. Năng lượng trong ánh sáng được truyền từ hạt ánh sáng này tới hạt ánh sáng khác khi các hạt ánh sáng tương tác với nhau và được truyền sang các hạt không phải ánh sáng khi hạt ánh sáng dao động va chạm với các hạt đó. Như vậy sóng ánh sáng là cái mang năng lượng trong ánh sáng đi xa chứ không phải là hạt ánh sáng. Sự va chạm của các hạt ánh sáng với các electron không phải là liên tục và tần số và chạm phụ thuộc và tần số ánh sáng, năng lượng mà các electron nhận được phụ thuộc vào số lần va chạm. Điều này giải thích tại sao có hiện tượng quang điện và hiện tượng này chỉ xảy ra trong một số điều kiện nhất định. Năng lượng được sóng ánh sáng truyền tải, vì vậy có thể nói rằng bản chất của ánh sáng là sự di chuyển của dòng năng lượng dưới dạng sóng được tạo ra từ dao động của các hạt ánh sáng.

Tính chất không cố định của môi trường hạt ánh sáng được tạo ra do tính rời rạc của các hạt ánh sáng. Do tính không cố định này mà môi trường hạt ánh sáng có thể bị các hạt của các môi trường khác thâm nhập làm cho mất tính đồng nhất và ngược lại. Khi chịu sự thâm nhập của các hạt khác, khoảng cách giữa các hạt ánh dãn rộng ra, thời gian tác động lẫn nhau giữa các hạt ánh sáng tăng lên và do đó tốc độ ánh sáng giảm xuống. Đây là nguyên nhân của hiện tượng chiết quang, tốc độ của ánh sáng giảm xuống trong một số môi trường vật chất trong suốt.

Tính chất không cố định của môi trường hạt ánh sáng còn tạo nên khả năng một phần của môi trường ánh sáng có thể tách bởi một hộp kín và nếu hộp kín đó di chuyển sẽ mang theo phần môi trường đó. Trong phần môi trường đang di chuyển này, tốc độ ánh sáng đo được không có gì khác với tốc độ ánh sáng trong môi trường hạt ánh sáng đứng yên và không chịu tác động nào của tốc độ di chuyển của môi trường. Sự việc này giống với việc mở nhạc trong một toa tàu kín đang di chuyển vậy. Âm thanh sẽ không chiụ tác động của sự di chuyển của toa mà thay đổi tốc độ lan truyền trong không khí bên trong toa tàu hay tác động của sự di chuyển của toa tàu đã bị tốc độ di chuyển của khối không khí trong toa tàu triệt tiêu..

Tia sáng trong thí nghiệm của Michelson-Morley cũng di chuyển trong một môi trường hạt ánh sáng đang di chuyển ( thí nghiệm này được tiến hành trong hầm kín) và nó không chịu tác động của tốc độ di chuyển của trái đất, do đó nó không hề bị thay đổi tốc độ để tạo nên vân giao thoa trong giao thoa kế. Không hề có sự co lại của khoảng cách và cũng chẳng có sự dãn ra của thời gian trong thí nghiệm này. Điều này được chứng minh cả về mặt toán học. Sóng ánh sáng là một sóng cơ học và nó cũng giống như sóng cơ học khác là âm thanh. Chúng chỉ khác nhau về môi trường truyền sóng. Khi ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng, chúng sẽ bị khúc xạ tại những mặt phân cách giữa hai môi trường truyền sóng và đường đi của tia sáng trong vũ trụ sẽ bị bẻ cong bởi lớp khí quyển của bất kỳ thiên thể nào có lớp khí quyển trong bao quanh. Mặt trời cũng có lớp khí quyển bao quanh và do đó tia sáng của các ngôi sao chiếu qua lớp khí quyển này cũng bị bẻ cong giống như có một lực nào đó tác động lên tia sáng đó vậy. Bản chất của sự uốn cong các tia sáng đi gần mặt trời là sự khúc xạ chứ không phải là do tác dụng của thấu kính hấp dẫn.

Môi trường hạt ánh sáng tràn đầy vũ trụ để sóng ánh sáng lan truyền khắp không gian vũ trụ. Hạt ánh sáng có khối lượng ngay cả trong trạng thái dừng. Điều này sẽ được khẳng định khi xác định được rằng một trong các thành phần của vật chất tối, loại vật chất chiếm tới 70% khối lượng vũ trụ, là các hạt ánh sáng.

Khi nào ánh sáng thể hiện tính sóng khi nào thể hiện tính hạt?

Như phần trên đây đã trình bày, sự di chuyển của ánh sáng là sự di chuyển của sóng và điều này thể hiện tính sóng của ánh sáng. Sóng ánh sáng mang theo năng lượng. Mặt khác, với tính chất di chuyển với tốc độ là một hằng số cho thấy không có hạt ánh sáng di chuyển bởi hạt ánh sáng có khối lượng hoặc sẽ có khối lượng khi chuyển trạng thái từ đứng yên ( hoặc chuyển động chậm) lên tốc độ ánh sáng đo được trong thí nghiệm Michelson-Morley cần có một quá trình gia tốc. Sự xuất hiện quá trình này sẽ phủ nhận tính hằng số của vận tốc ánh sáng. Chuyển động sóng là chuyển động phi vật chất nên nó không đòi hỏi phải có quá trình gia tốc nhưng cần có môi trường vật chất đàn hồi. Các hiện tượng quang điện chứng tỏ rằng ánh sáng có tính hạt. Như vậy các hạt ánh sáng bị bỏ lại trong quá trình di chuyển của tia sáng. Vậy vai trò của hạt ánh sáng là gì? Câu trả lời khả dĩ nhất là các hạt ánh sáng tạo nên môi trường đàn hồi và sự dao động của chúng tạo nên sóng ánh sáng, tần số dao động của chúng tạo nên bước sóng ánh sáng. Với quan niệm này chúng ta có thể phát biểu định nghĩa và cũng là bản chất của ánh sáng:

“Ánh sáng là sự di chuyển của năng lượng dưới dạng sóng được tạo nên từ sự dao động của một tập hợp các lượng tử ánh sáng ( hay các hạt photon)”

Với tính chất là hạt điện từ vừa hút vừa đẩy lẫn nhau, các photon tạo nên môi trường đàn hồi cho sóng ánh sáng di chuyển, các hạt photon không di chuyển theo tia sáng mà chỉ dao động xung quanh vị trí của nó. Với định nghĩa này, ánh sáng bảo toàn được cả tính chất sóng và hạt, do đó thoả mãn được sự giải thích đồng thời các hiện tượng ánh sáng do cả hai tính chất này của ánh sáng tạo nên. Tần số dao động của hạt tạo nên bước sóng ánh sáng và trong môi trường đồng nhất tia sáng truyền theo đường thẳng, và khi có một tác động nào đó làm cho một hoặc nhiều hạt photon thay đổi phương dao động sẽ tạo nên hiện tượng khúc xạ hoặc tán xạ, tia sáng không đi theo đường thẳng ban đầu và tia nào có bước sóng càng lớn thì khả năng lệch hướng càng cao. Sự hấp thụ năng lượng của các điện tử trong hiện tượng quang điện không phải là sự hấp thụ các hạt photon mà là sự tiếp nhận năng lượng từ hạt photon trong mỗi lần chúng va chạm vào nhau theo chu kỳ dao động của chúng.

Thuyết tương đối đã coi sự di chuyển của ánh sáng là sự di chuyển của các photon hay các hạt ánh sáng và bỏ qua môi trường truyền sóng, đồng thời vẫn giữ lại tính hằng số của tốc độ ánh sáng. Những quan niệm này dẫn đến những mâu thuẫn và không phù hợp với những quan sát trong thực tế: đó là ánh sáng thể hiện tính chất sóng trong sự di chuyển. Do di chuyển dưới dạng sóng nên ánh sáng không cần gia tốc và không có quán tính, đây là hai điều kiện để đảm bảo tính chất hằng số của tốc độ ánh sáng. Ngược lại, bất kỳ một hạt vật chất nào có khối lượng ( hoặc sẽ có khối lượng khi di chuyển ?) đều có quán tính và do đó có gia tốc khi thay đổi trạng thái chuyển động, hay tốc độ của nó sẽ không phải là một hằng số. Mâu thuẫn trong quan niệm của thuyết tượng đối là mâu thuẫn giữa tính hằng số của tốc độ với tính chất là hạt di chuyển của ánh sáng. Huyghens, nhà bác học đầu tiên xây dựng lý thuyết sóng ánh sáng đã phản đối sự di chuyển của ánh sáng dưới dạng hạt. Ông đã cho rằng nếu ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt thì các tia sáng có thể va chạm vào nhau, có nghĩa là khi mắt đang quan sát một vật mà có một chùm tia sáng mạnh chiếu ngang qua các tia sáng đang đi từ vật tới mắt sẽ làm cho các tia này bị lệch hướng, hình ảnh của vật sẽ biến mất. Nhưng thực tế điều này không xảy ra. Kết hợp điều này với tính chất tốc độ di chuyển là hằng số trong môi trường đồng nhất đã củng cố chắc chắn tính chất di chuyển dưới dạng sóng của ánh sáng. Quan niệm các hạt photon dao động để tạo nên sóng ánh sáng đã xác rằng chúng di chuyển trong giới hạn của một khoảng cách nhỏ ( sự di chuyển của hạt), do đó chúng cũng có thể có va chạm với các hạt, các vật thể khác trong môi trường gây nên các hiện tượng tán xạ, phản xạ và khúc xạ.

Bản chất lưỡng tính sóng - hạt của ánh sáng (P1)

Giả thuyết mới về môi trường truyền ánh sáng và sự giải thích hợp lý về lưỡng tính sóng hạt của ánh sáng.
Ánh sáng, nguồn năng lượng thiết yếu cho sự sống trên trái đất và là phương tiện thông tin hữu hiệu. Vai trò của ánh sáng là rất lớn. Vì vậy ánh sáng là đối tượng nghiên cứu không chỉ của khoa học mà còn trong nghệ thuật. Đã có nhiều công trình khoa học lớn nghiên cứu về ánh sáng với những kết quả quan trọng. Nhưng cũng còn những hiện tượng của ánh sáng chưa được giải thích hoặc còn gây tranh cãi như bản chất ánh sáng là gì, ánh sáng di chuyển như thế nào?

Hiện nay đang tồn tại hai thuyết về sự di chuyển của ánh sáng, đó là ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng thể hiện trong lý thuyết của Christiaan Huygens, còn Isaac Newton và sau này là Albert Einstein cho rằng ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt. Mỗi lý thuyết đều giải quyết được một số hiện tượng của ánh sáng.

Lý thuyết sóng ánh sáng, được Christiaan Huygens đưa ra, cho rằng dòng ánh sáng là sự lan truyền của sóng. Lý thuyết này giải thích được nhiều hiện tượng mang tính chất sóng của ánh sáng như giao thoa, nhiễu xạ; đồng thời giải thích tốt hiện tượng khúc xạ và phản xạ. Nhưng thuyết này không giải thích được hiện tượng quang điện.

Lý thuyết hạt ánh sáng, được Isaac Newton đưa ra, cho rằng dòng ánh sáng là dòng di chuyển của các hạt vật chất. Lý thuyết này giải thích được hiện tượng phản xạ và một số tính chất khác của ánh sáng. Albert Einstein cũng cho rằng ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt và giải thích được hiện tượng quang điện; tuy nhiên lý thuyết này không giải thích được nhiều hiện tượng như giao thoa, nhiễu xạ mang tính chất sóng. Với việc phát hiện ra ánh sáng di chuyển với tốc độ ổn định và không phụ thuộc vào hệ quy chiếu và thuyết ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng, giả thuyết về môi trường truyền sóng ánh sáng là ether với tính chất là môi trường cố định và cứng hơn kim cương đã ra đời. Nhưng việc tìm kiếm môi trường ether đã thất bại mà tiêu biểu là thí nghiệm Michelson-Morley. Điều này củng cố thêm cho sự vững chắc của lý thuyết hạt ánh sáng.
Để giải thích cho sự không phù hợp giữa thí nghiệm của Michelson-Morley năm 1887 với giả thuyết về môi trường truyền ánh sáng là ether, nhà vật lý người Hà lan Hendrik Lorent cho rằng các vật thể chuyển động trong môi trường ether sẽ co lại và thời gian sẽ chậm đi. Sự co lại của chiều dài và sự chậm lại của đồng hồ sẽ làm cho thời gian của các tia sáng di chuyển của mọi hướng là như nhau, như vậy Lorent vẫn cho rằng môi trường ether là có thực.
Năm 1905, Albert Einstein cho rằng môi trường ether là không cần thiết khi người ta không biết mình chuyển động như thế nào trong không gian, tốc độ của ánh sáng là độc lập với người quan sát và họ sẽ đo được tốc độ của ánh sáng như nhau trong mọi hệ quy chiếu mà không phụ thuộc vào tốc độ di chuyển của họ. Nói cách khác, Einstien đã coi ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt và không có môi trường truyền sóng ánh sáng. Tuy nhiên ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng lại là điều không thể phủ nhận.
Mặt khác, như Huygens đã nói, nếu ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt thì các hạt ánh sáng sẽ phải va chạm với nhau và bị đổi hướng, sự quan sát sẽ không thực hiện được nếu giữa mắt và vật được quan sát có một luồng ánh sáng chiếu ngang. Ý kiến này của Huygens còn đúng trong trường hợp sử dụng ánh sáng để truyền thông tin trong cáp quang. Với một tiết diện chật hẹp của sợi thuỷ tinh, nếu ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt thì các tín hiệu thông tin sẽ bị triệt tiêu hoặc bị sai lệch khi có hai luồng thông tin di chuyển ngược chiều nhau.

Trong thực tế điều này không xảy ra, có nghĩa là ánh sáng di chuyển trong các sợi cáp quang dưới dạng sóng. Với hai lý thuyết khác nhau và với các hiện tượng thể hiện cả hai tính chất sóng và hạt, lý thuyết lượng tử coi ánh sáng có lưỡng tính sóng hạt. Khi ánh sáng đã được coi là có lưỡng tính sóng hạt thì chỉ sử dụng một trong hai lý thuyết, lý thuyết sóng và lý thuyết hạt ánh sáng, sẽ không đủ để giải thích cho tính chất đặc biệt này của ánh sáng.

Lý thuyết sóng, như trên đã nói, đó là không giải thích được hiện tượng quang điện, còn lý thuyết hạt, không giải thích được các biểu hiện sóng của ánh sáng. Hơn thế, coi ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt sẽ dẫn đến sự phủ nhận ánh sáng di chuyển với tốc độ là hằng số trong môi trường đồng nhất bởi hạt ánh sáng có khối lượng (Einstein chỉ coi hạt ánh sáng là không có khối lượng khi nó ở trạng thái dừng). Và khi đã có khối lượng thì hạt ánh sáng sẽ có quán tính. Quán tính sẽ làm cho hạt ánh sáng có gia tốc khi ánh sáng thay đổi trạng thái chuyển động, nó không thể có ngay vận tốc tối đa tại thời điểm mới được phát ra hay tốc độ của nó không thể là hằng số. Còn nếu coi hạt ánh sáng là không có khối lượng ngay cả trong lúc di chuyển để phù hợp với tốc độ ánh sáng thực tế đã quan sát được thì sẽ không phù hợp với giả thuyết về thấu kính hấp dẫn của thuyết tương đối bởi khi không có khối lượng, hạt ánh sáng sẽ không chịu tương tác hấp dẫn và không bị bẻ cong khi đi gần các thiên thể có khối lượng lớn.

Tính chất hằng số của tốc độ ánh sáng trong môi trường đồng nhất (mà ánh sáng di chuyển được) là tính chất của sự di chuyển dưới dạng sóng. Tốc độ này có thể đạt được ngay từ khi tia sáng được phát ra. Và khi xác định được rằng ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng (để phù hợp với những quan sát thực tế) thì cần cho ánh sáng một môi trường đàn hồi để sóng ánh sáng có thể lan truyền được. Nhưng nếu cho ánh sáng một môi trường đàn hồi thì hạt ánh sáng sẽ rất nhanh mất năng lượng do ma sát với môi trường để không thể di chuyển trong khoảng cách hàng tỷ năm ánh sáng. Đây là điều mà những nhà chủ trương ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt không mong muốn. Vậy vấn đề sẽ như thế nào?

Đã có một phương thức giải quyết cho lưỡng tính sóng hạt, đó là đề xuất của Broglie năm 1924 cho rằng các hạt ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng. Nhưng nếu như vậy thì tốc độ của hạt ánh sáng sẽ phải lớn hơn tốc độ tia sáng bởi tia sáng truyền theo đường thẳng, còn hạt ánh sáng di chuyển trên con đường hình sin có độ dài lớn hơn độ dài đường đi của tia sáng. Tốc độ của hạt ánh sáng phải lớn hơn để hạt ánh sáng đi cùng với tia sáng và điều này mâu thuẫn với thuyết tương đối bởi Einstein coi tốc độ của tia sáng trong chân không là tốc độ lớn nhất trong vũ trụ, không có cái gì có thể di chuyển với tốc độ lớn hơn tốc độ đó.

Có một cách giải quyết vấn đề phù hợp với tất cả các hiện tượng đã được quan sát về ánh sáng, dung hoà được cả hai lý thuyết sóng và hạt, phù hợp với thí nghiệm của Michelson-Morley, giải thích được lưỡng tính sóng hạt của ánh sáng, đó là xây dựng giả thuyết mới về môi trường truyền ánh sáng. Môi trường đó không có gì khác ngoài môi trường được tạo nên từ các hạt ánh sáng (photon). Đây là một môi trường có tính đàn hồi, không cố định và do đó nó khác hẳn với cái gọi là môi trường ether. Khi các hạt ánh sáng chiụ một kích thích hay một tác động nào đó, chúng sẽ dịch chuyển và tương tác với các hạt ánh sáng khác (và có thể với các hạt không phải là ánh sáng). Sự tương tác đó làm cho hạt ánh sáng không thể dịch chuyển với khoảng cách lớn mà chỉ dao động trong một phạm vi xác định. Chính sự dao động này của các hạt ánh sáng đã tạo nên sóng ánh sáng. Đây là câu trả lời cho các câu hỏi tại sao ánh sáng quan sát được vừa có tính hạt và vừa có tính sóng.

Giả thuyết mới về môi trường truyền ánh sáng và sự giải thích hợp lý về lưỡng tính sóng hạt của ánh sáng.

  • 1 2 3 4 5 212
  •  
  • 13.206
  •  
Ánh sáng, nguồn năng lượng thiết yếu cho sự sống trên trái đất và là phương tiện thông tin hữu hiệu. Vai trò của ánh sáng là rất lớn. Vì vậy ánh sáng là đối tượng nghiên cứu không chỉ của khoa học mà còn trong nghệ thuật. Đã có nhiều công trình khoa học lớn nghiên cứu về ánh sáng với những kết quả quan trọng. Nhưng cũng còn những hiện tượng của ánh sáng chưa được giải thích hoặc còn gây tranh cãi như bản chất ánh sáng là gì, ánh sáng di chuyển như thế nào?
Hiện nay đang tồn tại hai thuyết về sự di chuyển của ánh sáng, đó là ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng thể hiện trong lý thuyết của Christiaan Huygens, còn Isaac Newton và sau này là Albert Einstein cho rằng ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt. Mỗi lý thuyết đều giải quyết được một số hiện tượng của ánh sáng.
Lý thuyết sóng ánh sáng, được Christiaan Huygens đưa ra, cho rằng dòng ánh sáng là sự lan truyền của sóng. Lý thuyết này giải thích được nhiều hiện tượng mang tính chất sóng của ánh sáng như giao thoa, nhiễu xạ; đồng thời giải thích tốt hiện tượng khúc xạ và phản xạ. Nhưng thuyết này không giải thích được hiện tượng quang điện.
Lý thuyết hạt ánh sáng, được Isaac Newton đưa ra, cho rằng dòng ánh sáng là dòng di chuyển của các hạt vật chất. Lý thuyết này giải thích được hiện tượng phản xạ và một số tính chất khác của ánh sáng. Albert Einstein cũng cho rằng ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt và giải thích được hiện tượng quang điện; tuy nhiên lý thuyết này không giải thích được nhiều hiện tượng như giao thoa, nhiễu xạ mang tính chất sóng. Với việc phát hiện ra ánh sáng di chuyển với tốc độ ổn định và không phụ thuộc vào hệ quy chiếu và thuyết ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng, giả thuyết về môi trường truyền sóng ánh sáng là ether với tính chất là môi trường cố định và cứng hơn kim cương đã ra đời. Nhưng việc tìm kiếm môi trường ether đã thất bại mà tiêu biểu là thí nghiệm Michelson-Morley. Điều này củng cố thêm cho sự vững chắc của lý thuyết hạt ánh sáng.
Ảnh chỉ mang tính chất minh họa.
Để giải thích cho sự không phù hợp giữa thí nghiệm của Michelson-Morley năm 1887 với giả thuyết về môi trường truyền ánh sáng là ether, nhà vật lý người Hà lan Hendrik Lorent cho rằng các vật thể chuyển động trong môi trường ether sẽ co lại và thời gian sẽ chậm đi. Sự co lại của chiều dài và sự chậm lại của đồng hồ sẽ làm cho thời gian của các tia sáng di chuyển của mọi hướng là như nhau, như vậy Lorent vẫn cho rằng môi trường ether là có thực.
Năm 1905, Albert Einstein cho rằng môi trường ether là không cần thiết khi người ta không biết mình chuyển động như thế nào trong không gian, tốc độ của ánh sáng là độc lập với người quan sát và họ sẽ đo được tốc độ của ánh sáng như nhau trong mọi hệ quy chiếu mà không phụ thuộc vào tốc độ di chuyển của họ. Nói cách khác, Einstien đã coi ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt và không có môi trường truyền sóng ánh sáng. Tuy nhiên ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng lại là điều không thể phủ nhận.
Mặt khác, như Huygens đã nói, nếu ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt thì các hạt ánh sáng sẽ phải va chạm với nhau và bị đổi hướng, sự quan sát sẽ không thực hiện được nếu giữa mắt và vật được quan sát có một luồng ánh sáng chiếu ngang. Ý kiến này của Huygens còn đúng trong trường hợp sử dụng ánh sáng để truyền thông tin trong cáp quang. Với một tiết diện chật hẹp của sợi thuỷ tinh, nếu ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt thì các tín hiệu thông tin sẽ bị triệt tiêu hoặc bị sai lệch khi có hai luồng thông tin di chuyển ngược chiều nhau.
Trong thực tế điều này không xảy ra, có nghĩa là ánh sáng di chuyển trong các sợi cáp quang dưới dạng sóng. Với hai lý thuyết khác nhau và với các hiện tượng thể hiện cả hai tính chất sóng và hạt, lý thuyết lượng tử coi ánh sáng có lưỡng tính sóng hạt. Khi ánh sáng đã được coi là có lưỡng tính sóng hạt thì chỉ sử dụng một trong hai lý thuyết, lý thuyết sóng và lý thuyết hạt ánh sáng, sẽ không đủ để giải thích cho tính chất đặc biệt này của ánh sáng.
Lý thuyết sóng, như trên đã nói, đó là không giải thích được hiện tượng quang điện, còn lý thuyết hạt, không giải thích được các biểu hiện sóng của ánh sáng. Hơn thế, coi ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt sẽ dẫn đến sự phủ nhận ánh sáng di chuyển với tốc độ là hằng số trong môi trường đồng nhất bởi hạt ánh sáng có khối lượng (Einstein chỉ coi hạt ánh sáng là không có khối lượng khi nó ở trạng thái dừng). Và khi đã có khối lượng thì hạt ánh sáng sẽ có quán tính. Quán tính sẽ làm cho hạt ánh sáng có gia tốc khi ánh sáng thay đổi trạng thái chuyển động, nó không thể có ngay vận tốc tối đa tại thời điểm mới được phát ra hay tốc độ của nó không thể là hằng số. Còn nếu coi hạt ánh sáng là không có khối lượng ngay cả trong lúc di chuyển để phù hợp với tốc độ ánh sáng thực tế đã quan sát được thì sẽ không phù hợp với giả thuyết về thấu kính hấp dẫn của thuyết tương đối bởi khi không có khối lượng, hạt ánh sáng sẽ không chịu tương tác hấp dẫn và không bị bẻ cong khi đi gần các thiên thể có khối lượng lớn.
Tính chất hằng số của tốc độ ánh sáng trong môi trường đồng nhất (mà ánh sáng di chuyển được) là tính chất của sự di chuyển dưới dạng sóng. Tốc độ này có thể đạt được ngay từ khi tia sáng được phát ra. Và khi xác định được rằng ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng (để phù hợp với những quan sát thực tế) thì cần cho ánh sáng một môi trường đàn hồi để sóng ánh sáng có thể lan truyền được. Nhưng nếu cho ánh sáng một môi trường đàn hồi thì hạt ánh sáng sẽ rất nhanh mất năng lượng do ma sát với môi trường để không thể di chuyển trong khoảng cách hàng tỷ năm ánh sáng. Đây là điều mà những nhà chủ trương ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt không mong muốn. Vậy vấn đề sẽ như thế nào?

Đã có một phương thức giải quyết cho lưỡng tính sóng hạt, đó là đề xuất của Broglie năm 1924 cho rằng các hạt ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng. Nhưng nếu như vậy thì tốc độ của hạt ánh sáng sẽ phải lớn hơn tốc độ tia sáng bởi tia sáng truyền theo đường thẳng, còn hạt ánh sáng di chuyển trên con đường hình sin có độ dài lớn hơn độ dài đường đi của tia sáng. Tốc độ của hạt ánh sáng phải lớn hơn để hạt ánh sáng đi cùng với tia sáng và điều này mâu thuẫn với thuyết tương đối bởi Einstein coi tốc độ của tia sáng trong chân không là tốc độ lớn nhất trong vũ trụ, không có cái gì có thể di chuyển với tốc độ lớn hơn tốc độ đó.

Có một cách giải quyết vấn đề phù hợp với tất cả các hiện tượng đã được quan sát về ánh sáng, dung hoà được cả hai lý thuyết sóng và hạt, phù hợp với thí nghiệm của Michelson-Morley, giải thích được lưỡng tính sóng hạt của ánh sáng, đó là xây dựng giả thuyết mới về môi trường truyền ánh sáng. Môi trường đó không có gì khác ngoài môi trường được tạo nên từ các hạt ánh sáng (photon). Đây là một môi trường có tính đàn hồi, không cố định và do đó nó khác hẳn với cái gọi là môi trường ether. Khi các hạt ánh sáng chiụ một kích thích hay một tác động nào đó, chúng sẽ dịch chuyển và tương tác với các hạt ánh sáng khác (và có thể với các hạt không phải là ánh sáng). Sự tương tác đó làm cho hạt ánh sáng không thể dịch chuyển với khoảng cách lớn mà chỉ dao động trong một phạm vi xác định. Chính sự dao động này của các hạt ánh sáng đã tạo nên sóng ánh sáng. Đây là câu trả lời cho các câu hỏi tại sao ánh sáng quan sát được vừa có tính hạt và vừa có tính sóng.
Ánh sáng có tính hạt bởi thực sự nó là hạt. Chúng có tính sóng bởi sự dao động của các hạt ánh sáng tạo ra sóng, tần số dao động của hạt ánh sáng tạo nên tần số ánh sáng. Ánh sáng lan truyền dưới dạng sóng, còn bản thân các hạt ánh sáng chỉ di chuyển dưới dạng dao động xung quanh một vị trí nào đó và không hoàn toàn cố định trong không gian. Năng lượng trong ánh sáng được truyền từ hạt ánh sáng này tới hạt ánh sáng khác khi các hạt ánh sáng tương tác với nhau và được truyền sang các hạt không phải ánh sáng khi hạt ánh sáng dao động va chạm với các hạt đó. Như vậy sóng ánh sáng là cái mang năng lượng trong ánh sáng đi xa chứ không phải là hạt ánh sáng. Sự va chạm của các hạt ánh sáng với các electron không phải là liên tục và tần số và chạm phụ thuộc và tần số ánh sáng, năng lượng mà các electron nhận được phụ thuộc vào số lần va chạm. Điều này giải thích tại sao có hiện tượng quang điện và hiện tượng này chỉ xảy ra trong một số điều kiện nhất định. Năng lượng được sóng ánh sáng truyền tải, vì vậy có thể nói rằng bản chất của ánh sáng là sự di chuyển của dòng năng lượng dưới dạng sóng được tạo ra từ dao động của các hạt ánh sáng.

Tính chất không cố định của môi trường hạt ánh sáng được tạo ra do tính rời rạc của các hạt ánh sáng. Do tính không cố định này mà môi trường hạt ánh sáng có thể bị các hạt của các môi trường khác thâm nhập làm cho mất tính đồng nhất và ngược lại. Khi chịu sự thâm nhập của các hạt khác, khoảng cách giữa các hạt ánh dãn rộng ra, thời gian tác động lẫn nhau giữa các hạt ánh sáng tăng lên và do đó tốc độ ánh sáng giảm xuống. Đây là nguyên nhân của hiện tượng chiết quang, tốc độ của ánh sáng giảm xuống trong một số môi trường vật chất trong suốt.

Tính chất không cố định của môi trường hạt ánh sáng còn tạo nên khả năng một phần của môi trường ánh sáng có thể tách bởi một hộp kín và nếu hộp kín đó di chuyển sẽ mang theo phần môi trường đó. Trong phần môi trường đang di chuyển này, tốc độ ánh sáng đo được không có gì khác với tốc độ ánh sáng trong môi trường hạt ánh sáng đứng yên và không chịu tác động nào của tốc độ di chuyển của môi trường. Sự việc này giống với việc mở nhạc trong một toa tàu kín đang di chuyển vậy. Âm thanh sẽ không chiụ tác động của sự di chuyển của toa mà thay đổi tốc độ lan truyền trong không khí bên trong toa tàu hay tác động của sự di chuyển của toa tàu đã bị tốc độ di chuyển của khối không khí trong toa tàu triệt tiêu..
Tia sáng trong thí nghiệm của Michelson-Morley cũng di chuyển trong một môi trường hạt ánh sáng đang di chuyển ( thí nghiệm này được tiến hành trong hầm kín) và nó không chịu tác động của tốc độ di chuyển của trái đất, do đó nó không hề bị thay đổi tốc độ để tạo nên vân giao thoa trong giao thoa kế. Không hề có sự co lại của khoảng cách và cũng chẳng có sự dãn ra của thời gian trong thí nghiệm này. Điều này được chứng minh cả về mặt toán học. Sóng ánh sáng là một sóng cơ học và nó cũng giống như sóng cơ học khác là âm thanh. Chúng chỉ khác nhau về môi trường truyền sóng. Khi ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng, chúng sẽ bị khúc xạ tại những mặt phân cách giữa hai môi trường truyền sóng và đường đi của tia sáng trong vũ trụ sẽ bị bẻ cong bởi lớp khí quyển của bất kỳ thiên thể nào có lớp khí quyển trong bao quanh. Mặt trời cũng có lớp khí quyển bao quanh và do đó tia sáng của các ngôi sao chiếu qua lớp khí quyển này cũng bị bẻ cong giống như có một lực nào đó tác động lên tia sáng đó vậy. Bản chất của sự uốn cong các tia sáng đi gần mặt trời là sự khúc xạ chứ không phải là do tác dụng của thấu kính hấp dẫn.

Môi trường hạt ánh sáng tràn đầy vũ trụ để sóng ánh sáng lan truyền khắp không gian vũ trụ. Hạt ánh sáng có khối lượng ngay cả trong trạng thái dừng. Điều này sẽ được khẳng định khi xác định được rằng một trong các thành phần của vật chất tối, loại vật chất chiếm tới 70% khối lượng vũ trụ, là các hạt ánh sáng.
Phùng Văn Hòa

Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016


Hai nhà khoa học uy tín trên thế giới cho biết, họ vừa phát hiện bằng chứng cho thấy vũ trụ đã tồn tại trước vụ nổ Big Bang. Tuyên bố này đang gây chấn động giới khoa học toàn thế giới.
Một bản đồ của bức xạ nền vũ trụ (CMB) trong vũ trụ với những hình tròn có thể biểu hiện các sự kiện diễn ra trước vụ nổ Big Bang. Ảnh: Daily Mail.
Tờ Daily Mail đưa tin, khám phá gây tranh cãi về sự ra đời của vũ trụ được Roger Penrose – nhà khoa học, vị giáo sư đáng kính của Đại học Oxford (Anh) và giáo sư Vahe Gurzadyan từ Đại học quốc gia Yerevan (Armenia) cho đăng tải trực tuyến trên trang web arXiv.org. Theo hai chuyên gia này, vũ trụ không phải khởi phát từ vụ nổ Big Bang mà là một chu kỳ của những cái được đặt tên là aeon.
Hầu hết các nhà khoa học tin rằng, vũ trụ được tạo ra trong vụ nổ Big Bang cách đây khoảng 13,7 tỉ năm. Các ngôi sao và thiên hà bắt đầu hình thành khoảng 300 triệu năm sau đó. Mặt Trời của chúng ta được sinh ra khoảng 5 tỉ năm trước, trong khi sự sống đầu tiên xuất hiện trên Trái đất cách đây gần 3,7 tỉ năm.
Bức xạ nền vi sóng vũ trụ (CMB) cũng được đông đảo giới chuyên môn nhận định ra đời 300 triệu năm sau vụ nổ Big Bang và hiện đã bị làm lạnh tới khoảng -270 độ C.
Tuy nhiên, hai giáo sư Penrose và Gurzadyan chỉ ra rằng, bằng chứng mà Chương trình Thăm dò vi sóng bất đẳng hướng Wilkinson của Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) thu được trong CMB lại cho thấy: các dấu vết trong nền bức xạ có tuổi đời cao hơn vụ nổ Big Bang.
Họ nói đã khám phá được 12 ví dụ về các vòng tròn đồng tâm như trên trong CMB. Một vài trong số đó có năm vòng, đồng nghĩa với việc đối tượng đã trải qua năm sự kiện vô cùng lớn trong lịch sử của nó. Các vòng tròn xuất hiện quanh những cụm thiên hà có biến thể trong bức xạ nền thấp một cách kỳ lạ.
Nghiên cứu dường như đã loại bỏ giả thuyết “lạm phát” được đông đảo chấp nhận về nguồn gốc của vũ trụ, rằng nó bắt đầu được hình thành nhờ vụ nổ Big Bang và sẽ tiếp tục mở rộng tới một thời điểm trong tương lai khi quá trình đó chấm dứt.
Penrose và Gurzadyan tin rằng, các vòng tròn là dấu vết của những sóng hấp dẫn vô cùng mạnh mẽ khởi phát từ các vụ va chạm lỗ đen siêu lớn trong một aeon trước đó, trước vụ nổ lớn cuối cùng. Điều này có nghĩa là, các chu kỳ vũ trụ thông qua các aeon nằm dưới sự chi phối của những vụ nổ lớn và va chạm lỗ đen siêu lớn.
Giáo sư Penrose bày tỏ, lý thuyết mới của ông về “vũ trụ tuần hoàn bảo giác” có nghĩa rằng, các lỗ đen cuối cùng sẽ phá hủy mọi vật chất trong vũ trụ. Theo lý thuyết của ông, khi các lỗ đen hoàn thành tất cả những việc này thì còn lại trong vũ trụ sẽ chỉ là năng lượng, vốn sau đó sẽ kích hoạt một vụ nổ Big Bang mới và aeon mới.
Giáo sư Penrose phát biểu với hãng thông tấn BBC: “Trong giả thuyết mà tôi đưa ra, chúng ta có một sự mở rộng theo cấp số nhân nhưng không thuộc aeon của chúng ta – Tôi sử dụng thuật ngữ để mô tả [giai đoạn] từ vụ nổ Big Bang của chúng ta cho đến tương lai xa. Tôi cho rằng, aeon này là một trong hàng loạt sự việc, nơi tương lai xa của các aeon trước bằng cách nào đó trở thành vụ nổ Big Bang của aeon chúng ta”.
Theo vietnamnet

Những hành động “khôi hài” trong ngoại giao của ông Giang Trạch Dân

Từ khi bước vào năm 2016 đến nay, nhiều thông tin bê bối liên quan đến ông Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng thường xuyên được truyền thông đưa ra.

Trung Quốc, Tăng Khánh Hồng, ngoại giáo, Giang Trạch Dân,
Tại Quốc yến khi Tổng thống Iceland tiếp ông Giang Trạch Dân, ông Giang bất ngờ đứng lên hát làm những người có mặt ai nấy hoảng hốt. Bà vợ Vương Dã Bình của ông Giang cảm thấy vô cùng khó xử. (Ảnh: Internet)
Gần đây, những hình ảnh phô trương không hợp lễ trong hoạt động đối ngoại của ông Giang Trạch Dân lại được chia sẻ thêm trên mạng. Ví như, trong buổi Quốc yến vào năm 2002 khi ông Giang đi thăm Iceland, đã bất ngờ đứng lên hát làm mọi người giật mình, đặc biệt bà Vương Dã Bình, vợ của ông đã vô cùng khó xử trước hành động kỳ quái của chồng.
Theo câu chuyện kể lại, lúc đó Tổng thống Iceland đã tổ chức bữa tiệc chiêu đãi cấp nhà nước, ông Giang Trạch Dân trong lúc đang ăn dở chừng thì bất ngờ đứng lên hát khiến những quan khách có mặt đều giật mình. Vợ của ông Giang thì nét mặt mếu máo, những nhân viên trong đoàn phía Trung Quốc cũng nhìn ông Giang Trạch Dân bằng ánh mắt xem thường, Tổng thống Iceland cũng cảm thấy lúng túng. Sau sự kiện, nhiều tờ báo hàng ngày lớn nhất của Iceland đã đăng tải hình ảnh và tường thuật chi tiết toàn bộ câu chuyện, câu chuyện trở thành đề tài hài hước trong giới truyền thông quốc tế.
Qua theo dõi hoạt động của ông Giang, giới truyền thông phát hiện ông Giang Trạch Dân không mấy quan tâm đến lễ nghi ngoại giao, thường xuyên có những hành vi tự tiện để phô trương hình ảnh, ví dụ như bất ngờ nổi hứng hò hát, nhảy múa.
Vào tháng 3/1993, khi Bắc Kinh mở Hội nghị Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc, ông Giang bất ngờ lấy lược ra chăm chú chải đầu khi đang ngồi giữa bàn Chủ tịch. Hình ảnh này sau đó cũng nhanh chóng được lan truyền khắp thế giới. Vào ngày 24/10/1995, ông Giang có buổi diễn thuyết tại Liên Hiệp Quốc, trước ống kính của phóng viên nhiều nước, ông Giang Trạch Dân lại một lần nữa lấy lược ra chải đầu.
Hạ tuần tháng 6/1996, ông Giang đi thăm Tây Ban Nha. Quốc vương Carlos của Tây Ban Nha mời ông ta làm nghi thức duyệt binh cùng ba quân, lúc này ông Giang lại lấy lược ra chải đầu. Khi tiếp kiến Quốc vương Tây Ban Nha, ông Giang cũng móc cái lược vuốt vuốt tóc khiến vị Quốc vương chỉ biết đứng ngây người nhìn.
Trung Quốc, Tăng Khánh Hồng, ngoại giáo, Giang Trạch Dân,
Hình ảnh Giang Trạch Dân lấy lược chải đầu khi tiếp kiến Quốc vương Tây Ban Nha. (Ảnh: Internet)
Năm 1996 khi ông Giang Trạch Dân thăm Philippines, Tổng thống Philippines Fidel Ramos mở tiệc chiêu đãi ông Giang trên du thuyền, ông ta bất ngờ cầm micro hát bài Love me tender của Elvis Presley.
Ngày 30/3/1999, ông Giang đã cùng Tổng thống Áo Klestil đến thăm nơi ở của Salzburg Mozart. Trong căn nhà thiên tài Mozart, tài sản có giá trị nhất là cây đàn piano được Mozart mua năm 1785, được biết ngoài bản thân Mozart thì không có người thứ hai trên thế giới được chơi cây đàn này. Trước cây đàn cũng có treo cảnh báo “cấm chạm vào” bằng hai thứ tiếng Anh và Đức. Nhưng không ngờ sau khi Tổng thống Áo vừa giới thiệu xong về cây đàn thì ông Giang Trạch Dân liền ngồi xuống đàn ca từ “nước Hồng Hồ, sóng cuộn sóng.” Hành động bất ngờ của ông Giang khiến vị Đại sứ Trung Quốc cùng đi (người am hiểu văn hóa Áo) vừa sợ hãi lại hổ thẹn, còn Tổng thống Áo muốn ngăn ông Giang nhưng vì lễ nghi ngoại giao nên vô cùng lúng túng.
Trong cảm nhận của người Áo thì Mozart giống như một vị thánh, không tôn trọng văn vật của Mozart tức là sỉ nhục người Áo. Ngày hôm sau, truyền thông Áo đã phải dùng đến từ ngữ “vụ bê bối” để miêu tả thông tin này, tờ Nhật báo Donau đã đăng hình ảnh châm biếm: Giang cầm búa liềm và chơi đàn piano.
Ngày 24/10/1999, khi ông Giang Trạch Dân đi thăm một bảo tàng ở Pháp, ông ta lại có hành vi bất thường khi kéo tay phu nhân Bernadette của Tổng thống Chirac để cùng Giang nhảy điệu waltz, việc này khiến ông Chirac rất không hài lòng. Người dân Pháp thì càng tức giận hơn, họ xem đây là một sự sỉ nhục đối cả dân tộc Pháp.
Trung Quốc, Tăng Khánh Hồng, ngoại giáo, Giang Trạch Dân,
Ngày 24/10/1999, ông Giang Trạch Dân không thèm đếm xỉa đến nghi lễ ngoại giao, tự ý kéo tay phu nhân Tổng thống Chirac để cùng nhảy điệu waltz. (Ảnh: Internet)
Ngày 21/2/2002, ông Giang đã tổ chức một bữa tiệc tại Đại lễ đường Nhân Dân để chào đón Tổng thống Mỹ George W. Bush. Tại hiện trường với hơn 100 quan khách, ông Giang đã hát ca khúc “Mặt Trời của tôi,” Tổng thống Mỹ George W. Bush vỗ tay, sau đó nửa đùa hỏi Ngoại trưởng Colin Powell hát một ca khúc nhẹ nhàng, nhưng Ngoại trưởng Colin Powell mỉm cười lịch sự từ chối. Trong buổi yến tiệc tối, ông Giang lại lôi Đệ nhất phu nhân Laura ra cùng nhảy, sau đó lại lần lượt kéo bà Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Condoleezza Rice và vị phu nhân Sarah của Đại sứ trú tại Bắc Kinh ra cùng nhảy.
Trong cùng năm, ông Giang lại có dịp đi ăn thịt nướng tại trang trại của ông Bush, sau khi xuống xe đã bỏ mặc người vợ Vương Dã Bình, đi nghênh ngang một mình, trong khi chủ nhân chưa mời thì Giang đã xông lên trước đi thẳng vào nhà. Không còn cách nào, Tổng thống Bush và phu nhân phải an ủi bà Vương Dã Bình, phu nhân của ông Bush sau đó phải dìu bà Vương Dã Bình đi cùng mình.
Trung Quốc, Tăng Khánh Hồng, ngoại giáo, Giang Trạch Dân,
Năm 2002, ông Giang đến nông trang của Tổng thống Mỹ Bush ăn thịt nướng, vừa xuống xe liền bỏ đi ngênh ngang một mình, không quan tâm đến vợ. (Ảnh: Internet)
Sau đó không lâu, Tổng thống Bush đến thăm Bắc Kinh, đáng lẽ ông Giang phải dắt bà Vương Dã Bình ra giới thiệu với phu nhân Tổng thống Bush, nhưng ông ta lại một tay đẩy vợ ra sau, một tay đẩy Bush sang chuẩn bị lao tới bắt tay phu nhân ông Bush khiến bà Vương Dã Bình cũng không kịp ứng phó, nét mặt biến sắc. Khi đó chỉ thấy ông Bush nhíu mày, cúi đầu suy nghĩ, xem ra biểu hiện có phần… đau khổ.
Trung Quốc, Tăng Khánh Hồng, ngoại giáo, Giang Trạch Dân,
Tổng thống Bush đến thăm Bắc Kinh, một tay ông Giang đẩy vợ ra sau, một tay đẩy ông Bush qua để chuẩn bị lao tới bắt tay phu nhân ông Bush. (Ảnh: Internet)
Trong mắt giới truyền thông, ông Giang Trạch Dân có thể tùy hứng ca hát và ngâm thơ, khoe khoang vốn tiếng Anh, móc lỗ mũi trước công chúng bất cứ lúc nào, còn trò hề nhìn chằm chằm vào mặt phụ nữ đã thành thói quen thường tình.
Trung Quốc, Tăng Khánh Hồng, ngoại giáo, Giang Trạch Dân,
Theo Secretchina/Daikynguyenvn.com