Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

 
 
Người không có Đức thì không thể làm nên việc gì, Đức chính là điều trọng yếu trong việc tu thân. Trong nền văn hóa Thần truyền vừa lâu đời vừa thâm thúy của nước ta, “Thực hành Đức chính, chọn người hiền tài” là cốt lõi của việc trị quốc bình thiên hạ, là mỹ đức mà người đời xưa nay luôn lấy làm gương và lưu truyền rộng rãi.
gia cat luong
Tranh minh hoạ Gia Cát Lượng. (Ảnh: Internet)
Hiền nhân thường thường là nói về những người có tài năng cứu nhân độ thế, đức hạnh cao thượng. Cổ nhân luôn luôn lấy tiêu chuẩn chọn người gồm nhiều mặt cả đức lẫn tài, và không hề coi đức với tài như nhau, mà là vô cùng coi trọng vị trí thống soái và tác dụng chủ đạo của Đức đối với tài, đặt Đức lên trên cùng. “Tài giả đức chi tư, đức giả tài chi soái” (Tạm dịch: Người có tài chỉ là phụ, người có Đức mới quan trọng). Tư Mã Quang thời Bắc Tống căn cứ theo quan hệ giữa Đức với tài đã chia người ta ra làm 4 loại: Đức tài toàn vẹn là Thánh nhân, Đức tài đều kém là người ngu, Đức trên tài là quân tử, tài hơn đức là tiểu nhân. Khi dùng người, tốt nhất là lựa chọn Thánh nhân, sau đó là quân tử, nếu như đều chẳng có, thì thà chọn người ngu còn hơn chọn tiểu nhân. Bởi vì có tài mà vô Đức là loại người nguy hiểm nhất, so với loại người không tài không Đức thì còn tồi tệ hơn. Khang Hy thời nhà Thanh dùng người tài thì có một tiêu chuẩn nhất quán như sau: “Quốc gia dùng người, cần phải lấy Đức làm căn bản, tài nghệ chỉ là thứ yếu”. “Tài Đức đều cao thì tốt, nếu có tài mà kém Đức, thì cũng không bằng có Đức mà không có tài”.
Thời kỳ Chiến quốc có một câu chuyện rằng: Ngụy Huệ Vương hỏi Tề Uy Vương:“Ông là Vương nước Tề, chắc hẳn là thu thập được nhiều bảo vật?”
Tề Uy Vương đáp: “Không có”.
Ngụy Huệ Vương nói: “Nước nhỏ như nước tôi, cũng đều có tàng trữ mấy viên minh châu lớn đường kính cả tấc, loại trân châu ấy phát ra ánh sáng có thể chiếu rọi 12 chiếc xe. Ông là vua nước lớn như thế, tại sao một chút bảo vật cũng chẳng có?”.
Tề Uy Vương nói: “Châu báu quý nhất của nước tôi là người tài, bảo vật này so với bảo vật mà ông nói thì không như nhau. Tôi có một bề tôi tên là Đàn Tử, tôi phái ông ta trấn thủ Cao Đường, người nước Triệu ở phương Bắc không dám xâm phạm. Có một bề tôi khác tên là Kiềm Phu, tôi phái ông ta đóng ở Từ Châu, có thể quản lý hơn 7000 hộ dân từ bốn phương trời lui tới. Tôi còn có một bề tôi tên là Loại Thủ, dưới sự quản lý của ông ta trăm họ an cư lạc nghiệp, đồ vật đánh rơi trên đường không ai nhặt lấy, đêm không cần phải khóa cửa. Châu báu như thế, quang minh chói lọi nghìn dặm, chứ đâu chỉ có 12 cỗ xe?”. Tề Uy Vương như vậy là đã nói ra nguyên nhân tại sao nước Tề giàu mạnh.
Thừa tướng Gia Cát Lượng thời Thục Hán lúc lâm chung bèn đề cử với Hậu Chủ giới thiệu Tương Uyển làm quan Tướng quốc, nói rằng bình thường người ấy chú trọng việc tu thân, có Đức hạnh cao thượng, biết nghe lời trung, làm việc vô tư. Sau khi Gia Cát Lượng qua đời, Tương Uyển mỗi ngày xử lý hàng vạn việc, lấy việc chính sự và chăm sóc cho nhân dân làm cơ bản, độ lượng khoan dung, không phụ hy vọng của mọi người. Lúc đó nước Thục yếu nước Ngụy mạnh, nước Ngụy có rất nhiều nhân tài kiệt xuất, nhiều lần đánh Thục, vậy mà Tương Uyển và Khương Duy có thể bảo vệ được nước Thục trong suốt 29 năm trường, khiến cho đất nước hòa bình yên ổn, chứng minh Gia Cát Lượng dùng người rất chính xác. Kỳ thực Gia Cát Lượng bản thân là một nhân tài. Ông vì kế hoạch thống nhất Trung Quốc mà đã “Cúc cung tận tụy, đến chết không thôi”. Ông ở trong“Xuất sư biểu” trao cho Hậu Chủ có viết:“Nhà thần có 800 cây dâu tằm, áo cơm con cháu có thể tự lo được. Ngày thần chết, không muốn trong nhà có dư dả lụa là gấm vóc hay tiền của lợi tức, cũng giúp được cho bệ hạ”. Người mà ông bổ nhiệm cũng đều thanh liêm biết tự giữ mình. Tương Uyển“Tính cách cao thượng khiêm tốn, trong nhà không tích cóp tài sản gì. Con cái ông đều làm ăn một cách bình dân, không khác gì trăm họ”. Khương Duy cũng là “Nhà cửa thanh đạm, không có tài sản gì đáng kể, ra vào cung chẳng có xe đưa đón”.
Làm việc chính sự có dựa trên Đức hạnh hay không, nó quan hệ đến việc một người phải chăng có thể dùng quyền hạn trong tay mà mưu lợi cho trăm họ, quan hệ đến tác phong và uy tín của tác phong tập quán của nhân dân và quan lại, và sự an nguy của chính quyền. Từ xưa đến nay, quan lại có Đức hạnh cao, phẩm cách tốt là cơ sở của một nền chính trị liêm khiết sáng sủa, họ vào bất kỳ lúc nào cũng có thể đặt lợi ích của trăm họ lên hàng đầu, đó cũng là giá trị chân chính của việc chọn người tài đức. Ngược lại, chỉ chọn dùng kẻ thân thích thì chỉ có thể làm cho đất nước và dân tộc suy yếu nguy vong. Bởi vì nó lấy lợi ích cá nhân làm căn bản, khiến cho lòng ích kỷ ham muốn cá nhân bành trướng, những kẻ kém cỏi hoành hành, vô cùng tai hại. Những loạn thần tặc tử xưa nay, phần nhiều không phải là vì kém tài mà là vì kém Đức. Vô Đức mới là mối họa lớn của con người.
Thái Kinh thời Bắc Tống có sở trường là thư họa, lúc ấy rất có danh tiếng. Tống Huy Tông thấy vậy vô cùng vui mừng. Thái Kinh bèn lấy các bức thư họa và bình phẩm của mình, một mặt nhờ người khác đem tặng cho Tống Huy Tông, cung phi và hoạn quan. Thái Kinh chính là dựa vào kiểu a dua nịnh hót như thế mà dần dần được làm Tể tướng. Hắn hoang phí rất nhiều tiền của quốc gia xây dựng mở rộng hoàng cung, cho đến trước lúc triều Bắc Tống diệt vong thì đều tại xây dựng, vàng bạc tham ô còn nhiều hơn cả ngân khố triều đình. Hắn hãm hại trung thần, kết bè kéo đảng, chỉ chọn dùng toàn thân thích. Một lần, Thái Kinh tìm người mà ông ta đã đề bạt trước đây là Ngô Bá Cử làm việc. Ngô Bá Cử muốn làm theo quy củ chế độ của triều đình, Thái Kinh lập tức nổi giận bừng bừng thét: “Đã làm quan to mà còn muốn làm người tốt, sao có thể như vậy được?”.Lập tức giáng chức Ngô Bá Cử trục xuất khỏi triều đình. Thời kỳ Thái Kinh nắm quyền triều chính, nạn hối lộ hoành hành, dân chúng lầm than, là thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử nhà Bắc Tống. Nhân dân cả nước đứng lên kêu gọi đem tử hình Thái Kinh để tạ tội với thiên hạ. Trung thư thị lang Hầu Mông nói: “Nếu như Thái Kinh có thể mưu tính một cách đoan chính, thì dù là Tể tướng hiền lương từ thời cổ đại cũng không hơn được ông ta! Đáng tiếc là ông ta không theo con đường chính đạo”.
Từ đó có thể thấy, bất kể là người tài năng, trí óc tới đâu, nếu như trong lòng không chính, không những là không thể cống hiến cho đất nước, mà ngược lại sẽ tạo thành nguy hại to lớn. Đây là do không tu dưỡng đức hạnh mà ra. Ngày nay, đạo đức xã hội mỗi ngày trượt dốc hàng vạn dặm, việc chấn hưng nền văn hóa thần truyền vĩ đại có ý nghĩa càng trọng yếu. Pháp luật chỉ ràng buộc hành vi của con người, còn đạo đức ràng buộc tâm người, Pháp trị tiểu nhân, Đức trị quân tử. Chúng ta cần phải giữ vững tâm pháp đạo đức, mới có thể đi trên con đường chính đạo, mới có được tương lai tươi sáng, mới có thể khiến phong tục tập quán của người dân đi theo đường chính, vạn sự được hưng vượng phồn vinh, thiên hạ được thái bình.
Zhi Zhen
Theo daikynguyenvn
 
 
Người xưa ở Trung Quốc thường có câu “Phụ nữ không có tài, chính là đức”, vậy ý nghĩa chân thực của câu này nghĩa là gì.
(Ảnh: internet)
(Ảnh: internet)
Câu chuyện Một giảng viên đại học ở Trung Quốc giải thích câu “Phụ nữ không có tài, chính là đức” sau đây cho thấy những lý giải của người thời nay là hổ thẹn với tổ tông.
Câu “Nữ tử vô tài tiện thị đức” (Phụ nữ không có tài, chính là đức) này luôn khiến cho những nhà vận động nữ quyền căm ghét đến cực độ, họ cho rằng câu nói này là của cánh mày râu dùng để hạ thấp phái nữ! Thế nhưng sự thật không những không phải như vậy, mà còn hoàn toàn ngược lại! Số lượng phụ nữ hiểu lầm về câu nói này là rất lớn! Vậy tại sao lại nói như thế!
Khi tôi dạy một lớp học, có một nữ học sinh đưa hai tay khoanh trước ngực hỏi tôi: “Thưa thầy giáo, tại sao thầy hay tán dương những câu cổ ngữ như vậy, em xin hỏi thầy, cổ nhân nói: “Phụ nữ không có tài, chính là đức”, xin thầy giải thích giúp em xem, tại sao người xưa lại phân biệt đối xử với phận nữ nhi chúng em như thế? Làm sao có thể coi họ là thánh hiền được?”
Tôi nói: “Câu hỏi của em rất hay, mọi người đều có hiểu lầm như vậy, có điều trước khi giải thích, thầy muốn trước hết hỏi em, vế trên của câu nói này là gì?”
Em học sinh nghe tôi hỏi ngây ra một lát, sau đó mới nói: “Ủa, có sao? Có vế trên nữa sao ạ?” Những học sinh ngồi bên dưới lặng im như tờ, có một học sinh tiếp lời: “Vế trên là: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã” “(Duy chỉ có phụ nữ và tiểu nhân là khó giáo dưỡng) !
Tôi nói: “Đây cũng là một vấn đề mà mọi người đều hiểu lầm đấy, thầy sẽ sử dụng một cách hiểu khác để giải thích lại, tuy nhiên câu vừa rồi không phải là vế trên của câu: “Nữ tử vô tài tiện thị đức”, bởi vì một câu bảy chữ, một câu mười chữ, số lượng từ không đồng nhất, sao lại làm vế trên được?”
Lúc này, các em học sinh to mắt nhìn nhau và đều bị choáng váng với câu hỏi của tôi.
Tôi nói tiếp: “Nguyên ban đầu vế trên của câu này là: “Nam tử hữu đức tiện thị tài” (Đàn ông có đức chính là tài) nên vế dưới mới là: “Nữ tử vô tài tiện thị đức”!”
Câu đầu tiên: “Nam tử hữu đức tiện thị tài”, câu này là hy vọng về một người đàn ông có triển vọng, cần phải lấy đức làm gốc, tài năng chỉ là phụ trợ. Tại sao lại phải lấy đức làm gốc?
Hãy nhìn xem xã hội hiện nay loạn như thế nào, những thứ lừa đảo rất nhiều, lên mạng xem thì những sự việc cổ quái, kỳ lạ và tàn ác… cái gì cũng có. Đây chính là hậu quả của việc có tài mà lại khuyết thiếu đức, tóm lại, câu nói này có ý khuyên bảo rằng là đàn ông thì phải lấy đức làm gốc, chứ không phải là bảo họ không cần coi trọng tài cán.
Còn vế dưới: “Nữ tử vô tài tiện thị đức” (phụ nữ không tài, chính là đức hạnh) là có ý nghĩa gì? Vẫn là ý khuyên bảo người phụ nữ phải lấy đức hạnh làm gốc, chứ không phải là đánh giá thấp hay hạ nhục rằng phụ nữ thì không thể có tài cán gì. Tất cả điều này bị hiểu sai là bởi vì hiểu sai chữ “vô” trong từ “vô tài” mà tạo thành. Từ “vô” này là động từ, là có ý rằng “vốn có” nhưng coi như “không”, cũng chính có ý là “vốn có tài” nhưng trong lòng lại tự cho mình là không có.
Đơn cử một ví dụ mà nói, giống như cổ nhân nói “Vô vật” (không có gì) không phải là trên đời này không có vạn vật, mà là dẫu ở bên trong cái xoay vần của vạn vật, nhưng nội tâm không có bất kỳ chướng ngại nào, “vô ngã” không phải là không có mình, mà là có ý rằng tâm không bị vướng mắc đối với hết thảy được mất. “Vô niệm” không phải là thật sự không có ý niệm, suy nghĩ gì, mà có ý là không có ý nghĩ xằng bậy, ngông cuồng.
Cho nên nói “vô tài” không phải thực sự không có tài, mà là “ta mặc dù rất có tài nhưng tuyệt đối không khoe khoang cái tài đó, cho nên tự cho mình là “không tài cán” gì, phụ nữ thời cổ đại, “cửa chính không ra, cửa sau không bước” (ý nói thường xuyên ở nhà và không tiếp xúc với người ngoài) mà lại có được tài hoa hơn người, hơn nữa còn có thể tự cho mình là “không tài”, đây chẳng phải đức hạnh vô cùng cao thượng sao? Câu này rõ ràng là ca ngợi người phụ nữ trong xã hội thời xưa chúng ta có đức hạnh cao thượng! Đâu có chỗ nào là có ý phân biệt đối xử với phụ nữ chứ? Vậy mà chúng ta còn có hiểu lầm sâu nặng đến như thế với một câu nói hay như vậy, chúng ta quả thực là đã dùng tâm tiểu nhân để đo lòng quân tử, là chúng ta đã có lỗi với người xưa, chứ không phải người xưa có lỗi với chúng ta!”
Phụ nữ thời cổ đại, “cửa chính không ra, cửa sau không bước” (ý nói thường xuyên ở nhà và không tiếp xúc với người ngoài) mà lại có được tài hoa hơn người, hơn nữa còn có thể tự cho mình là “không tài”, đây chẳng phải đức hạnh vô cùng cao thượng sao?
phu-nu-2
Sau khi nghe tôi giải thích xong, các học sinh nữ đều thấy khoan khoái trong lòng, các học sinh nam thì như trút được gánh nặng.
Mai Trà biên dịch từ NTDTV
Theo daikynguyenvn.com
 
 
Thần thoại cổ đại Trung Quốc mô tả việc tạo ra vũ trụ, nguồn gốc của con người, và sự xuất hiện của văn hóa. Chúng là một phần di sản của văn hóa 5000 năm Trung Quốc.
Bàn Cổ dựng trời.(Chen Zhiching / Thời báo Đại Kỷ Nguyên)
Thần thoại cổ đại Trung Quốc mô tả việc tạo ra vũ trụ, nguồn gốc của con người, và sự xuất hiện của văn hóa. Chúng là một phần di sản của văn hóa 5000 năm Trung Quốc.
Ví dụ, các thần thoại cổ xưa kể lại câu chuyện về việc trái đất được hình thành như thế nào. Thuở xưa ông bà ta kể với con cháu rằng vũ trụ được sáng tạo bởi Bàn Cổ.
Vũ trụ trước khi được tạo ra là một quả trứng lớn và hỗn loạn. Từ trong quả trứng Bàn Cổ được sinh ra. Bàn Cổ ngủ trong quả trứng đó trong vòng 18 ngàn năm. Khi ông tỉnh dậy, trời đất đều tối thui. Bàn Cổ vươn tay và chân làm mở tung quả trứng. Ánh sáng và dương khí dâng lên hình thành một bầu trời xanh cao lớn. Đồng thời, âm khí nặng và dày hạ xuống hình thành vùng đất rộng bao la. Vũ trụ từ đó có trời và đất.
Bàn Cổ trụ trời và đất, dần dần bầu trời trở nên cao hơn và mặt đất trở nên rộng hơn. Bàn Cổ càng ngày càng trở nên cao lớn hơn. Mười tám ngàn năm trôi qua, bầu trời không thể cao thêm và mặt đất không còn có thể hạ thấp thêm được nữa. Từ đó Bàn Cổ trở thành vị thần cai quản trời và đất, và bằng cách này trái đất không trở lại trạng thái hỗn loạn của nó.
Bàn Cổ là vị thần duy nhất cai quản trời và đất. Trạng thái của thế giới đi theo cảm xúc của ông ta. Khi ông hài lòng, bầu trời quang đãng, và khi ông giận dữ, thời tiết trở nên u ám. Giọt nước mắt của ông đem mưa đến và hơi thở mạnh của ông đem đến những cơn gió mạnh. Khi ông ta chớp mắt, sấm sét đến và khi ông ta ngáy sấm chớp rầm rầm.
Rất nhiều năm trôi qua, bầu trời rất cao và trái đất rộng thênh thang. Bàn Cổ sau khi hoàn thành sứ mệnh của mình, cơ thể ông đã biến thành mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, núi, sông và cây cỏ… Theo cách này, ông đã quên mình dành toàn bộ cơ thể mình cho sự sống tương lai của con người.
Theo người Trung Quốc, truyền thuyết cổ xưa kể lại rằng Nữ Oa sáng tạo ra nhân loại, tất cả chúng ta đều là con cháu của bà.
(Theo theepochtimes)
 
 
Nhiều nhà khoa học chuyên nghiên cứu về môi trường và kiến trúc trên thế giới đang tập trung khảo sát một mô hình thôn trang kỳ bí theo bố cục bát quái ở Trung Quốc.
Thôn này có tên là thôn Gia Cát hay Bát Quái, tọa lạc tại thị trấn Lan Khê, tỉnh Triết Giang, được mệnh danh là “Trung Quốc đệ nhất thôn”. Đây cũng chính là trung tâm sinh sống của hậu duệ Khổng Minh Gia Cát Lượng nổi tiếng thời Tam Quốc.

Dựa theo Bát quái trận đồ lập nên thôn
Vào cuối đời Tống, đầu nhà Nguyên (khoảng năm 1300), hậu duệ đời thứ 27 của Gia Cát Lượng là Gia Cát Đại Sư bắt đầu lập thôn Bát Quái tại Lan Khê, Triết Giang.
Theo sử chép, Gia Cát Lượng từng lập ra một trận pháp thần kỳ gọi là Bát trận đồ, biến ảo khôn lường, uy lực vô cùng, từng vây khốn cả 10 vạn tinh binh của đại tướng Đông Ngô Lục Tốn. Gia Cát Đại Sư đã vận dụng học thuyết Kham dư (phong thủy) vào Bát quái trận đồ của ông tổ mình, thiết lập thôn trang án theo Cửu cung bát quái.
Toàn cảnh thôn bát quái nhìn từ trên cao.
Thôn lấy cái hồ lớn (chung trì, nửa nước nửa đất) hình thái cực làm trung tâm, 8 con đường từ hồ toả ra thành “nội bát quái”. Phía ngoài thôn lại đắp 8 tòa núi nhỏ hình thành “ngoại bát quái” bao bọc. Các sảnh, đường, nhà ở phân bố dọc theo 8 đường. Gia Cát Đại Sư trước khi qua đời có để di huấn là không được thay đổi nguyên dạng.
Trải qua hơn 800 năm dâu bể, lượng người trong thôn tăng lên nhiều, nhưng tổng thể cửu cung bát quái không hề thay đổi. Trong thôn có đền thờ Thừa tướng Gia Cát Lượng, hoa viên, ba nhà bia, 18 sảnh đường, 18 giếng, 18 ao, hơn 200 phòng ốc đều là kiến trúc cổ đời Minh, Thanh độc đáo.
Trung tâm thôn bát quái là một hồ nhỏ. có hình xoáy âm dương, còn gọi là hồ thái cực.
Con cháu Gia Cát đời đời đều theo lời giáo huấn của tổ phụ “không làm lương tướng, tất làm lương y” nên nhiều đời theo nghề thuốc.
Trong thôn có cả Nhà triển lãm trung y dược, vườn thảo dược… Nơi đây, riêng đời Minh, Thanh có 5 tiến sĩ, 11 cử nhân, hàng trăm tú tài. Các chuyên gia, học giả Trung Quốc đang đề nghị đổi Lan Khê thành Thành phố Võ Hầu (tước hiệu của Khổng Minh – Gia Cát Lượng).
Đêm không cn đóng ca, ngoài không nht ca rơi”
Theo nhiều nhà nghiên cứu, kiến trúc bát quái này có công năng phòng vệ và cải tạo môi trường rất cao. Thôn Gia Cát đặc biệt mát mẻ, sạch sẽ, thông thoáng.
Nhà kiến trúc Từ Quốc Bình cho rằng, kiểu kiến trúc của thôn này hoàn toàn khác với phong cách thôn trang truyền thống Trung Quốc, không lấy trung tuyến làm chủ mà bức xạ ra 8 hướng.
Kiến trúc trong thôn bát quái.
Các nhà trong thôn mặt đối nhau, đuôi liền nhau, đường nối nhau, rất thoáng mà kỳ thực kín đáo. Địa hình xung quanh nhìn giống như cái nồi, bốn phía cao, giữa thấp. Người ngoài vào thôn, nếu không có người quen dẫn đường thì lẩn quẩn không biết lối ra.
Nhà thư pháp Gia Cát Cao Phong, cháu đời thứ 42 của Gia Cát Lượng cho biết, trong thôn “đêm không cần đóng cửa, ngoài không nhặt của rơi”.
Năm 1925, chiến tranh ác liệt, quân đội của Quốc dân đảng là Tiêu Kính Quang đánh nhau với quân phiệt Tôn Truyền Phương ba ngày dữ dội sát bên thôn Bát Quái nhưng không có viên đạn nào lọt vào thôn. Khi quân Nhật tấn công xuống phía Nam, đại quân kéo qua đại lộ Long Cương nhưng không phát hiện ra thôn này. Duy có một lần máy bay Nhật ném bom trúng một phòng trong thôn.
Theo thống kê tại hội thảo “Nghiên cứu Gia Cát Lượng học” lần thứ 7 toàn Trung Quốc (10/1993), hậu duệ các chi của Gia Cát Lượng hiện có khoảng 16.000 người, riêng ở Lan Khê có hơn 6.000 người. Trong thôn này, hơn 4.000 người đều mang họ Gia Cát và xưng là “người mình” với nhau.
Theo baodatviet
 
 

Tương truyền Tôn Tẫn chính là cháu của Tôn Vũ (tức Tôn Tử), là người thông minh, có nghĩa khí.

Ảnh dienanh
Ảnh dienanh
Tôn Tẫn là người nước Yên, cha là Tôn Tháo, mẹ là Công Chúa Yên Đơn, ông nội là Tôn Võ Tử .
Công Chúa Yên Đơn thọ thai 48 tháng mới sanh ra Tôn Tẫn. Lúc sanh ra là lúc Công Chúa Yên Đơn đương bị khổn trong trận do Hỗn Thiên Tán của Túy Vân, nên nằm bất tỉnh rồi lâm bồn đúng giờ Tý tại núi Kinh Kha nước Yên
Lúc Tôn Tẫn lên 9 tuổi thì Tôn Tháo mất, Tôn Kiều là chú đang làm quan Đại Phu nước Tề đem Tôn Tẫn về nuôi dưỡng. Sau đó Tôn Kiều gặp nạn, phải lánh sang nước Châu, gia đình sa sút, Tôn Tẫn phải đi làm thuê để sinh sống .
Tôn Tẫn lớn lên, nghe đồn Quỉ Cốc Tiên Sinh có tài cao phép lạ , nên tìm đến xin thọ giáo. Nguyên ở Dương Thành thuộc địa phận nhà Châu, có một chỗ gọi là Quỉ Cốc, vì nơi ấy có núi cao rừng rậm, âm khí nặng nề. Trong núi ấy có một ẩn sĩ họ Vương tên Hủ , trước ở núi Vân Mộng cùng Mặc Địch hái thuốc, tu Tiên, sau đến ẩn nơi Quỉ Cốc, nên người ta thường gọi là Quỉ Cốc Tiên Sinh .
Quỉ Cốc Tiên Sinh có học vấn uyên bác, tu Tiên đắc đạo, tinh thông lý số, thông hiểu lẽ huyền vi của Trời Đất, lại cũng tinh thông binh thơ đồ trân. Học trò của Quỉ Cốc Tiên Sinh có nhiều người tài giỏi như : Tôn Tẫn, Bàng Quyên, Tô Tần, Trương Nghi, vv… Tôn Tẫn và Bàng Quyên thì học về binh pháp. Còn Tô Tần và Trương Nghi thì học về du thuyết .
Bàng Quyên học được 3 năm, tự cho mình đã giỏi rồi, nên xin thầy cho xuống núi đi lập công danh.
Quỉ Cốc bảo Bàng Quyên đi hái một cành hoa đem vào đây để thầy đoán vận mạng cho. Bàng Quyên đi ra khỏi động, nhằm lúc khí Trời nóng nực, cây cối không ra hoa, chỉ thấy một bông hoa cỏ, liền nhổ lên cả gốc, toan đem trình thầy, bỗng nghĩ rằng bông hoa nầy mềm yếu và không đẹp nên ném xuống đất, rồi đi tìm hoa khác, nhưng không tìm được cành hoa nào, đành trở lại chỗ cũ, nhặt cành hoa đã bỏ lúc nảy, bỏ vào túi áo, rồi vào trình thầy rằng :
– Trong núi mùa nầy không có hoa. 
– Không có hoa thì vật gì trong túi áo của ngươi đó ?
Bàng Quyên không giấu được, buộc phải đưa ra trình.
– Nhà ngươi có biết cái hoa nầy tên gì không ? Nó là hoa Mã Đâu Linh, mỗi lần nở 12 bông, ứng với số năm vẻ vang của ngươi. Hoa nầy hái ở Quỉ Cốc, thấy mặt Trời thì héo, bên chữ QUỈ có chữ ỦY  thành chữ NGỤY (đây đều là chiết tự tiếng Trung Quốc) , nhà ngươi xuất thân ở nước Ngụy. Sau nầy nhà ngươi vì việc lừa dối người mà bị người lừa dối lại. Vậy nên lấy điều đó mà răn mình. Ta có 8 chữ nầy, nhà ngươi khá nhớ : “ Gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì hỏng.”
Bàng Quyên lạy thầy 2 lạy nói rằng :
– Lời giáo huấn của thầy, đệ tử hết lòng ghi nhớ.
Tôn Tẫn tiễn Bàng Quyên xuống chơn núi.
Bàng Quyên nói :
– Đệ cùng huynh kết nghĩa anh em, thề giàu sang cùng hưởng, khốn nàn cùng gánh. Chuyến đi nầy nếu đệ lập được công danh thì sẽ tiến cử huynh để cùng lập cơ nghiệp.
Hai người chia tay, Tôn Tẫn buồn rớm nước mắt, trở lên núi. Quỉ Cốc Tiên Sinh hỏi Tôn Tẫn :
– Ngươi bảo cái tài của Bàng Quyên làm được Đại Tướng không ?
– Nhờ ơn thầy dạy bảo đã lâu, lẽ nào Bàng Quyên không làm được Đại Tướng ?
– Không làm được, nhứt định không làm được. 
Tôn Tẫn nghe thầy nói vậy thì lấy làm lạ nhưng không dám hỏi thầy lý do. Hôm sau, Quỉ Cốc bảo các học trò :
– Ban đêm, ta rất khó ngủ, ta rất ghét tiếng chuột kêu. Các trò phải luân phiên nhau thức mà đuổi chuột cho ta.
Các trò đều vâng lời, chia phiên thức gác. Tới phiên Tôn Tẫn, Tiên sinh lấy một quyển sách trao cho Tôn Tẫn nói :
– Đây là 13 thiên binh pháp của ông nội nhà ngươi tên là Tôn Võ Tử, xưa đem dâng cho vua Hạp Lư nước Ngô, nhờ đó mà Hạp Lư phá tan quân Sở. Hạp Lư giữ cuốn sách nầy làm gia bảo, bỏ vào hộp sắt, giấu vào cột Cô Tô Đài. Từ khi quân nước Việt đốt Cô Tô Đài, cuốn sách ấy mất tích luôn.Ta có chơi thân với ông nội ngươi, nên được xem sách ấy, ta nhớ và ghi lại, tự tay ta chú giải thêm nhiều điều bí mật trong cách hành binh. Ta chưa từng cẩu thả giao sách cho ai, nay thấy ngươi trung hậu, nên ta giao cho ngươi học, trong 3 ngày giao lại cho ta. Học cuốn sách nầy, khéo dùng thì làm lợi cho thiên hạ, không khéo dùng thì hại rất lớn. Bàng Quyên không là người tốt, nên ta không dạy.
Tôn Tẫn đem sách về phòng, ngày đêm nghiền ngẫm, trong 3 ngày thì nằm lòng. Ba ngày sau, Tôn Tẫn đem sách nộp cho thầy. Tiên Sinh theo từng thiên hỏi lại Tôn Tẫn, Tôn Tẫn đối đáp rất trôi chảy. Tiên Sinh mừng rỡ nói :
– Ngươi biết dung tâm như thế, Tỗ phụ ngươi dầu đã qua đời chắc rất vui lòng.
Nói về Bàng Quyên, xuống núi thẳng đến nước Ngụy, vào cầu quan Tướng Quốc Vương Thác. Vương Thác tiến cử Bàng Quyên lên vua Ngụy Huệ Vương. Khi Bàng Quyên vào chầu vua, gặp lúc nhà bếp dâng lên món thịt dê. Bàng Quyên mừng thầm vì nhớ lời thầy dặn , gặp dê thì vinh .
Bàng Quyên được Huệ Vương trọng dụng, lần lần phong lên đến chức Nguyên Soái, kiêm Quân Sư. Con trai là Bàng Anh, cháu là Bàng Thông, Bàng Mai đều được vua phong làm Tướng, cả nhà vinh hiển. 
Lúc bấy giờ có Mặc Địch ghé Quỉ Cốc thăm bạn cũ là Vương Hủ (Quỉ Cốc Tiên sinh), Mặc Địch gặp Tôn Tẫn, đàm luận rất hợp ý, bèn bảo Tôn Tẫn :
– Anh học nghệ đã thành, sao không đi lập công danh ?
– Tôi có người bạn học là Bàng Quyên, đã ra làm quan ở nước Ngụy, có hẹn khi nào đắc chí sẽ tiến cử tôi, nên tôi đợi.
– Bàng Quyên đã làm Nguyên soái nước Ngụy, để tôi vì anh mà đến đó dọ ý Bàng Quyên thế nào ?
Mặc Địch từ giã Quỉ Cốc rồi đi vào nước Ngụy, nghe Bàng Quyên cậy tài, nói quá không biết thẹn, không có ý tiến cử Tôn Tẫn. Mặc Địch vào nói cho Huệ Vương rõ các việc. Huệ Vương liền đòi Bàng Quyên đến hỏi :
– Ta nghe nói Tôn Tẫn cùng học một thầy với Nguyên soái, lại được học riêng binh pháp bí truyền của Tôn Võ Tử, tài giỏi không ai bằng, sao Nguyên soái chẳng vì Quả nhân mà tiến cử người ấy đến giúp Trẫm. 
– Tâu Bệ hạ, hạ thần không phải không biết tài của Tôn Tẫn, nhưng Tôn Tẫn là người nước Tề, nay làm quan nước Ngụy thì thế nào cũng liên lạc với Tề. Nay Bệ hạ muốn triệu Tôn Tẫn thì hạ thần xin viết thơ gọi đến.
Bàng Quyên ở vào thế buộc phải viết thơ gọi Tôn Tẫn, nhưng thâm tâm rất sợ Ngụy Vương trọng dụng Tôn Tẫn, bỏ rơi mình, nên thầm tính kế hại Tôn Tẫn.
Bàng Quyên viết thơ xong, Huệ Vương dùng xe Tứ Mã và đồ lễ long trọng, sai người đến Quỉ Cốc rước Tôn Tẫn.
Tôn Tẫn tiếp được thơ của Bàng Quyên, vội đem trình thầy. Tiên sinh bảo Tôn Tẫn đi hái một cành hoa để bói coi tốt xấu. Tôn Tẫn thấy bình hoa trên án có một cành hoa cúc, bèn đến rút lấy đem trình thầy, rồi đem cắm trở lại vào bình.
Tiên sinh đoán rằng : Cành hoa nầy bị bẻ, không hoàn hảo, nhưng tánh chịu rét, dẫu có bị tàn hại cũng không hề gì. Vả cắm trong bình, mọi người đều quí trọng, mà cái bình ấy lại là vàng đúc cùng một loại với chung đỉnh, chắc rồi sẽ có tiếng tăm lừng lẫy. Nhưng cành hoa nầy 2 lần cất nhắc lại cắm vào bình, vậy sự nghiệp của ngươi chưa thể đắc ý ngay được, mà kết cuộc sẽ làm nên ở quê mình. Vậy ta đổi tên cho, có thể mong tiến thủ được. Tên ngươi là TÂN  , ta thêm một chữ NHỤC  ở bên tả thành chữ TẪN , vậy tên của ngươi là Tôn Tẫn (các ký tự tiếng Trung Quốc) . (Tân là khách, Tẫn là bị chặt xương đầu gối) Tiên sinh đổi tên như thế là vì Tiên sinh biết trước học trò mình bị cái hoạ chặt chân, nhưng không dám tiết lộ. .
Khi Tôn Tẫn lạy thầy từ biệt, Thầy trao cho một bức cẩm nang, dặn kỹ khi nào gặp việc nguy cấp mới mở ra xem. Tôn Tẫn lạy tạ thầy lần nữa, rồi xuống núi, lên xe Tứ Mã thẳng đến nước Ngụy, tạm ở trong phủ của Bàng Quyên.
Bàng Quyên biết Tôn Tẫn tài giỏi hơn mình, sợ Ngụy Vương dùng Tôn Tẫn, bỏ rơi mình, nên Bàng Quyên, ngoài mặt giả đò anh em thân thiết, nhưng ngầm lập kế ám hại Tôn Tẫn. Bàng Quyên giả mạo chứng cớ, cáo buộc Tôn Tẫn tư thông nước Tề để hại nước Ngụy. Huệ Vương nghe lời sàm tấu của Bàng Quyên, bắt Tôn Tẫn chặt chưn và thích vào trán 4 chữ “ Tư Thông Ngoại Quốc ”.
Tôn Tẫn trở thành phế nhân, mỗi ngày chịu ơn Bàng Quyên cung cấp 3 bữa ăn. Bàng Quyên lại dùng thủ đoạn để gạt người bạn cũ chép 13 thiên binh pháp truyền lại cho mình.
Tôn Tẫn vì lầm gian kế của Bàng Quyên nên rất khổ sở, quá chán nãn cho tình người đen bạc, lại bị vết thươngchặt chưn hành hạ quá đau đớn, muốn tìm kế thoát thân, nhưng chưa biết phải làm sao, sực nhớ bức cẩm nang thầy ban cho, liền bí mật mở ra xem, thấy thầy đề 2 chữ : Giả điên.
Buổi chiều hôm ấy, khi mâm cơm đưa tới, Tôn Tẫn cầm đũa định ăn, bỗng làm ra dáng mê man, nôn oẹ, hồi lâu nổi giận giương mắt hét to lên rằng : Mày dùng thuốc độc hại ta, rồi hất đổ mâm cơm xuống đất, miệng lảm nhảm chửi hoài.
Bàng Quyên được lính hầu báo cho biết việc Tôn Tẫn nổi điên thì không tin, đến tận nơi xem xét và nhốt Tôn Tẫn vào chuồng heo, đem cơm đến cho ăn. Tôn Tẫn lại hét : “ Mày lại đem thuốc độc đến hại ta à ?” Nói rồi gạt mâm cơm đổ xuống đất. Tên lính hầu nhặt cơm cho chó ăn, lấy một cục bùn đưa Tôn Tẫn thì Tôn Tẫn liền lấy ăn ngay.
Bàng Quyên tin chắc Tôn Tẫn điên thật nên không lấy làm lo, dần dần thả lỏng Tôn Tẫn muốn đi đâu thì đi, nhưng ra lịnh cho người theo dõi, mỗi sáng phải trình báo cho biết Tôn Tẫn hiện đang ở đâu.
Bấy giờ Mặc Địch sang chơi nhà Điền Kỵ nước Tề. Có người học trò tên Cầm Hoạt ở nước Ngụy đến. Mặc Địch hỏi thăm Cầm Hoạt lúc nầy Tôn Tẫn có đắc ý không ? Cầm Hoạt thuật lại việc Tôn Tẫn bị chặt châ và trở nên điên khùng.
Mặc Địch nói : 
– Ta muốn tiến cử hắn nào ngờ lại thành ra hại hắn.
Mặc Địch liền nói rõ tài học của Tôn Tẫn cho Điền Kỵ nghe và việc Bàng Quyên ganh tài ám hại Tôn Tẫn, khuyên Điền Kỵ tìm cách rước Tôn Tẫn sang Tề. Điền Kỵ vào tâu với vua Tề là Tề Uy Vương. Uy Vương muốn đem binh đón Tôn Tẫn thì Điền Kỵ can, nói phải lập kế mới rước Tôn Tẫn được. 
Uy Vương sai Thuần Vu Khôn sang Ngụy dâng trà, đem Cầm Hoạt đi theo giả làm kẻ hầu. Qua đến Ngụy, Cầm Hoạt bí mật đi tìm Tôn Tẫn, rồi mướn người khác giả làm Tôn Tẫn, đặng rước Tôn Tẫn thật về Tề.
Thuần Vu Khôn và Cầm Hoạt đưa được Tôn Tẫn ra khỏi nước Ngụy thì đi thẳng về Lâm Tri, có Điền Kỵ thân hành ra đón. Tề Uy Vương rất mừng, muốn phong Tôn Tẫn làm Quân Sư, nhưng Tôn Tẫn tâu rằng :
– Hạ thần chưa có chút công chi nên chưa dám nhận quan tước. Vả nếu Bàng Quyên biết thần làm quan cho Tề ắt lo đề phòng, chi bằng tạm giấu đi mới dễ bề hành động.
Uy Vương bằng lòng, cho Tôn Tẫn ở trong dinh Điền Kỵ, tôn là thượng khách.
Lúc đó, Ngụy Huệ Vương sai Bàng Quyên đi đánh nước Triệu để đòi đất Trung Sơn. Quân Triệu bị thua. Triệu Thành Hầu cầu Tề cứu viện. Tề Uy Vương định phong Tôn Tẫn làm Đại Tướng đem binh cứu Triệu. Tôn Tẫn tâu rằng :
– Hạ thần là kẻ tàn phế, nếu cho làm Đại Tướng e cho quân địch sẽ cười Tề không có tướng tài, chi bằng Đại Vương cử Điền Kỵ làm Tướng, và hạ thần bí mật theo giúp mưu kế.
Tề Uy Vương cử Điền Kỵ làm Đại Tướng, Tôn Tẫn làm Quân Sư bí mật ở trong xe, kéo đại binh cứu Triệu.
Điền Kỵ muốn đem quân thẳng đến Hàm Đan là kinh đô của Triệu. Tôn Tẫn nói : Tướng nước Triệu không đánh nổi Bàng Quyên, nên khi ta kéo quân đến đó thì Hàm Đan đã mất về tay quân Ngụy rồi, chi bằng ta cứ đóng quân giữa đường, rêu rao nói rằng ta đi đánh Tương Lăng của Ngụy. Huệ Vương lo sợ, ắt phải gọi Bàng Quyên trở về giữ Tương Lăng. Bấy giờ ta đón đánh Bàng Quyên thì thế nào cũng thắng.
Điền Kỵ y theo kế đó mà làm. Quả đúng như lời Quân Sư Tôn Tẫn, Bàng Quyên kéo binh về giữ Tương Lăng. Điền Kỵ bày binh theo cách của Tôn Tẫn, đánh Bàng Quyên một trận tơi bời, Bàng Quyên ban đêm chạy trốn về Ngụy.
Năm sau, Bàng Quyền cùng Thái Tử Thân đem binh đánh nước Hàn. Hàn sang cầu cứu Tề. Tề Uy Vương cử Điền Kỵ và Tôn Tẫn đi cứu Hàn.
Điền Kỵ muốn kéo quân đến nước Hàn. Tôn Tẫn nói :
– Không nên, trước kia ta cứu Triệu mà chưa hề đến Triệu, nay cứu Hàn cũng y theo kế hoạch đó. Cái thuật giải cứu Hàn là phải đánh vào nơi yếu trọng của Ngụy thì quân Ngụy tất phải kéo về. Cái kế ngày nay là phải đem binh thẳng đến kinh đô Ngụy thì mới cứu được Hàn.
Bàng Quyên đang thắng thế ở nước Hàn, nhưng Ngụy Huệ Vương ra lịnh cho Bàng Quyên phải tức tốc rút binh về đón đánh quân Tề đang thừa cơ kéo đến đánh kinh đô của Ngụy. Tôn Tẫn bày kế lừa Bàng Quyên. Quân Tề làm như sợ hãi khi biết Bàng Quyên kéo quân trở về Ngụy. Ban đầu làm 10 vạn bếp, sau đó rút quân như bỏ chạy, hôm sau làm 6 vạn bếp, hôm sau rút chạy nữa, chỉ còn làm 3 vạn bếp.
Bàng Quyên cho quân quan sát các bếp của quân Tề, cười lớn nói với Thái Tử Thân :
– Thật là hồng phúc của Ngụy Vương, quân Tề hèn nhát, vào đất Ngụy có 3 ngày mà binh sĩ bỏ trốn quá nửa. Kỳ nầy, Quyên sẽ bắt sống bọn Điền Kỵ để rửa cái hận Tương Lăng năm trước.
Nói xong, Bàng Quyên chọn 2 vạn tinh binh tiến gấp đánh quân Tề, còn đại binh từ từ đi sau.
Tôn Tẫn dọ biết tin đó, tính toán và dự kiến đoàn quân của Bàng Quyên sẽ đến Mã Lăng vào lúc tối. Đường Mã Lăng ở giữa hai trái núi có cây cối um tùm, rất dễ phục binh. Tôn Tẫn sai chặt cây ngã ngang để chẹn lối đi, chỉ chừa một cây to giữa đường, cho cạo sạch một một ô vuông vỏ cây ở phía Đông, rồi dùng than viết lên đó mấy chữ : “ Quân Sư Tôn bảo : Bàng Quyên chết tại cây nầy.”
Tôn Tẫn sai bộ tướng Viên Đạt, Độc Cô Trần, kén 5000 quân cung nỏ, mai phục 2 bên tả hữu Mã Lăng, dặn kỹ hễ nơi gốc cây có ánh lửa phát ra thì nhất tề nhắm vào đó bắn.
Lại sai Điền Anh dẫn 1 vạn quân mai phục cách Mã Lăng 3 dặm chẹn đường quân Ngụy.
Tôn Tẫn phân phát binh xong thì cùng Điền Kỵ dẫn binh còn lại lên đóng phía Bắc để dự bị tiếp ứng.
Bàng Quyên kéo binh đến Mã Lăng thì Trời vừa tối, thấy cây cối bị đốn ngã nằm ngổn ngang, cho rằng quân Tề sợ quân Ngụy đuổi theo kịp nên đốn cây cản đường như thế.
Bàng Quyên cho thu dọn cây cối, bỗng thấy có một cây giữa đường, gần nơi gốc đẽo trắng, có viết chữ nhưng Trời tối không thấy rõ. Bàng Quyên sai một tên lính châm lửa lên xem, Bàng Quyên đọc xong mấy chữ thì la lên : 
– Ôi ! Ta mắc mưu thằng què rồi !
Vừa la xong thì có cả muôn mũi tên từ nỏ bắn ra, quân Ngụy chết thôi vô số. Bàng Quyên bị loạn tên trọng thương, liệu không thoát được, bèn rút kiếm tự đâm cổ chết.
Cuộc đời của Bàng Quyên đúng y như lời của Quỉ Cốc Tiên Sinh đã nói trước : Ngươi sẽ vì lừa người mà bị người lừa lại, gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì hỏng. Bàng Quyên chết tại Mã Lăng. (Mã là ngựa).
Giết xong Bàng Quyên rồi, Tôn Tẫn xin với vua Tề cho về ẩn dật tu luyện ở núi Thạch Lư. Một năm sau, không còn ai biết Tôn Tẫn ở đâu nữa.
st
 
 
Tôn Tẫn lúc mới đến nước Tề, lúc này còn chưa ai biết về tài năng của ông , vậy ông làm sao để trở thành nhà quân sư lừng lẫy trong lịch sử.
ton tan
Thời Chiến Quốc, đại tướng nước Tề là Điền Kỵ thường cùng Tề Vương và các quý tộc cung đình cá cược đua ngựa. Mỗi cuộc thì đặt tiền cửa đến hàng trăm lượng vàng. Tuy ở chiến trường ông oai phong dữ dội, chiến công hiển hách là thế nhưng ở sòng bạc ông lại nhiều lần bị thất bại.
Sẩm tối ngày hôm ấy, nhà Điền Kỵ có một vị khách trông rất phong trần dầu dãi, người này tuy mặc áo vải nhưng có phong thái hơn người. Ông tên gọi Tôn Tẫn .Trong tiệc rượu, hai người đàm luận về chiến thuật chiến lược khi hai quân giao chiến. Nói đến chiến trận, Điền Kỵ phấn chấn hẳn lên, đặc biệt cách ăn nói thông minh và tài thao lược kinh người của Tôn Tẫn càng khiến ông hứng khởi vui thích. Bất giác đã qua ba tuần rượu, Điền Ky chợt nhớ tới chuyện đua ngựa, mặt mày như có đảm mây sầu che phủ. Tôn Tấn cảm thấy băn khoăn, vội vã hỏi:
Lão huynh, có chuyện gì phiền não thế?
 Điền Kỵ trầm ngâm hồi lâu, sau rất mới ngượng nghịu thổ lộ nỗi khổ não chất chứa trong lòng bấy lâu.
Tôn Tẫn nghe ông kể xong, trầm tư giây lát rồi nói: Việc này không hề khó, lần sau huynh có thể đặt tiền cược lớn gấp ba, đệ bảo đảm huynh sẽ thắng!
Điền Kỵ bán tín bán nghi hỏi;
– Lão huynh có diệu kế gì vậy?
Tôn Tấn có vẻ đã tính toán sẵn:
– Thưa vâng, đến lúc đó huynh tất sẽ rõ, không cần phải suy nghĩ nhiều đâu!
Đến hôm đó, Điền Kỵ đặt cược một nghìn đồng vàng ngay trước mặt mọi người. Tề Vương và những vương công quý tộc kia tưởng rằng ông thua nhiều nên cay cú làm bừa. Họ cười nói;
– Lần này ông ta sẽ thua thảm hơn, nhìn mà xem!
Phương pháp đua ngựa hồi đó là: người dự đua đều phải tự mình chia ngựa của mình làm ba loại thượng, trung, hạ. Sau đó vào cuộc đua lần lượt theo thứ tự thượng đẳng, trung đăng, rồi hạ đẳng. Cuộc đua xong xuôi, chỉ cần ngựa của ai hai lần được ghi, tên là ”đầu bảng cược”, coi như là thắng.
Lại nói hôm đó Điền Kỵ tuy đứt khoát đặt tiền cửa nhưng trong lòng vẫn không khỏi lo lắng, lẩm bẩm: ”Lần này nếu lại thua, thì có thể.. ”.
Lúc này, Tôn Tẫn đến gần Điền Ky, nói nhỏ:
Lão huynh, đừng có lo lắng, lại đây.. Hãy cho ngựa hạ đẳng của huynh đua với ngựa thượng đẳng của họ rồi lại dùng ngựa thượng đẳng của huynh đua với ngựa trung đẳng của họ, ngựa trung đẳng của huynh để cuối cùng mới dùng, như thế họ chỉ còn lại ngựa hạ đẳng. Hiểu rõ chưa?
Ái chà! –  Điền Kỵ nghe thế, vỗ đùi đen đét – Tại sao xưa nay ta không nghĩ ra điều này nhỉ?
Liền vội vàng đặn dò thủ hạ cứ sắp xếp như thế, như thế.
Kết quả cuộc đua, không ngoài dự kiến, Điền Ky thắng hai cuộc, thoắt cái mặt mày tưng bừng, bình tĩnh lấy đi một nghìn lạng vàng từ tay Tề Vương.
Ít lâu sau, Điền Kỵ không đã đem bí mật khiến ông chiến thắng trong cuộc đua ngựa kể cho quốc vương. Tề Vương vội vàng sai ông vời Tôn Tẫn đến. Từ đó, Tôn Tấn làm quân sư cho nước Tề, nhiều lần đánh bại địch thủ trên chiến trường, tiếng tăm lừng lẫy, trở thành một trong những nhà quân sự kiệt xuất trong lịch sử Trung Quốc.
st

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

Văn hóa truyền thống: Gia Cát Lượng dùng đức thu phục nhân tâm


Vào cuối thời Đông Hán, đất Trung Hoa bị chia ra làm 3 nước: Ngụy, Thục và Ngô. Vua nước Thục là Lưu Bị trước lúc băng hà đã để lại di chúc căn dặn Thừa tướng Gia Cát Lượng phải đánh chiếm miền Bắc và phục hưng nước Hán.
Gia Cát Lượng tự là Khổng Minh (181–234), hiệu là Ngọa Long tiên sinh, là nhà chính trị – quân sự kiệt xuất của Trung Hoa trong thời Tam Quốc. (Ảnh: internet)
Vào lúc ấy, thống lĩnh của quân miền Nam là Mạnh Hoạch đem đại binh xâm lấn nước Thục. Gia Cát Lượng lập tức cầm quân đi đánh giặc.
Khi quân đội tiến vào lãnh thổ phía Nam và giao chiến với đạo quân của Mạnh Hoạch, Gia Cát Lượng dùng mưu giả thua bỏ chạy. Mạnh Hoạch dẫn quân đuổi theo, kết quả rơi vào mai phục của Gia Cát Lượng. Quân miền Nam bại trận bỏ chạy tứ tán, Mạnh Hoạch bị bắt sống.
Mạnh Hoạch bị áp giải đến đại bản doanh của Gia Cát Lượng. Ông ta nghĩ thầm: “Lần này ta chết chắc rồi”. Nhưng ngạc nhiên thay, Gia Cát Lượng lệnh cho lính cởi trói và ân cần khuyên bảo ông đầu hàng. Mạnh Hoạch không chịu, nói: “Thắng bại là chuyện thường của binh gia. Ta đã không cẩn thận trúng kế của ngươi, như thế làm sao tâm phục được?”.
Gia Cát Lượng không ép buộc ông ta. Thay vào đó lại cùng với Mạnh Hoạch cưỡi ngựa vòng quanh các trại lính của mình. Ông hỏi Mạnh Hoạch: “Ông xem quân đội của ta thế nào?”. Mạnh Hoạch kiêu ngạo trả lời: “Trước kia ta không biết rõ các ngươi, cho nên thất bại. Hôm nay ngươi để cho ta nhìn thấy trận thế của các ngươi, ta xem bất quá cũng chỉ là như thế thôi. Trận thế như vậy, muốn đánh doanh trại các ngươi cũng không khó gì”. Gia Cát Lượng cười sang sảng nói: “Vậy hãy mau mau trở về và chuẩn bị cho tốt, lần sau chúng ta sẽ đánh lại vậy”.
Sau khi được thả, Mạnh Hoạch chuẩn bị quân đội và lần nữa đánh nhau với quân Thục. Nhưng ông ta là người hữu dũng vô mưu, làm sao sánh nổi với Gia Cát Lượng. Một lần nữa ông ta lại bị bắt. Tuy vậy, Mạnh Hoạch vẫn không chịu đầu hàng. Gia Cát Lượng lại thả ông ta ra.
Quan binh nước Thục đều không hiểu gì cả. Sao lại có thể thả kẻ thù ra dễ dàng như vậy được? Gia Cát Lượng tự đã có chủ ý: “Nếu muốn biên giới phía Nam nước Thục được thái bình dài lâu, thì lấy Đức thu phục mới có thể thật sự làm cho người ta tâm phục. Nếu dùng vũ lực mà áp chế thì tương lai lại dễ sinh chuyện”. Quan lại thảy đều khâm phục tầm nhìn của ông.
Khi Mạnh Hoạch trở về, người em trai là Mạnh Ưu hiến kế cho anh. Lúc nửa đêm, Mạnh Ưu cầm một đạo quân đến doanh trại quân Hán và giả vờ đầu hàng. Mặc dù biết rõ ý đồ của ông ta từ đầu, Gia Cát Lượng vẫn thưởng cho binh lính của ông ta rất nhiều rượu ngon. Kết quả là, quân của Mạnh Ưu đều uống say bí tỉ cả. Lúc đó, Mạnh Hoạch theo kế hoạch cầm quân tới đánh nhưng không ngờ lại tự chui vào lưới, lại bị bắt. Nhưng ông ta nhất định vẫn không chịu phục. Gia Cát Lượng lần thứ 3 thả hổ về rừng.
Trở về đại bản doanh, Mạnh Hoạch lập tức chỉnh đốn quân đội, chờ thời cơ phát binh. Một ngày đột nhiên có thám tử về báo: “Gia Cát Lượng đang một mình đi quan sát trận tiền”. Mạnh Hoạch rất mừng rỡ lập tức dẫn người đi bắt Gia Cát Lượng. Không ngờ lần này lại trúng kế và bị bắt lần thứ tư. Biết Mạnh Hoạch vẫn chưa chịu tâm phục, Gia Cát Lượng lại thả ông ta ra.
Một viên đại tướng dưới trướng Mạnh Hoạch là Dương Phong, vốn đi theo Mạnh Hoạch, trải qua mấy lần bị bắt mấy lần được thả, trong lòng mười phần khâm phục tài trí và lòng độ lượng của Gia Cát Khổng Minh. Để trả ơn, ông ta và vợ mình chuốc rượu Mạnh Hoạch cho say và bắt trói dẫn đến doanh trại quân Hán. Mạnh Hoạch bị bắt lần thứ 5 nhưng vẫn không chịu phục và bảo rằng đó là vì ông ta bị tiểu nhân phản bội. Gia Cát Lượng thế là lại thả ông ta ra lần thứ 5, bảo ông ta lại chuẩn bị đánh nữa.
Lần ấy trở về, Mạnh Hoạch không dám tự ý, bèn nhập quân với Mộc Lộc đại vương. Doanh trại của tướng Mộc Lộc cực kỳ biệt lập. Gia Cát Lượng cầm quân, vượt nhiều khó khăn mới đến được đó. Tuy nhiên, quân miền Nam dùng dã thú để tham chiến. Kết quả là quân Hán bại trận. Trở về doanh trại, Gia Cát Lượng tạo ra những con thú giả to lớn hơn đám thú thật kia nhiều lần. Khi tái chiến với quân của tướng Mộc Lộc, bầy thú thật sợ hãi khi trông thấy những con thú giả, không dám tham chiến nữa. Lần ấy, quân Hán thắng trận và Mạnh Hoạch lại bị bắt. Mặc dù Mạnh Hoạch vẫn không chịu phục, nhưng lần này không có gì để biện hộ nữa. Gia Cát Lượng vẫn thả ông ta về.
Mạnh Hoạch vừa được thả ra, đã lại nhập bọn với nước Ô Qua. Vua nước Ô Qua là Ngột Đột Cốt có một quân đội hùng mạnh thiện chiến. Đội quân này được trang bị bộ giáp nhẹ mà đao thương bất nhập, gọi là “Đằng giáp quân”. Gia Cát Lượng sớm đã có chuẩn bị rồi, vì thế lần này dùng hỏa công đánh bại Đằng giáp quân của nước Ô Qua. Mạnh Hoạch bị bắt lần thứ 7, quỳ trước trướng Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng lệnh cởi trói cho ông ta và  thiết đãi ông ta cùng thuộc hạ.
Mạnh Hoạch đang ăn uống cùng huynh đệ và thê tử thì một người vào báo với ông ta: “Thừa tướng xấu hổ, không dám gặp Ngài. Thừa tướng đặc biệt lệnh cho tôi thả Ngài trở về chiêu mộ nhân mã để quyết phân thắng bại. Bây giờ Ngài có thể trở về”.
Mạnh Hoạch rơi nước mắt mà nói: “Chưa từng thấy ai bị bắt 7 lần đều được thả cả 7 lần. Dù là người nước nhỏ, nhưng tôi cũng biết chút ít lễ nghĩa. Làm sao tôi có thể vô liêm sỉ như thế được?”. Vì vậy lệnh cho thuộc hạ thảy cùng quỳ dưới trướng, nói lời tạ lỗi: “Thừa tướng có uy của Trời. Chúng tôi sẽ không trở lại nữa!”. Gia Cát Lượng mời Mạnh Hoạch dự đại yến tiệc. Ông trả tất cả những vùng đất chinh phạt được cho Mạnh Hoạch. Mạnh Hoạch và các thuộc tướng đều rất biết ơn và vui vẻ đi về. Mạnh Hoạch trở về còn thuyết phục các bộ lạc khác toàn bộ cùng đầu hàng hết.
Nếu muốn đất nước được thái bình dài lâu, thì lấy đức thu phục mới có thể thật sự làm cho người dân tâm phục. Nếu dùng vũ lực mà áp chế nhân dân thì tương lai rất dễ sinh chuyện.
Chúng tướng hỏi Gia Cát Lượng: “Giờ đây ta đã chinh phạt được miền Nam. Ta có nên gửi quan binh đến đó để cai trị không?”.
Gia Cát Lượng nói: “Nếu ta phái quan lại tới thì cũng phải để lại binh sĩ. Đó không chỉ là lãng phí nhân lực, quân lương, mà trọng yếu là dễ khiến lòng người không tin tưởng lẫn nhau. Chúng ta để các bộ lạc tự mình quản lý, người Hán và các bộ lạc đều bình an vô sự, chẳng phải là rất tốt sao?”. Mọi người đều cho rằng đúng.
Gia Cát Lượng khao quân xong, chuẩn bị trở về nước Thục. Mạnh Hoạch dẫn toàn bộ thuộc tướng và thủ lĩnh các bộ tộc đi hộ tống ông suốt chặng đường về Vĩnh Xương. Gia Cát Lượng dặn dò Mạnh Hoạch cần phải chăm lo cho dân chúng, chớ để lỡ mất vụ mùa, nói xong liền rời đi, nhóm người của Mạnh Hoạch khóc mà bái biệt. Suốt đường về, Gia Cát Lượng đem hạt giống và nông cụ tặng cho nông dân. Người dân miền Nam hết sức biết ơn ông. Họ xây đền thờ, bốn mùa thờ cúng, tôn kính ông như người cha nhân từ. Họ cũng cung cấp thuốc men, canh ngưu chiến mã, cùng các đồ quân dụng cho ông.
Giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-Gia-Cat-Luong-3
Nhiều năm sau, Gia Cát Lượng qua đời. Vua nước Tấn là Tấn Vũ Đế (tên thật là Tư Mã Viêm) thống nhất tam quốc, đem chủ nước Thục là Lưu Thiện đến thành Lạc Dương. Mạnh Hoạch vẫn cảm ân đức của Gia Cát Lượng, cho nên mỗi năm vào ngày lập hạ đều dẫn thân binh hộ vệ đến trước thành Lạc Dương để trông coi Lưu Thiện. Mạnh Hoạch cũng khẩn cầu Đế vương đối đãi tốt với Lưu Thiện và người dân nước Thục, khiến Tấn Vũ Đế hết sức cảm động.
Gia Cát Lượng bằng trí tuệ và đức nhẫn nại phi thường đối với Mạnh Hoạch 7 lần bắt 7 lần thả, cuối cùng khiến cho ông ta tâm phục khẩu phục. Bởi vậy có thể thấy được, từ cổ chí kim các bậc Đại Trí đều lấy Đức mà thu phục người khác. Người ta phải là người nhân từ trước khi làm nên chuyện lớn. Đó cũng là nguyên tắc chung cho những người quan viên, trước tiên phải kiến lập uy đức; trị quốc an dân thì phải có chính tâm chính khí, phụng sự việc công không một chút tư tâm, như vậy mới có thể khiến nhân tâm quy phục, thiên hạ thái bình. Kẻ dùng bạo lực nhất thời có thể trấn áp người ta, nhưng không thể tồn tại lâu dài, khiến thế nhân cuối cùng sinh tâm oán giận, nhất định sẽ bị lịch sử đào thải.
Kẻ dùng bạo lực nhất thời có thể trấn áp người ta, nhưng không thể tồn tại lâu dài, khiến thế nhân cuối cùng sinh tâm oán giận, nhất định sẽ bị lịch sử đào thải.

Theo minghui.org