Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2013

Khám phá trực thăng tấn công Ka-50 Black Shark của Không quân Nga

 |

Ka-50 Black Shark là máy bay trực thăng tấn công một chỗ ngồi của Không quân Nga. Ka-50 Black Shark được thiết kế với khả năng thiên về tấn công.

Loại trực thăng này do công ty Kamov bắt đầu thiết kế từ thập niên 1980 và được chấp nhận đưa vào sử dụng trong quân đội Nga năm 1995. Ka-50 Black Shark được thiết kế nhỏ gọn, nhanh và linh hoạt nhằm có được ưu thế tồn tại và khả năng tấn công.
Loại trực thăng này do công ty Kamov bắt đầu thiết kế từ thập niên 1980 và được chấp nhận đưa vào sử dụng trong quân đội Nga năm 1995. Ka-50 Black Shark được thiết kế nhỏ gọn, nhanh và linh hoạt nhằm có được ưu thế tồn tại và khả năng tấn công.
Ka-50 Black Shark được trang bị hệ thống cánh quạt đúp ngược chiều rotor đồng trục.
Ka-50 Black Shark được trang bị hệ thống cánh quạt đúp ngược chiều rotor đồng trục.
Vì Ka-50 Black Shark không cần tới cánh quạt đuôi, điều này cho phép máy bay tăng khả năng thao diễn trên không.
Vì Ka-50 Black Shark không cần tới cánh quạt đuôi, điều này cho phép máy bay tăng khả năng thao diễn trên không.
Ka-50 Black Shark có thể bay vòng, cuộn và có thể bay vòng tròn ở mọi độ cao, góc nâng, tốc độ gió trong khi vẫn giữ được hướng quan sát tốt tới mục tiêu.
Ka-50 Black Shark có thể bay vòng, cuộn và có thể bay vòng tròn ở mọi độ cao, góc nâng, tốc độ gió trong khi vẫn giữ được hướng quan sát tốt tới mục tiêu.
Tháng 1/2001, Ka-50 Black Shark lần đầu tiên tham chiến khi nó tấn công các mục tiêu ở Chechnya theo lệnh của quân đội Nga.
Tháng 1/2001, Ka-50 Black Shark lần đầu tiên tham chiến khi nó tấn công các mục tiêu ở Chechnya theo lệnh của quân đội Nga.
Sau đó, nó đã đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ tại đây.
Sau đó, nó đã đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ tại đây.
Ka-50 Black Shark có 4 mấu treo vũ khí với tổng cộng 2.300 kg tải trọng có thể mang theo.
Ka-50 Black Shark có 4 mấu treo vũ khí với tổng cộng 2.300 kg tải trọng có thể mang theo.
Vũ khí chính của Ka-50 Black Shark gồm 12 tên lửa chống tăng điều khiển laser VIKhR với tầm bắn tối đa 8 km.
Vũ khí chính của Ka-50 Black Shark gồm 12 tên lửa chống tăng điều khiển laser VIKhR với tầm bắn tối đa 8 km.
Hệ thống điều khiển laser được thông báo có khả năng chống nhiễu và dẫn đường tự động tới các mục tiêu ngụy trang ngay sau khi tên lửa được phát hoả. Hệ thống kiểm soát bắn tự động chia sẻ tất cả các thông tin mực tiêu giữa 4 chiếc Black Sharks cùng lúc.
Hệ thống điều khiển laser được thông báo có khả năng chống nhiễu và dẫn đường tự động tới các mục tiêu ngụy trang ngay sau khi tên lửa được phát hoả. Hệ thống kiểm soát bắn tự động chia sẻ tất cả các thông tin mực tiêu giữa 4 chiếc Black Sharks cùng lúc.
Hai bên thân máy bay được gắn pháo tự động 30 mm, có thể cử động lên xuống và thay đổi góc phương vị.
Hai bên thân máy bay được gắn pháo tự động 30 mm, có thể cử động lên xuống và thay đổi góc phương vị.

10 trực thăng vận tải 'hoành tráng' nhất trong lịch sử

 |

Thời kỳ hoàng kim của trực thăng vận tải bắt đầu tại nước Nga từ những năm đầu của chiến tranh lạnh.

Sau đây là danh sách 10 máy bay trực thăng lớn nhất trong lịch sử, những quái vật của bầu trời với tải trọng lên tới hơn 10 tấn. Chúng ta sẽ đi từ máy bay có tải trọng từ thấp đến cao nhất.
10. Boeing Vertol CH–46 Sea Knight
 
CH-46 Sea Kight là mẫu trực thăng vận tải – chiến đấu hạng trung được lựa chọn trong cuộc thi thiết kế của hải quân Mỹ từ năm 1961. Tới năm 1964, chiếc Sea Knight đầu tiên được trang bị cho hải quân Mỹ và sau đó được sử dụng nhiều trong chiến tranh Việt Nam.
Dựa vào thiết kế hai động cơ, Sea Knight có điểm mạnh là khả năng điều khiển và sự bền bỉ khi hoạt động trong điều kiện gió bão lớn. Được trang bị hai động cơ General Electric T–58–GE–16, với công suất là 1.400 kW (tương đương 1870 mã lực), đường kính cánh quạt là 16 m, Boeing Vertol CH–46 Sea Knight có trọng lượng cất cánh tối đa là 11.00 kg, chiếm vị trí thứ 10 trong danh sách.
9. Aerospatiale SA 321 Super Frelon
 
Đây là chiếc trực thăng của Pháp duy nhất nằm trong bảng xếp hạng. SA 321 Super Frelon có ba động cơ phản lực Turbomeca Turmo IIIC với công suất 3 x 1.171 kW (3 x 1.570 sức ngựa), trọng lượng cất cánh tối đa là 13.000 kg. Chiều dài của Super Frelon là 23,03 m và đường kính cánh quạt là 18,9 m.
 
8. Sikorsky CH–54 Tarhe
 
Được đặt theo tên một tù trưởng Anh-điêng cao lớn, Sikorsky CH-54 Tarhe có chuyến bay đầu tiên vào năm 1962, và sau đó được chế tạo cho quân đội Mỹ. CH–54 được thiết kế để thay thế cho CH–47 Chinook có tải trọng thấp hơn.
Chiếc lồng gắn ở thân của CH–54 rất đa năng, được sử dụng như phòng chỉ huy di động, xưởng sửa chữa và bảo trì khí tài quân sự hoặc bệnh viện quân sự di động. Ngoài ra, CH–54 còn được sử dụng cho các mục đích dân sự.
 
CH–54 Tarhe có 2 động cơ phản lực Pratt&Whitney T73–P–700, với công suất 2 x 3.580 kW (tương đương 2 x 4.800 mã lực (chiều dài là 26,97 m và đường kính cánh là 21,95 m), chiếc trực thăng đứng thứ 8 trong bảng xếp hạng có trọng lượng cất cánh tối đa là 21.000 kg.
7. Boeing CH–47D Chinook
 
Là một trong những trực thăng phổ biến nhất, Chinook có thể thực hiện rất nhiều nhiệm vụ từ vận chuyển binh lính, pháo, đạn dược, nhiên liệu, khí tài quân sự trên chiến trường tới cứu hộ, tìm kiếm cứu nạn, chữa cháy, chuyên chở hàng hóa cũng như xây dựng dân sự.
Tháng 8/1962, CH–47A được đưa vào phục vụ trong quân đội Mỹ, mẫu đầu tiên có trọng lượng cất cánh là 14.969 kg. Được đánh giá là trực thăng vận tải hiệu quả và đáng tin cậy nhất, mẫu Chinook cải tiến có trọng lượng cất cánh là 22.680 kg.
 
Nhờ vào hệ thống móc néo ba chạc đặc biệt, Chinook có thể vận chuyển nhiều thiết bị cồng kềnh và nặng nề cùng một lúc. Ví dụ: Chinook có thể vận chuyển pháo 155mm ở vận tốc 260 km/h một cách dễ dàng.
Dài 30,1 m, đường kính cánh quạt 18,3 m, trọng lượng không tải của CH–47D là 10.183 kg, nó có khả năng vận chuyển tải nặng 12.700 kg hoặc 33 – 55 binh lính (không kể phi công, phụ lái và kỹ sư máy). CH–47D có hai động cơ Lycoming T55–GA–712 với công suất 2 x 2.796 kW (tương đương 2 x 3.750 mã lực).
6. Bell – Boeing V–22 Osprey
Không phải là một chiếc trực thăng thông thường, Osprey cất và hạ cánh như một máy bay lên thẳng, nhưng di chuyển giống như máy bay thông thường. Vỏ động cơ đặc biệt giúp Osprey có khả năng di chuyển với tốc độ và độ cao lớn.
 
Theo hãng Bell – Boeing, V–22 Osprey có thể chuyên chở 24 binh lính, hoặc 9.072 kg cùng với 6.804 kg ở khoang chứa ngoài, di chuyển với tốc độ gấp hơn hai lần so với các trực thăng thông thường. Hệ thống lái liên động có thê điều khiển một động cơ quay cả hai cánh quạt, khi động cơ còn lại gặp sự cố.
 
V–22 Osprey có hai động cơ phản lực Rolls – Royce Allison T406/AE 1107C–Liberty, mỗi chiếc có công suất 4.590 kW (tương đương 6.150 mã lực), đường kính cánh quạt là 11,6 m và tổng chiều dài 17,5 m. Tải trọng của thùng chứa trong và ngoài lần lượt là 9.070 kg và 6.800 kg cho phép máy bay có trọng lượng cất cánh là 27.400 kg.
5. Sikorsky CH–53E Super Stallion
 
Dựa vào mẫu thiết kế của CH–53 Sea Stallion, phiên bản Super Stallion hiện đang là máy bay trực thăng lớn nhất của quân đội Mỹ, với tải trọng khoang chứa trong và ngoài là 13.600 kg và 14.500 kg.
Super Stallion là máy bay lên thẳng duy nhất có khả năng mang cả tiểu đội pháo 155mm (bao gồm pháo, đạn dược cùng binh lính).
 
Được trang bị ba động cơ phản lực General Electric T64–GE–416/416A với công suất 3 x 3.270 kW (tương đương với 3 x 4.380 mã lực), Super Stallion dài 30,2 m, đường kính cánh quạt là 24 m, có trọng lượng cất cánh tối đa là 33.300 kg.
4. Mil Mi – 6
 
Mặc dù có tuổi đời hơn 50 năm, trực thăng vận tải Mi–6 vẫn dễ dàng chiếm vị trí thứ tư trong danh sách.
Được NATO gọi với tên “Hook”, Mi–6 được đưa vào sản xuất từ năm 1960, khoảng 860 chiếc đã được chế tạo tính tới năm 1981. Mi–6 là trực thăng lớn nhất thế giới lúc đó, và là trực thăng sử dụng động cơ phản lực đầu tiên của Liên Xô.
Năm 1961, Mi–6 giành giải thưởng Sikorsky và là trực thăng đầu tiên bay với tốc độ hơn 300 km/h.
Mi-6 có thể chở tới 90 người.
Với 2 động cơ phản lực Soloviev D-25V có công suất 8.200 kW (tương đương 11.000 mã lực), đường kính cánh quạt là 35 m, tổng chiều dài 33.18 m, Mi–6 có trọng lượng cất cánh tối đa là 42.500 kg và có khả năng chuyên trở 70 lính dù hoặc 90 hành khách.
3. Mil Mi–10
 
Được phát triển từ năm 1962 dựa trên mẫu Mi–6, Mi–10 có trọng lượng cất cánh tối đa là 43.700 kg. Sử dụng cùng động cơ, hệ thống truyền động và thủy lực, cánh quạt với Mi–6, nhưng thiết kế của Mi–10 đã loại bỏ thân máy bay vốn chủ yếu sử dụng để chuyên chở binh lính và hành khách, có thêm thùng xăng phụ, bốn bánh trải rộng và các đường rãnh lớn để chuyên chở được các thùng hàng cồng kềnh và nặng nề hơn. Mil–10 được khối quân sự NATO đặt biệt danh “Harke”.
 
2. Mil Mi–26
Mặc dù không là trực thăng lớn nhất trong lịch sử, Mi–26 (tên gọi do NATO đặt là “Halo”) chiếm vị trí trực thăng sử dụng động cơ phản lực trục to nhất và tải trọng lớn nhất đã từng được đưa vào sản xuất.
 
Được giới thiệu vào năm 1983 và vẫn được chế tạo, Mi–26 sử dụng hai động cơ Lotarev D–136 với tổng công suất là 16.760 kW (tương đương 22.840 sức ngựa) và có trọng lượng cất cánh tối đa là 56.000 kg. Ngoài ra, nó có thể vận chuyển khối lượng hàng hóa nặng 20.000 kg trong phạm vi 800 km.
 
Phi đội lái của Mi–26 gồm có 4 phi công: lái chính, phụ lái, hoa tiêu và kỹ sư máy. Kính của buồng lái được làm lồi ra để tăng tầm nhìn. Buồng lái được điều áp. Ngoài ra, có 3 camera chuyên dụng được lắp đặt để quan sát các thùng hàng hóa.
1. Mil Mi–12
 
Chiếm vị trí quán quân trong bảng xếp hạng những máy bay trực thăng vận tải lớn nhất chính là Mi–12 do Nga (trước đây là Liên Xô) chế tạo.
Mặc dù chưa bao giờ được đưa vào sản xuất nhưng 2 nguyên mẫu Mi–12 đã được chế tạo và được bay thử vào năm 1968. Mi–12 có lần ra mắt đầu tiên tại triển lãm hàng không Paris năm 1971.
Được đặt biệt danh “Homer”, Mi-12 sử dụng hai cánh quạt, 4 động cơ Soloviev D–25 VF với tổng công suất là 16.500 kW (hoặc 22.000 mã lực).
 
Mi-12 không được đưa vào sản xuất mà chỉ có mẫu thử nghiệm.
Với chiều dài là 37 m, đường kính cánh quạt 35 m, Mi–12 có trọng lượng cất cánh tối đa là 105.000 kg và tải trọng 44.205 kg.

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013


Phạm Ngũ Lão (1255 - 1320)

VietnamDefence - "Ông đãi tướng sĩ như người nhà, đồng cam cộng khổ với sĩ tốt. Quân do Phạm Ngũ Lão quản lĩnh, trên dưới thương yêu nhau như cha con một nhà, bởi thế, đánh đâu là thắng đó"

Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 9, tờ 16 và 17) 
“(Phạm) Ngũ Lão xuất thân là lính nhưng khảng khái và có chí lớn, rất chăm đọc sách và thường thích ngâm thơ. Với việc võ, thoạt trông thì ngỡ như ông không để ý gì nhưng chỉ huy quân thì kỷ luật rất chặt chẽ. Ông đãi tướng sĩ như người nhà, đồng cam cộng khổ với sĩ tốt. Quân do Phạm Ngũ Lão quản lĩnh, trên dưới thương yêu nhau như cha con một nhà, bởi thế, đánh đâu là thắng đó. Tất cả chiến lợi phẩm thu được ông đều bỏ vào kho chung của quân, chẳng chút bận tâm với tiền của. Ông quả thật là bậc danh tướng của thời bấy giờ. Khi mất, ông thọ 66 tuổi (tính theo tuổi ta - NKT). Nhà vua rất lấy làm thương tiếc, nghỉ thiết triều năm ngày. Dân làng ông lập đền thờ ông ngay nơi nền nhà cũ của ông”
Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 9, tờ 16 và 17)
Phạm Ngũ Lão chào đời năm Ất Mão (1255) tại xã Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc tỉnh Hải Hưng) trong một gia đình nông dân nghèo. Ông lớn lên đúng vào lúc nhân dân cả nước đang bừng bừng khí thế chuẩn bị cho cuộc chiến đấu chống quân Mông-Nguyên xâm lược lần thứ hai. Bấy giờ, trai tráng khắp nơi nô nức nhập ngũ, nhưng, sự kiện ông trở thành người lính cũng có phần khác thường. Trong sách Tang thương ngẫu lục, Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án có đoạn viết về ông như sau:
“Ông mặt mũi khôi ngô, tài kiêm văn võ. Nhà ông ở sát đường cái nên thường ngày ông vẫn ra ngồi xếp bằng ở đó để vót nan, đan lát. Một hôm, ông đang ngồi bên đường như thế thì Hưng Đạo Vương từ Vạn Kiếp về kinh đô đã đi ngang qua. Lính đi trước thấy ông thì quát đuổi, nhưng ông vẫn ngồi im không đứng dậy. Quân lính lấy mũi giáo dí vào đùi, ông vẫn cứ ngồi điềm nhiên. Lúc xe của Hưng Đạo Vương đến, ngài lấy làm lạ, hỏi thì ông thưa rằng:
- Tôi đang mải nghĩ việc nên không để ý.
Hưng Đạo Vương nghe thế, càng lấy làm lạ hơn, hỏi qua sức học thì thấy ông làu thông Kinh, Truyện và Binh thư, ứng đáp rất trôi chảy. Ngài sai lấy thuốc xức vào chỗ ông bị đâm, rồi cho lên ngồi ở xe sau và đem về kinh.
Về kinh đô, Hưng Đạo Vương tiến cử ông lên triều đình, xin cho ông cai quản quân Cấm Vệ. Vệ sĩ thấy thế thì không phục bèn tâu xin được cùng ông thử sức. Ông bằng lòng, nhưng trước khi vào đấu sức, ông xin về quê ba tháng. Về quê, ngày nào ông cũng ra cái gò lớn ngoài đồng, đứng cách một tầm mà nhảy lên, nhảy mãi cho đến khi cái gò bị sạt mất một nửa. Hết hạn, ông trở về cấm thành, cùng bọn vệ sĩ so tài. Thấy ỏng tiến thoái như bay, tay đấm chân đá vùn vụt, xem ra sức có thể địch nổi ngàn người, ai cũng phải phục tài”.
Trong cuộc chiến tranh chống quân Mông-Nguyên xâm lược lần thứ hai, do lập được nhiều chiến công, Phạm Ngũ Lão được phong làm Hạ phẩm Phụng ngự. Cùng với những nhân vật khác như: Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực... Phạm Ngũ Lão là môn khách thân tín của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Ông được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đặc biệt thương yêu, gả con gái nuôi là Nguyên Công Chúa cho.
Sau cuộc chiến tranh lần thứ ba (1288), đường danh vọng của Phạm Ngũ Lão ngày một rộng mở. Ông liên tục được thăng quan tiến chức.
  • Năm Canh Dần (1290), ông được giao chức quản lĩnh quân Thánh Dực của triều đình.
  • Năm Giáp Ngọ (1294), nhờ lập công khi đi đánh ở Ai Lao, ông được ban Kim Phù (tức binh phù làm bằng vàng).
  • Năm Đinh Dậu (1297), cũng nhờ lập công khi đi đánh trận ở Ai Lao, ông được ban Vân Phù (tức binh phù có khắc chạm hình mây).
  • Năm Mậu Tuất (1298), ông được phong làm Kim Ngô Hữu Vệ Đại tướng quân.
  • Năm Tân Sửu (1301), ông được phong làm Thân Vệ Đại tướng quân và được ban Quy Phù (tức binh phù có chạm hình con rùa).
  • Năm Mậu Ngọ (1318), ông lại lập công lớn khi đi đánh Chiêm Thành, được thăng làm Quan Nội Hầu và được ban Phi Ngư Phù (tức binh phù có chạm hình con cá chuồn). Cũng năm này, triều đình đã cho con ông làm quan.
Cổng Đền Phù Ủng
Tháng 11 năm Canh Thân (1320), Phạm Ngũ Lão qua đời, hưởng thọ 65 tuổi. Nhà sử học lỗi lạc của nước nhà ở thế kỷ XV là Tiến sĩ Ngô Sĩ Liên đã đánh giá rất cao về tài năng phi thường của ông:
“Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo Vương thì học vấn tỏ ra ở bài hịch, Phạm Điện súy (chỉ Phạm Ngũ Lão - NKT) thì học vấn biểu hiện ở câu thơ, nào phải riêng chuyên về nghề võ. Thế mà dùng binh tinh diệu, hễ đánh là thắng, hễ tấn công là chiếm được, người xưa cũng không ai có thể vượt qua nổi các ông” (Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, quyển 6, tờ 38 a-b) 
Bài hịch mà Tiến sĩ Ngô Sĩ Liên nói đến chính là bài Hịch tướng sĩ văn của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, còn lời thơ mà Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên nhắc tới chính là lời thơ trong bài tứ tuyệt của Phạm Ngũ Lão, được hậu thế đặt cho tiêu đề là Thuật hoài. Nguyên văn phiên âm Hán Việt của bài tứ tuyệt này như sau:
Đền Phù Ủng - Làng Phù Ủng, Ân Thi, Hưng Yên
“Hoành sáo giang san cáp kỷ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”.
(Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, quyển 6, tờ 38-a)
Tạm dịch:
Vung gươm sông núi đã bấy lâu,
Ba quân như cọp nuốt trôi trâu.
Công danh trai tráng còn mang nợ,
Những thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu

(Vũ Hầu tức Khổng Minh Gia Cát Lượng, vị quân sư lừng danh
của Lưu Bị (thời Tam Quốc), cũng là của lịch sử Trung Quốc).
Sử cũ hết lời ca ngợi Phạm Ngũ Lão, nhưng hành trạng của Phạm Ngũ Lão trong sử cũ lại không dễ nhận như đối với các vị danh tướng khác. Đó cũng là điều dễ hiểu, bởi vì sử cũ trước hết và chủ yếu vẫn là sử của đế vương, của hoàng tộc. Vả chăng, Phạm Ngũ Lão luôn luôn là tướng dưới trướng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, hoạt động dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, cho nên, hình ảnh của ông chỉ có thể ẩn hiện phía sau hình ảnh của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuân mà thôi.
  • Nguồn: Danh tướng Việt Nam - Tập 1 / Nguyễn Khắc Thuần.-H.: Giáo dục, 1996.

T-90MS: Rượu mới, bình cũ?

VietnamDefence - Hãng Uralvagonzavod của Nga giới thiệu tăng T-90MS như “phiên bản cải tiến triệt để” của họ tăng Т-90, mil.news.sina.com.cn viết.

T-90MS được trang bị biến thể mới nhất của họ pháo nòng trơn 125 2А46 là 2А46М5, có tuổi thọ cao hơn (1.200 phát bắn) nhờ ứng dụng các quy trình sản xuất mới. Nhờ có hệ thống điều khiển hỏa lực cải tiến, độ chính xác bắn tăng lên 15-20%.


Trong thành phần hệ thống vũ khí trên xe có các tên lửa chống tăng có điều khiển 9М119М1 tầm bắn gần 5 km, có thể xuyên giáp đồng nhất dày 950 mm. Thông tin về việc phát triển các loại đạn xuyên giáp có cánh ổn định mới (dự đoán có 2 loại) được giữ bí mật. 


Xe tăng được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực cải tiến Kalina với máy tính đường đạn số mới và máy ngắm ảnh nhiệt.
Nga thừa nhận, trình độ công nghệ hệ thống điều khiển hỏa lực của họ thua kém các hệ thống phương Tây. T-90MS cũng được trang bị 1 súng máy 7,62 mm điều khiển từ xa.


Vỏ giáp của T-90MS không khác nhiều Т-90S, nhưng xe tăng này có thể được trang bị giáp phản ứng nổ và giáp tích cực mới. Xe tăng được phát triển có tính đến việc sử dụng trong tác chiến giữa các công trình đô thị.


Các công nghệ của T-90MS như pháo nòng trơn cải tiến, giáp phản ứng nổ và giáp tích cực, các khí tài ảnh nhiệt và các hệ thống số sẽ được sử dụng như các công nghệ cơ bản để phát triển xe tăng thế hệ mới. 


Uralvagonzavod cũng sẵn sàng tích hợp vào T-90MS các công nghệ tiên tiến theo nguyên tắc “rượu mới, bình cũ”. Những cải tiến mới tất yếu làm tăng giá cả của T-90MS. Dự kiến, đơn giá của T-90MS sẽ vượt quá 4 triệu USD.





Nguồn: MP, TW, 7.1.2013.

MiG-31 - Tiêm kích bay nhanh nhất thế giới

VietnamDefence - Các tiêm kích đánh chặn siêu âm MiG-31 được tăng hạn sử dụng đến năm 2030.
MiG-31 (Aleksandr Pak)

Tiêm kích đánh chặn MiG-31 được bắt đầu phát triển vào năm 1968 và sẽ được Không quân Nga sử dụng đến năm 2028-2030.

Theo Tư lệnh Không quân Nga Viktor Bondarev, máy bay này sẽ được nâng cấp, nhưng Nga không định chi quá nhiều tiền cho việc này. Trong 7 năm tới, Không quân Nga dự kiến chế tạo máy bay tiêm kích đánh chặn mới thay cho MiG-31.

Mẫu chế thử MiG-31 (afbase.com)
MiG-31 (militaryparitet.com)

MiG-31 thực hiện chuyến bay đầu vào năm 1975 và được nhận vào trang bị vào năm 1981. Đây là tiêm kích thế hệ 4 đầu tiên của Nga và đến nay vẫn là loại máy bay duy nhất có khả năng tuần tra tại Bắc Cực.

Từ năm 1975-1994, đã có hơn 500 chiếc MiG-31 được sản xuất. Theo Tướng Bondarev, Không quân Nga hiện chỉ còn 122 chiếc. Một phần trong số đó đến năm 2020 sẽ được nâng cấp lên chuẩn MiG-31BM.

Sơ đồ thiết kế MiG-31 (Wikipedia)

MiG-31 có tốc độ đến 3.000 km/h và bán kính chiến đấu 720 km. Biến thể MiG-31BM có khả năng phát hiện mục tiêu ở cự ly đến 320 km và tiêu diệt chúng ở tầm đến 280 km. Vũ khí chính của máy bay là các tên lửa không đối không các loại lắp trên 6 điểm treo, cũng như 1 pháo tự động 23 mm. Tổ lái gồm 2 người.

Ảnh: Aleksandr Pak

Buồng lái MiG-31(airwar.ru)

Ảnh: Gallery ảnh quân sự

Ảnh: Aleksandr Pak

Ảnh: Skrynnikov / RIA Novosti

Ảnh: Aleksandr Pak

Ảnh: Aleksandr Pak

Ảnh: centralclubs.com

Ảnh: Artiom Katranzhi

Ảnh: Vitaly Ankov / RIA Novosti

Ảnh: Mikhail Beznosov / RIA Novosti


Ảnh: Aleksandr Pak

Ảnh: Aleksandr Pak

Ảnh: Aleksandr Pak

Ảnh: Aleksandr Pak

  Ảnh: Artiom Katranzhi

Ảnh: Aleksandr Pak

Ảnh: airforce.ru