Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

IMS là gì?

IMS là gì?

IMS, thuật ngữ viết tắt của IP Multimedia Subsystem, là một kiến trúc mạng nhằm tạo sự thuận tiện cho việc phát triển và phân phối các dịch vụ đa phương tiện đến người dùng, bất kể là họ đang kết nối thông qua mạng truy nhập nào. IMS hỗ trợ nhiều phương thức truy nhập như GSM, UMTS, CDMA2000, truy nhập hữu tuyến băng rộng như cáp xDSL, cáp quang, cáp truyền hình, cũng như truy nhập vô tuyến băng rộng WLAN, WiMAX. IMS tạo điều kiện cho các hệ thống mạng khác nhau có thể tương vận (interoperability) với nhau. IMS hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích cho cả người dùng lẫn nhà cung cấp dịch vụ. Nó đã và đang được tập trung nghiên cứu cũng như thu hút được sự quan tâm lớn của giới công nghiệp. Tuy nhiên IMS cũng gặp phải những khó khăn nhất định và cũng chưa thật sự đủ độ chín để thuyết phục các nhà cung cấp mạng đầu từ triển khai nó. Kiến trúc IMS được cho là khá phức tạp với nhiều thực thể và vô số các chức năng khác nhau. Bài viết này giúp bạn đọc có một cái nhìn tổng quan từ khía cạnh công nghệ của giải pháp IMS. Nó cũng chỉ ra những lợi ích và khó khăn mà IMS đang phải đương đầu.
ims IMS là gì?
Đôi nét về tiến trình chuẩn hóa IMS
IMS được định hình và phát triển bởi diễn đàn công nghiệp 3G.IP, thành lập năm 1999. Kiến trúc ban đầu của IMS được xây dựng bởi 3G.IP và sau đó đã được chuẩn hóa bởi 3GPP (3rd Generation Partnership Project) trong Release 5 công bố tháng 3 năm 2003. Trong phiên bản đầu tiên này, mục đích của IMS  là tạo thuận lợi cho việc phát triển và triển khai dịch vụ mới trên mạng thông tin di động. Tiếp đến, tổ chức chuẩn hóa 3GPP2 đã xây dựng hệ thống CDMA2000 Multimedia Domain (MMD) nhằm hỗ trợ các dịch vụ đa phương tiện trong mạng CDMA2000 dựa trên nền 3GPP IMS. Trong Release 6 của 3GPP IMS, cùng với khuynh hướng tích hợp giữa mạng tế bào và mạng WLAN, mạng truy nhập WLAN đã được đưa vào như một mạng truy nhập bên cạnh mạng truy nhập tế bào.
IMS khởi đầu như một chuẩn cho mạng vô tuyến. Tuy nhiên, cộng đồng mạng hữu tuyến, trong quá trình tìm kiếm một chuẩn thống nhất, sớm nhận thấy thế mạnh của IMS cho truyền thông hữu tuyến. Khi đó ETSI (the European Telecommunication Standards Institute) đã mở rộng chuẩn IMS thành một phần của kiến trúc mạng thế hệ tiếp theo NGN (Next Generation Network) mà họ đang xây dựng. Tổ chức chuẩn hóa TISPAN (Telecoms & Internet converged Services and Protocols for Advanced Networking) trực thuộc ETSI, với mục đích hội tụ mạng thông tin di động và Internet, đã chuẩn hóa IMS như một hệ thống con của NGN. Kết hợp với TISPAN, trong Release 7 của IMS, việc cung cấp dịch vụ IMS qua mạng cố định đã được bổ sung. Năm 2005, phiên bản Release 1 của TISPAN về NGN  được coi như một sự khởi đầu cho hội tụ cố định-di động trong IMS. Gần đây, 3GPP và TISPAN đã có được một thỏa thuận để cho ra phiên bản Release 8 của IMS với một kiến trúc IMS chung, có thể hỗ trợ các kết nối cố định và các dịch vụ như IPTV.
Đa phần các giao thức sử dụng trong IMS được chuẩn hóa bởi IETF (Internet Engineering Task Force), điển hình nhất là giao thức tạo phiên SIP (Session Initiation Protocol). Rất nhiều các phát triển và cải tiến của SIP để hỗ trợ các chức năng theo yêu cầu của hệ thống IMS đã được đề nghị và chuẩn hóa bởi IETF như SIP hỗ trợ tính cước, bảo mật v.v. Bên cạnh IETF và TISPAN, một tổ chức chuẩn hóa khác mà 3GPP hợp tác chặt chẽ trong việc phát triển IMS là Liên minh di động mở OMA (Open Mobile Alliance) nhằm phát triển các dịch vụ trên nền IMS. Một trong những dịch vụ do OMA phát triển là Push-to-Talk over Cellular (PoC) hay OMA SIMPLE Instant Messaging.
Lợi ích của IMS
IMS, tạm dịch là hệ thống con đa phương tiện IP, không đơn thuần là một nền tảng dịch vụ (service plaftorm) mà là một kiến trúc mạng dùng để thao tác, quản lý và điểu khiển các dịch vụ đa phương tiện đến người dùng cố định và di động. IMS định nghĩa một lớp quản lý dịch vụ chung cho tất cả các loại hình dịch vụ đa phương tiện, độc lập với loại hình mạng truy nhập mà người dùng đang kết nối. IMS xây dựng trên nền mạng lõi IP và cho phép nhiều mạng truy nhập khác, bao gồm cả mạng di động lẫn mạng cố định, kết nối với nhau thông qua lớp dịch vụ chung để cung cấp các gói dịch vụ hội tụ.
Ngày nay Internet đã trở thành một phần cuộc sống của hơn 15% số người trên trái đất. Internet cung cấp phương thức để mọi người có thể liên lạc, trao đổi, tuơng tác và làm việc cùng với nhau. Trong khi các mạng vận tải dữ liệu không cần thời gian thực được sử dụng chủ yếu trong thế hệ Internet đầu tiên thì ngày nay các dịch vụ thời gian thực (hoặc gần thực) với chất lượng dịch vụ QoS cao ngày càng được phát triển rộng rãi. Sự chuyển đổi theo khuynh hướng hội tụ nhiều hệ thống mạng khác nhau trên nền toàn IP sẽ sớm trở thành hiện thực. Trong bối cảnh đó, người dùng trong tương lai mong muốn có các dịch vụ đa phương tiện chất lượng cao, mang tính cá nhân, có khả năng tương tác thời gian thực mọi lúc mọi nơi trên mọi thiết bị sử dụng. Điều này đặt ra nhữnng yêu cầu mới cho kiến trúc hạ tầng mạng viễn thông. Trong bối cảnh đó, IMS được xem như là một giải pháp hứa hẹn để thỏa mãn tất cả những mục tiêu kể trên cho một thế hệ mạng tương lai.
Một trong những mục đích đầu tiên của IMS là giúp cho việc quản lý mạng trở nên dễ dàng hơn bằng cách tách biệt chức năng điều khiển và chức năng vận tải thông tin. Một cách cụ thể,  IMS là một mạng phủ (overlay), phân phối dịch vụ trên nền hạ tầng chuyển nối gói.  IMS cho phép chuyển dần từ mạng chuyển nối mạch sang chuyển nối gói trên nền IP, tạo thuận lợi cho việc quản lý mạng thông tin di động. Việc kết nối giữa mạng cố định và di động đã góp phần vào tiến trình hội tụ mạng viễn thông trong tương lai. IMS cho phép người dùng có thể sử dụng một hay nhiều loại thiết bị khác nhau, di chuyển từ mạng này sang mạng khác mà vẫn có thể dùng cùng một dịch vụ.
Kiến trúc IMS cung cấp nhiều giá trị gia tăng cho nhà cung cấp mạng, người phát triển ứng dụng, người cung cấp dịch vụ cũng như người sử dụng các thiết bị đầu cuối. Kiến trúc IMS giúp các dịch vụ mới được triển khai một cách nhanh chóng với chi phí thấp. IMS cung cấp khả năng tính cước phức tạp hơn nhiều so với hệ thống tài khoản trả trước hay trả sau,  ví dụ như việc tính cước theo từng dịch vụ sử dụng hay phân chia cước giữa các nhà cung cấp dịch vụ và nhà cung cấp mạng. Khách hàng sẽ chỉ nhận một bảng tính cước phí duy nhất từ một nhà cung cấp mạng thường trú. IMS hứa hẹn mang đến nhiều dịch vụ đa phương tiên, giàu bản sắc theo yêu cầu và sở thích của từng khách hàng,  do đó tăng sự trải nghiệm của khách hàng (customer experience).
Với IMS, nhà cung cấp mạng sẽ không chỉ làm công tác vận tải thông tin một cách đơn thuần mà trở thành tâm điểm trong việc phấn phối dung lượng thông tin trong mạng, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụ cũng như kịp thời thay đổi để đáp ứng các tình huống khác nhau của khách hàng.
Tóm lại, IMS tạo thuận lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ trong việc xây dựng và triển khai các ứng dụng mới, giúp nhà cung cấp mạng giảm chi phí triển khai, vận hành và quản lý, đồng thời tăng lợi nhuận nhờ các dịch vụ mới. Và cuối cùng IMS mang lại những dịch vụ mới hướng đến sự tiện nghi cho khách hàng.
Điểm yếu hiện tại của IMS
IMS đang thiếu một mô hình kinh doanh có sức thuyết phục để các nhà cung cấp mạng chấp nhận triển khai IMS. Điểm nối bật của IMS là hướng đến một mô hình mạng hội tụ. Tuy nhiên, điều này không dễ dàng thuyết phục một nhà cung cấp mạng triển khai IMS. Với IMS, khách hàng đăng ký với một nhà cung cấp mạng (network operator) có thể dùng dịch vụ của nhiều nhà cung cấp dịch vụ (service providers)  khác nhau. Do vậy, IMS sẽ dẫn đến sự cạnh tranh giữa nhà cung cấp mạng và những nhà cung cấp dịch vụ nội dung của thế giới Internet (Microsoft, Google…). Thay vì tăng thêm lợi nhuận nhờ các dịch vụ giá trị gia tăng, nhà cung cấp mạng có thể sẽ phải chịu thất bại trong việc cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ. Do vậy, nhiều nhà cung cấp mạng đang còn rất dè dặt khi quyết định triển khai IMS. Đây là một vấn đề mang tính chiến lược chứ không phải là một vấn đề về công nghệ.
Về mặt kỹ thuật, một trong những điểm yếu mà nhiều người nhắc đến nhiều nhất là tính bảo mật của IMS. Trong các yếu tố về bảo mật có thể kể đến các vấn đề liên quan đến quản lý nhận dạng người dùng bao gồm các lỗi như Call ID spoofing, ăn cắp ID, tấn cống DoS/DDoS, spam. Điểm yếu bảo mật nằm ở thiết bị SIP vì nó chưa có một cơ chế chứng nhận thực tốt như trong mạng thông tin di động tế bào (ví dụ bảo mật qua SIM). Thêm vào đó là sự hội tụ giữa nhiều loại hình mạng cũng gây không ít khó khăn trong việc quản lý bảo mật. Hiện tại, Release 8 của 3GPP đang xem xét một cách nghiêm túc vấn đề bảo mật này.
IMS hướng đến hội tụ, hướng đến việc nhiều hệ thống, nhiều mạng có thể tương vận với nhau. Tuy nhiên, đây cũng chính là một khó khăn mà IMS đang gặp phải. Việc các thiết bị có nguồn gốc từ nhiều nhà sản xuất khác nhau có thể tương vận được với nhau không phải là một điều dễ dàng. Bên cạnh đó, nhiều giao thức cũng chưa được chấp nhận và triển khai rộng rãi, ví dụ như trường hợp của giao thức DIAMETER.
IMS chỉ tập trung đến quản lý dịch vụ, do đó thiếu các ứng dụng “hấp dẫn” mang đặc thù riêng của IMS. Đa phần các dịch vụ mà IMS hiện đang hỗ trợ điều có thể thực hiện được không cần đến IMS (ví dụ sử dụng SIP). Hệ thống IMS khá phức tạp và chi phí để triển khai một hệ thống như thế là không nhỏ. Bên cạnh đó, hiện chưa có giải pháp cho việc chuyển tiếp dần từ mạng hiện tại lên IMS. Và một câu hỏi đặt ra là liệu các nhà cung cấp mạng có thể sử dụng lại những dịch vụ đã tồn tại mà không cần phải thay đổi quá nhiều. IMS hướng đến dịch vụ đa phương tiện, tuy nhiên tính đến thời điểm này các dịch vụ như P2P, IPTV, VPN còn chưa được tích hợp và chuẩn hóa trên nền IMS.
Mặc dù IMS nhắm đến việc đảm bảo chất lượng dịch vụ nhưng việc đảm bảo chất lượng dịch vụ khi chuyển đổi từ loại hình mạng này sang loại hình mạng khác (trong môi trường mạng hội tụ), hay từ mạng của nhà cung cấp mạng này sang mạng của nhà cung cấp mạng khác vẫn còn là một vấn đế chưa được giải quyết. Kiến trúc IMS thiếu một thực thể trung tâm để quản lý tài nguyên chung. Bài toán quản lý di động, chuyển giao giữa nhiều loại hình mạng khác nhau, cũng đặt ra những khó khăn nhất định cho việc cung cấp quản lý dịch vụ IMS.
Bên cạnh các chức năng kể trên, muốn vận hành tốt IMS cần phải có các chức năng theo dõi, quản lý và sữa lỗi của hệ thống. Trong môi trường mạng hội tụ, nếu một cuộc gọi bị rớt, chưa có một cơ chế nào để có thể xác định vị trí diễn ra lỗi (debugging).
Kết luận
IMS là một giải pháp hứa hẹn cho việc quản lý dịch vụ trong thế hệ mạng tiếp theo. IMS là một bước đi mang tính chiến lược lâu dài của nhiều công ty và tập đoàn viễn thông. Trong thời gian ngắn sắp tới, sẽ còn nhiều thay đổi xoay quanh giải pháp IMS nhằm hoàn thiện những điểm yếu của nó. Tất cả những giải pháp IMS hiện tại chỉ là một giải pháp sớm (early IMS). Giải pháp IMS đầy đủ (full IMS) vẫn còn đang trong giai đoạn nghiên cứu và chuẩn hóa.


Kiến trúc phân hệ IMS

ims architecture Kiến trúc phân hệ IMS
Kiến trúc IMS
Để tiếp nối bài viết về IMS trước đây, trong bài viết này tôi sẽ giới thiệu tóm lược về kiến trúc IMS.
Kiến trúc IMS được phân thành 3 lớp : lớp ứng dụng, lớp điều khiển (hay còn gọi là lớp IMS hay IMS lõi) và lớp vận tải (hay lớp người dùng).
  • Lớp dịch vụ bao gồm các máy chủ ứng dụng  AS (Application Server) và các máy chủ thuê bao thường trú HSS (Home Subscriber Server).
  • Lớp điều khiển bao gồm nhiều hệ thống con trong đó có hệ thống IMS lõi.
  • Lớp vận tải bao gồm thiết bị người dùng UE (User Equipment), các mạng truy nhập kết nối vào mạng lõi IP. Hai thực thể chức năng NASS và RACS định nghĩa bởi TISPAN có thể được xem như thuộc lớp vận tải hay thuộc lớp điều khiển ở trên.
Tại thời điểm hiện tại, kiến trúc cuối cùng của IMS chưa được thống nhất. Tuy nhiên về cơ bản nó sẽ vẫn dựa trên các thành phần như miêu tả trong hình 2. Một điểm đáng lưu ý là kiến trúc IMS là một kiến trúc chức năng, tức là các thực thể được định nghĩa dựa theo các chức năng của chúng. Điều này có nghĩa là chúng có thể được thiết kế trên cùng một thiết bị phần cứng.
a) Lớp dịch vụ :
  • Máy chủ ứng dụng AS (Application Server)  là nơi chứa đựng và vận hành các dịch vụ IMS. AS tương tác với S-CSCF thông qua giao thức SIP để cung cấp dịch vụ đến người dùng. Máy chủ VCC (Voice Call Continuity), đang được phát triển và chuẩn hóa bởi 3GPP, là một ví dụ về máy chủ ứng dụng AS. AS có thể thuộc mạng thường trú hay thuộc một mạng thứ ba nào đó. Nếu AS là một phần của mạng thường trú, nó có thể giao tiếp trực tiếp với HSS thông qua giao thức DIAMETER để cập nhật thông tin về hồ sơ người dùng (user profiles). AS có thể cung cấp các dịch vụ như quản lý sự hiện diện (presence) của người dùng trên mạng, quản lý quá trình hội thảo trực tuyến, tính cước trực tuyến…
  • Máy chủ quản lý thuê bao thường trú HSS (Home Subscriber Server) có thể xem như là một cải tiến của bộ đăng ký định vị thường trú HLR (Home Location Register). HSS là một cơ sở dữ liệu lưu trữ thông tin của tất cả khách hàng thuê bao. Nó chứa đựng các thông tin như nhận dạng người dùng, tên của S-CSCF gán cho người dùng, hồ sơ roaming, thông số xác nhận thực cũng như thông tin về dịch vụ thuê bao.  Trong trường hợp có nhiều HSS trong cùng một mạng, chức năng định vị người dùng SLF (Subscriber location Function) sẽ được thiết lập nhằm xác định HSS nào đang chứa hồ sơ của người dùng tương ứng.
b)Lớp lõi IMS : Chức năng của lõi IMS là quản lý việc tạo lập phiên liên lạc và dịch vụ đa phương tiện. Các chức năng của nó bao gồm:
CSCF (Call Session Control Function) có nhiệm vụ thiết lập, theo dõi, hỗ trợ và giải phóng các phiên đa phương tiện cũng như quản lý những tương tác dịch vụ của người dùng. CSCF được phân ra 3 loại : Serving-CSCF, Proxy-CSCF và Interogating-CSCF.
  • Proxy-CSCF (P-CSCF) là một proxy SIP. Sở dĩ gọi là proxy vì nó có thể nhận các yêu cầu dịch vụ, xử lý nội bộ hoặc chuyển tiếp yêu cầu đến các bộ phận khác trong hệ thống IMS. Đây là điểm kết nối đầu tiên giữa hạ tầng IMS và người dùng IMS/SIP. Một vài hệ thống mạng có thể dùng SBC (Session Border Controller) để thực hiện chức năng này. Để kết nối với hệ thống IMS, người dùng trước tiên phải đăng ký với P-CSCF trong mạng mà nó đang kết nối. Địa chỉ của P-CSCF được truy cập thông qua giao thức DHCP hoặc sẽ được cung cấp khi người dùng tiến hành thiết lập kết nối PDP (Packet Data Protocol) trong mạng thông tin di động gói tế bào. Chức năng của P-CSCF bao gồm:
    - P-CSCF nằm trên đường truyền của tất cả các thông điệp báo hiệu trong hệ thống IMS. Nó có khả năng kiểm tra bất kỳ thông điệp nào. P-CSCF có nhiệm vụ đảm bảo chuyển tải các yêu cầu từ UE đến máy chủ SIP (ở đây là S-CSCF) cũng như những thông điệp phản hồi từ máy chủ SIP về UE.
    - P-CSCF xác thực người dùng và thiết lập kết nối bảo mật IPSec với thiết bị IMS của người dùng. Nó còn có vai trò ngăn cản các tấn công như spoofing, replay để đảm bảo sự bảo mật và an toàn cho người dùng.
    - P-CSCF cũng có thể nén và giải nén các thông điệp SIP để giảm thiểu khối lượng thông tin báo hiệu truyền trên những đường truyền tốc độ thấp.
    - P-CSCF có thể tích hợp chức năng quyết định chính sách PDF (Policy Decision Function) nhằm quản lý và đảm bảo QoS cho các dịch vụ đa phương tiện.
    - P-CSCF cũng tham gia vào quá trình tính cước dịch vụ.
  • Serving-CSCF (S-CSCF)  là một nút trung tâm của hệ thống báo tín hiệu IMS. S-CSCF vận hành giống như một máy chủ SIP nhưng nó bao hàm cả chức năng quản lý phiên dịch vụ. Các chức năng chính của S-CSCF bao gồm:
    - Tiến hành các đăng ký SIP nhằm thiết lập mối liên hệ giữa địa chỉ người dùng (địa chỉ IP của thiết bị) với địa chỉ SIP. S-CSCF đóng vai trò như một máy chủ Registar trong hệ thống SIP.
    - S-CSCF tham gia trong tất cả các quá trình báo hiệu từ hệ thống IMS về người dùng. Nó có thể kiểm tra bất kỳ thông điệp nào nếu muốn.
    - S-CSCF giữ vai trò quyết định chọn lựa AS nào sẽ cung cấp dịch vụ cho người dùng.  Nó giữ vai trò định tuyến dịch vụ thông qua việc sử dụng giải pháp DNS/ENUM (Electronic Numbering).
    - S-CSCF thực hiện các chính sách của nhà cung cấp dịch vụ.  S-CSCF tương tác với máy chủ AS để yêu cầu các hỗ trợ dịch vụ cho khách hàng. S-CSCF liên lạc với HSS để lấy thông tin, cập nhật thông tin về hồ sơ người dùng và tham gia vào quá trình tính cước dịch vụ.
  • Interrogating-CSCF (I-CSCF) trong hệ thống mạng của một nhà cung cấp dịch vụ là điểm liên lạc cho tất cả các kết nối hướng đến một UE nằm trong mạng đó. Địa chỉ IP của I-CSCF được công bố trong máy chủ DNS của hệ thống. Chức năng của I-CSCF bao gồm:
    - Định tuyến thông điệp yêu cầu SIP nhận được từ một mạng khác đến S-CSCF tương ứng. Để làm được điều này, I-CSCF sẽ liên lạc với HSS (thông qua DIAMETER) để cập nhật địa chỉ S-CSCF tương ứng của người dùng. Nếu như chưa có S-CSCF nào được gán cho UE, I-CSCF sẽ tiến hành gán một S-CSCF cho người dùng để nó xử lý yêu cầu SIP.
    - Ngược lại, I-CSCF sẽ định tuyến thông điệp yêu cầu SIP hoặc thông điệp trả lời SIP đến một S-CSCF/I-CSCF nằm trong mạng của một nhà cung cấp dịch vụ khác.
  • BGCF (Breakout Gateway Control Function) là một máy chủ SIP chứa đựng chức năng định tuyến dựa trên số điện thoại. Nó được sử dụng khi một thiết bị IMS thực hiện cuộc gọi đến mạng nối chuyển mạch hay mạng điện thoại cố định truyền thống PSTN. BGCF hỗ trợ khả năng kết nối liên mạng thông qua việc định tuyến yêu cầu SIP trong trường hợp S-CSCF xác định rằng không thể định tuyến yêu cầu này bằng DNS/ENUM.  BGCF sẽ xác định nút mạng tiếp theo trên đường định tuyến, hoặc là MGCF hoặc là một BGCF của mạng khác rồi chuyển báo hiệu đến nút mạng tương ứng.
  • MGCF ( Media Gateway Control Function) có nhiệm vụ quản lý cổng phương tiện, bao hàm các chức năng như: liên lạc với S-CSCF để quản lý các cuộc gọi trên kênh phương tiện, làm trung gian chuyển đổi (conversion) giữa giao thức báo hiệu ISUP và SIP. MGCF quản lý một hay nhiều  IM-MGW (IP Multimedia-Media Gateway). IM-MGW sẽ tương tác với MGCF để quản lý tài nguyên. IM-MGW đóng vai trò là điểm chuyển đổi nội dung đa phương tiện giữa mạng chuyển nối gói và chuyển nối mạch khi thông tin truyền từ mạng này sang mạng khác.
  • Chức năng quản lý tài nguyên đa phương tiện (Media Resource Function) có thể phân ra thành 2 thành phần: MRFC (Media Resource Function Controller) và MRFP (Media Resource Function Processor). MRFC có vai trò quản lý tài nguyên cho các dòng dữ liệu đa phương tiện trong MRFP (Media Resource Function Processor), giải mã thông điệp đến từ máy chủ ứng dụng AS truyền qua S-CSCF, điều khiển MRFP tương ứng cũng như tham gia vào quá trình tính cước. MRFP đóng vai trò quan trọng trong việc thích ứng nội dụng dịch vụ, chuyển đổi định dạng (transcoding) nội dung.
c) Lớp vận tải:
Ở đây, chúng ta tạm xem NASS và RACS là 2 thành phần thuộc lớp vận tải. Vài trò của 2 thành phần này được miêu tả dưới đây:
  • NASS ( Network Attachment Subsystem): Chức năng chính của NASS bao gồm:
    - Cung cấp một cách linh hoạt địa chỉ IP cũng như các thông số cấu hình khác cho UE (sử dụng DHCP)
    - Xác nhận thực người dùng trước và trong quá trình cấp phát địa chỉ IP
    - Cấp phép cho mạng truy nhập dựa trên hồ sơ mạng
    - Quản lý định vị người dùng
    - Hỗ trợ quá trình di động và roaming của người dùng.
  • RACS (Resource & Admission Control Functionality) bao gồm 2 chức năng chính là: chức năng quyết định chính sách dịch vụ (S-PDF) và chức năng điều khiển chấp nhận kết nối và tài nguyên truy nhập (A-RACF).
  • S-PDF (Serving Policy Decision Function), dưới yêu cầu của các ứng dụng, sẽ tạo ra các quyết định về chính sách (policy) bằng việc sử dụng các luật chính sách và chuyển những quyết định này tới A-RACF. S-DPF cung cấp một cách nhìn trừu tượng về các chức năng truyền tải với nội dung hay các dịch vụ ứng dụng. Bằng cách sử dụng S-DPF, việc xử lý tài nguyên sẽ trở nên độc lập với việc xử lý dịch vụ.
  • A-RACF (Access Resource and admission Control Function) nhận các yêu cầu về tài nguyên QoS từ S-PDF. A-RACF sẽ sử dụng thông tin QoS nhận được từ S-PDF để quyết định chấp nhận hay không chấp nhận kết nối. A-RACF cũng thực hiện chức năng đặt trước tài nguyên và điều khiển các thực thể NAT/Firewall.
  •   http://vienthongkysu.com/mobile/kientruc-ims/

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

Cách tạm thời ẩn hàng, cột trong Excel 2013

Hướng dẫn cách tạm thời ẩn đi và làm xuất hiện trở lại một hoặc nhiều hàng/cột trong bảng tính Microsoft Excel 2013.

>> Gán shortcut cho biểu tượng trong Excel 2013 Cách chèn chữ, logo chìm vào Microsoft Excel 2013 Cách mở nhiều bảng tính cạnh nhau trong Excel 2013 Xác định nhanh vị trí file trong Word 2013
Excel 2013 có tính năng cho phép người dùng tạm thời ẩn đi một hoặc nhiều hàng/cột trong bảng tính Excel. Tính năng này rất hữu ích trong trường hợp bạn chỉ muốn in một phần của bảng tính nhưng không muốn xóa đi những hàng và cột thừa khác.
Lưu ý: Các ô trong những hàng và cột bị ẩn vẫn được bao gồm trong các phép tính toán của bảng.
Ẩn một hoặc nhiều hàng
Chọn những hàng bạn muốn ẩn đi.
Nhấp chuột phải vào một trong các tiêu đề hàng được chọn, chọn “Hide” từ menu (trình đơn) xuất hiện.
Các hàng đã chọn sẽ bị ấn đi, bao gồm cả tiêu đề hàng.
Lưu ý rằng hàng 3 và hàng 4 trong hình dưới đây cùng bị ẩn đi. Tách giữa hàng 2 và 5 (ở vị trí những hàng bị ẩn) là một đường kẻ đậm. Khi bạn thực hiện các thao tác khác trên bảng tính, dòng kẻ đậm này sẽ biến mất. Tuy nhiên, bạn có thể nhận ra vị trí các hàng bị ẩn bằng cách xem tiêu đề hàng nào bị thiếu.
Để làm xuất hiện lại một hàng, bạn phải chọn hàng ở trên và hàng ở dưới các hàng bị ẩn. Trong trường hợp này là hàng 2 và hàng 5. Sau đó, nhấn chuột phải vào tiêu đề các hàng đã chọn, nhấn “Unhide” từ menu xuất hiện.
Các hàng bị ẩn sẽ xuất hiện trở lại và được đánh dấu cùng với các hàng xung quanh.
Ẩn đi một hoặc nhiều cột
Bạn cũng có thể dễ dàng ẩn đi một hoặc nhiều cột. Hãy chọn các cột bạn muốn ẩn, nhấn chuột phải vào một trong các tiêu đề cột, chọn “Hide” từ menu xuất hiện.
Các cột được chọn sẽ bị biến mất cùng với tiêu đề cột. Vị trí cột bị ấn được đánh dấu bằng một đường kẻ đậm.
Để làm xuất hiện lại những cột bị ẩn, giống như với các hàng bị ẩn, chọn các cột ở bên trái và bên phải các cột bị ẩn, nhấn chuột phải vào một trong các tiêu đề cột, chọn “Unhide” từ trình đơn xuất hiện.
Các cột bị ẩn sẽ xuất hiện trở lại và được đánh dấu cùng các cột ở bên trái và bên phải nó.
Phạm Duyên

Ẩn giá trị Zero trong bẳng tính Excel

3 cách ẩn giá trị Zero trong bảng tính Excel


Zero là dữ liệu hoàn toàn hợp lệ và không ảnh hưởng gì đến việc nhập số liệu, đây là những giá trị thường xuất hiện khi bạn lập công thức tính toán nhưng bỏ trống giá trị ở các ô thành phần.

Vì nhiều lý do khác nhau mà không phải lúc nào bạn cũng muốn hiển thị chúng trong một bảng tính excel của mình Khi bạn gặp phải trường hợp này, sẽ có ít nhất 3 cách thực hiện để vô hiệu hóa các giá trị Zero không mong muốn:
1. Cài đặt bảng tính:
Đây là cách đơn giản nhất để ẩn tất cả các giá trị Zere trong bảng số liệu của bạn, đặc biệt là thiết lập này sẽ áp dụng cho toàn bộ bảng tính (Sheet).
Với MS Excel 2007, bạn nhấn vào nút Office Button (góc trên bên trái cửa sổ) và nhấn tiếp nút Excel Options phía dưới, tại cửa sổ hiện ra chọn mục Advanced từ Panel bên trái, sau đó bỏ dấu kiểm trước dòng chữ Show A Zero In Cells That Have Zere Vulue hiển thị trong phần danh mục Display options for this worksheet tại khung bên phái tương ứng. Sau cùng nhấn OK
3 cách ẩn giá trị Zero trong bảng tính Excel - 1
Với MS Excel 2003/XP, từ danh mục Tools bạn hãy chọn Options, duyệt thẻ View và cũng bỏ dấu kiểm truớc dòng chữ Zero Values nằm trong khung Window Options. Nhấn OK.
2. Định dạng kiểu số:
Thiết lập này sẽ giúp bạn ẩn các giá trị Zero cụ thể trong một vùng số liệu nào đó chứ không phải là tất cả bảng tính bằng cách sử dụng một kiểu số đặc biệt (numeric) thay vì kiểu Number.
Trước hết bạn hãy dùng chuột bôi đen vùng bất kỳ trong bảng tính cần ẩn Zero, nhấn chuột phải và chọn Format Cells, tại thẻ Number trong cửa sổ hiện ra bạn chọn mục Custom dưới khung Category. Trong ô Type, hãy nhập giá trị 0;-0;;@ và sau cùng nhấn OK để hoàn tất.
3 cách ẩn giá trị Zero trong bảng tính Excel - 2
3. Định dạng điều kiện:
Ngoài cách sử dụng kiểu Numeric và cài đặt bảng tính đối với ô số liệu dạng công thức, trong trường hợp ngoại lệ khác bạn còn có thể sử dụng một định dạng điều kiện như sau:
Cũng bôi đen các ô số liệu chứa giá trị Zero, nhấn vào tùy chọn Conditional Formatting trong nhóm Styles và chọn tiếp mục New Rule. (với Excel 2003/XP, bạn chọn lệnh Conditional Formatting từ danh mục Format).
Dưới khung Select a Rule Type, nhấn vào dòng chữ Format Only Cells That Contain (Với Excel 2003/XP bỏ qua bước này). Tại ô xổ xuống thứ nhất, bạn chọn Cell Value, ô xổ xuống thứ 2 chọn Equal To, nhập giá trị 0 vào ô trống nằm kế tiếp. Tiếp theo, nhấn nút Format để chọn màu trắng cho phù hợp với màu nền của bảng tính. Sau cùng nhấn OK 2 lần để hoàn tất.
Theo Ngọc Ân (XHTT)

Hướng dẫn bạn thêm Windows Calculator vào thanh công cụ Quick Access trong Excel 2013

Tony - Theo Trí Thức Trẻ | 03/11/2013 - 00:00

(GenK.vn) - Bạn thường dùng Excel và đôi khi bạn phải dùng Windows Calculator (máy tính) ? Bài viết sẽ hướng dẫn cho bạn cách thêm Calculator vào thanh công cụ để bạn không phải mất công chuyển qua lại giữa hai chương trình

Đầu tiên bạn nhấn vào nút mũi tên xuống trên thanh Quick Access và chọn 'More Commands...'
Hướng dẫn bạn thêm Windows Calculator vào thanh công cụ Quick Access trong Excel 2013
 

Tại mục 'Quick Access Toolbar' trong hộp thoại 'Excel Options', bạn chọn 'Commands Not in the Ribbon' như trong hình.
Hướng dẫn bạn thêm Windows Calculator vào thanh công cụ Quick Access trong Excel 2013
 

Tiếp theo bạn kéo danh sách xuống và chọn 'Calculator' rồi nhấn 'Add'.
Hướng dẫn bạn thêm Windows Calculator vào thanh công cụ Quick Access trong Excel 2013
 

Nhấn 'OK' để chấp nhận thay đổi. Tới đây là xong.
Hướng dẫn bạn thêm Windows Calculator vào thanh công cụ Quick Access trong Excel 2013
 

Từ giờ trở đi trên thanh Quick Access của Excel bạn sẽ thấy nút 'Calculator', khi nhấn vào thì giao diện máy tính sẽ hiện ra như trong hình.
Hướng dẫn bạn thêm Windows Calculator vào thanh công cụ Quick Access trong Excel 2013
 

Hy vọng bài viết có ích cho bạn.

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2013

Cách sử dụng chức năng Freeze của Excel

Cách sử dụng chức năng Freeze của Excel để giữ nguyên một số dòng hoặc một số cột đặt biệt trong khi các vẫn cuộn các dòng hoặc cột khác.

Đoạn hội thoại sau sẽ giải quyết giúp bạn một vẫn đề thường gặp khi làm việc với một bảng dữ liệu quá rộng hoặc quá dài khiến bạn luôn phải dùng chức năng cuộn màn hình. Bạn sẽ biết cách để giữ nguyên một số dòng và một số cột quan trọng để bạn có thể luôn nhìn thấy thông tin ở trong những dòng hoặc cột này.
Dòng trên cùng hoặc cột đầu tiên ở phía bên trái của bảng luôn bị ẩn đi mỗi khi tôi cuộn màn hình sang bên phải hoặc xuống phía dưới. Vì vậy tôi rất khó để xác định được chính xác thông tin muốn tra cứu.




Bạn có thể giải quyết vấn đề này bằng cách sử dụng chức năng giữ nguyên dòng hoặc cột “freeze”.

Ví dụ như trong bảng dưới đây bạn có thể giữ nguyên tiêu đề ở dòng đầu tiên và cột A có những thông tin quan trọng giúp xác định thông tin về các số liệu trong bảng biểu.


Tôi có thể làm được điều đó không?

Để giữ nguyên “freeze”một dòng và một cột, trước tiên bạn phải nhấp chuột vào ô nằm ngay dưới dòng muốn giữ và ngay bên phải cột muốn giữ.
Trong bản này, tôi cần nhấp chuột vào ô B2 đúng không? B2 nằm ngay dưới dòng đâu tiên và nằm ngay bên cạnh cột A.




Đúng. Bạn cần chắc chắn là đã chọn B2. Sau đó nhấp chuột vào mục Display, chọn Freeze Panes.



OK. Để tôi cuộn sang phải và cuộn xuống dưới...




Ồ, hàng và cột tiêu đề vẫn cố định và lúc nào tôi cũng có thể dùng để đối chiếu dữ liệu. Thật tiện lợi.



Nếu bạn không muốn giữa nguyên các hàng và cột này nữa, bạn chỉ cần chọn lại mục Display và nhấp chuột vào nút Unfreeze Panes.. 



Ở nhà tôi sử dụng phiên bản Excel 2003. Những tôi cũng muốn sử dụng chức năng này. Bạn có thể hướng tôi cách giữ nguyên hàng và cột trong Excel 2003 được không?

Trong Excel 2003, bạn nhấp chuột vào ô nằm ngay dưới hàng cần giữ nguyên và ngay cạnh cột cần giữ nguyên, nhấp chuột vào mục Windows và sau đó chọn Freeze Panes. Thế là xong.




Nếu bạn không muốn giữ nguyên các dòng và cột này nữa, nhấp chuột vào Windows và chọn Unfreeze panes.

Nguồn bài viết: http://thegioitinhoc.vn/tin-hoc-can-ban/185448-minh-hoi-ve-in-va-cach-keo-du-lieu-trong-excel-2007-a.html#ixzz2jTqnb2RT
Link gốc: http://thegioitinhoc.vn 

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

Chuyển danh bạ sang điện thoại Android mới

5 bước đơn giản để chuyển danh bạ sang điện thoại Android mới

(Dân trí) - Khi đổi điện thoại thì việc chuyển danh bạ liên lạc từ điện thoại cũ sang điện thoại mới thường là việc được ưu tiên trước hết và cũng là công việc khá vất vả với một số người. Rất may là hiện nay với sự giúp đỡ của một tài khoản Google thì việc đồng bộ hóa danh bạ liên lạc trên điện thoại Android sẽ dễ như trở bàn tay.

5 bước đơn giản để chuyển danh bạ sang điện thoại Android mới
Cho dù bạn đang chuyển danh bạ liên lạc từ điện thoại Android cũ sang điện thoại Android mới hoặc từ điện thoại Android sang điện thoại iOS, thì việc này hiện nay được thực hiện rất nhẹ nhàng và chỉ mất một vài phút. Hãy cùng chúng tôi trải qua 5 bước đồng bộ danh bạ cực kỳ đơn giản như sau.
 
Bước 1:  Export (trích xuât) các danh bạ liên lạc trên thiết bị cũ của mình sang file có định dạng vCard hoặc CSV.
5 bước đơn giản để chuyển danh bạ sang điện thoại Android mới
 
Bước 2:  Mở Gmail và import (nhập) danh bạ liên lạc từ file vừa trích xuất vào tài khoản Gmail của bạn.
5 bước đơn giản để chuyển danh bạ sang điện thoại Android mới
Nếu bạn chưa có tài khoản Gmail thì hãy di chuyển đến bước 4 (bạn nên đăng ký một tài khoản Google vì nó sẽ rất có ích trong các tương tác với thiết bị Android sau này).
Bước 3: Thiết lập tài khoản Google của bạn trên điện thoại mới. Danh bạ liên lạc của Gmail sẽ tự động hiện diện và đồng bộ với danh bạ liên lạc của điện thoại mới ngay lập tức.
5 bước đơn giản để chuyển danh bạ sang điện thoại Android mới
 
Bước 4: Nếu bạn không có tài khoản Gmail thì hãy kết nối điện thoại mới của bạn với một laptop hoặc desktop và chuyển file vCard hoặc CSV từ điện thoại cũ sang điện thoại mới. Sau đó hãy import (nhập) file này vào danh bạ của điện thoại mới của bạn như hình bên dưới.
5 bước đơn giản để chuyển danh bạ sang điện thoại Android mới
Bước 5: Nếu bạn muốn chuyển danh bạ liên lạc vào điện thoại iPhone mới, thì bạn chỉ cần đồng bộ điện thoại của mình với tài khoản Google, khi đó danh bạ liên lạc của bạn trên điện thoại sẽ được cập nhật tự động.
H.Nam
H.Nam
Theo Mashable

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

Màn hình Full HD IPS vs AMOLED

LG: Màn hình Full HD IPS hơn hẳn AMOLED

Đã có thời màn hình AMOLED làm mưa làm gió. Mọi người yêu thích chúng bởi những lợi thế mà AMOLED có được so với LCD thông thường: sáng hơn, sống động hơn và bắt mắt hơn. Tuy nhiên, LG không nghĩ vậy. Họ có lý do để chứng minh màn hình Full HD IPS của LG Optimus G Pro hơn hẳn bất kỳ màn hình AMOLED nào.
Galaxy S IV và LG Optimus G Pro
Ngành công nghiệp di động hiện đại luôn thay đổi với tốc độ chóng mặt. Theo LG, màn hình AMOLED có mặt trên nhiều smartphone đỉnh cao - Samsung Galaxy S4, Galaxy S III và Galaxy Nexus - đang dần mất dần vị thế. Trong khi đó, công nghệ IPS LCD đã được phát triển để qua mặt AMOLED ở nhiều khía cạnh. Đó cũng là lý do công nghệ này được áp dụng vào những thiết bị đỉnh cao như LG Optimus G Pro – màn hình 5.5 inch tuyệt đẹp của nó là một ví dụ, bởi...
Màu sắc chính xác
... nhất mà bạn có thể thấy trên một thiết bị di động. Màu sắc trên màn AMOLED có thể gây ấn tượng, nhưng độ tương phản của chúng thường bị đẩy lên quá cao và đánh lừa mắt thường. Ngược lại, màn hình IPS LCD có khả năng tái tạo màu sắc gần giống với thực tế nhất có thể, từ đó tạo nên hình ảnh tự nhiên nhất.
Nói cách khác, công nghệ IPS có khả năng mang lại màu sắc như AMOLED, nhưng chỉ khi bức ảnh mà bạn đang xem yêu cầu điều đó. Hơn nữa, màu sắc trên tấm nền IPS LCD vẫn giữ được độ chính xác khi nhìn nghiêng từ 2 phía. Những màn hình IPS tốt nhất có...
Góc nhìn xuất sắc
... và chỉ tạo ra rất ít hoặc không có sự biến đổi nào về màu sắc khi nhìn nghiêng. Bạn sẽ nhận thấy được ưu điểm khi có thế mạnh này trong tay, ví dụ vào lúc bạn muốn bật một video trên chiếc LG Optimus G Pro cho bạn bè xung quanh mình cùng xem. Với màn hình Full HD IPS tuyệt đẹp của mình, Optimus G Pro cho phép tất cả mọi người đều có thể xem video một cách rõ ràng dù họ đang đứng ở đâu. Trong khi đó, rất nhiều màn hình AMOLED sẽ làm màu sắc chuyển sang tông lạnh. Không chỉ vậy, màn hình IPS còn nổi tiếng bởi...
Độ sáng tốt hơn
... hầu hết các tấm nền AMOLED. Một màn hình tốt phải có độ sáng cao để đánh bại tia mặt trời và có thể sử dụng được dưới trời sáng ban ngày. Đối với màn hình LCD, ánh sáng trắng được phát ra từ đèn nền mạnh mẽ, trong khi đó đối với AMOLED, từng điểm ảnh phải tự tạo ánh sáng chiếu cho mình. Nói đến điểm ảnh, màn hình IPS LCD có...
Độ nét và chi tiết cao hơn
... rất nhiều màn hình AMOLED cùng loại khác. Chúng ta có thể cảm nhận điều này ngay ngoài đời thực mà không cần đến kính hiển vi. Kể cả với cùng một độ phân giải, màn hình IPS LCD luôn đem lại hình ảnh chi tiết hơn AMOLED bởi cách sắp xếp của từng điểm ảnh trên tấm nền. Đó là bởi màn hình IPS sử dụng cách sắp xếp điểm ảnh phụ RGB truyền thống: với mỗi điểm ảnh, có 3 điểm ảnh phụ gồm đỏ, xanh lá và xanh lam. Rất nhiều màn hình AMOLED hiện nay lại sử dụng cách sắp xếp có tên gọi PenTile. Về cơ bản, mỗi điểm ảnh AMOLED chỉ bao gồm 2 điểm ảnh phụ, dẫn đến việc hình ảnh bị mất chi tiết và tạo nên răng cưa khi bạn theo dõi những đường cong và chữ viết được hiển thị.
Như vậy, bạn có thể thấy công nghệ IPS có rất nhiều điểm mạnh so với AMOLED. Màn hình IPS cho hình ảnh nét hơn, sáng rõ hơn và màu sắc lại trung thực hết mức có thể. Vì vậy bạn có thể thấy công nghệ này xuất hiện trên nhiều smartphone Android cao cấp mà ví dụ hoàn hảo là chiếc LG Optimus G Pro. Nếu bạn đang phân vân lựa chọn công nghệ tốt nhất, hãy yên tâm IPS sẽ không làm bạn thất vọng.
Tuy nhiên, trên đây mới là quan điểm của LG. Có lẽ, sau khi LG chính thức so sánh trực tiếp công nghệ màn hình với các đối thủ như Samsung, phía Samsung sẽ có phản đáp lại. Câu chuyện màn hình smartphone xem ra còn nhiều điều hấp dẫn ở phía trước.


Sau khi Apple công bố iPhone 4, cho rằng màn hình trên chiếc điện thoại này là tốt nhất, là chuẩn mực của ngành công nghiệp trong nhiều năm tới và chưa có một đối thủ nào đủ sức "bám đuôi'" thì Samsung đã ngay lập tức phản pháo lại. Nhưng liệu những động thái của 2 công ty này có phản ánh đúng những gì mà chúng ta được thấy, được nghe không? 

Khoan hãy bàn đến vấn đề lời nói của Apple chính xác hay không mà chúng ta hãy cùng điểm lại những gì Steve Jobs đã nói tại WWDC. Đúng với truyền thống khoa trương của Apple, Steve Jobs luôn dùng những mỹ từ đẹp nhất để nói về sản phẩm của mình. Ông cho rằng màn hình của iPhone 4 là tuyệt vời, là cửa sổ đẹp nhất hành tinh, một khi nhìn thấy nó bạn sẽ không thể nào chấp nhận các loại màn hình cũ nữa, màn hình IPS trên iPhone cho màu sắc trung thực hơn, góc nhìn rộng hơn và độ phân giải cao hơn, các đối thủ khác thậm chí còn không nắm được vạt áo của Retina.

Vậy còn phát ngôn viên của Samsung Mobile Display, ông đã nói gì? Theo Samsung, màn hình AMOLED tiết kiệm hơn Retina trên iPhone 4 đến 30% lượng điện năng tiêu thụ trong khi Retina chỉ sắc nét hơn 3-5% mà thôi. Hơn thế nữa, màn hình AMOLED có thể thấy được ở mọi góc nhìn trong khi Retina lại chỉ đạt khoảng 80%. Về cơ bản, Retina hoàn toàn thua kém AMOLED về độ tương phản, khả năng tái tạo màu sắc và thời gian đáp ứng. Màn hình IPS đừng hòng so sánh được với AMOLED. Và dĩ nhiên xét về công nghệ thì màn hình mà Apple dùng trên iPhone 4 không thể nào so với các màn hình OLED hay AMOLED được. Bạn có thể xem thêm bài Tìm hiểu về công nghệ OLED và AMOLED.
[IMG]

Vậy theo bạn, ai là người nói đúng? Samsung đúng hay Apple đúng? Thật ra, cả 2 đều có cái đúng và sai.

Đã từng dùng qua màn hình Super AMOLED trên chiếc điện thoại Samsung i9000, mình rất ấn tượng với khả năng hiện thị của chúng. Cả 2 màn hình này đều rất sắc nét, trong veo và đạt độ sáng rất cao, độ tương phản cũng rất tốt, màu đen là đen thật sự chứ không như màn hình LCD. Tuy nhiên, màu trên màn hình lại có xu hướng hơi xanh quá hay đỏ quá, nói một cách dễ hiểu hơn là màu quá rực rỡ, không đạt độ chính xác cần thiết. 

Màn hình IPS trên iPhone mình chưa có cơ hội dùng nhưng nếu nó chỉ cần được như màn hình mẫu của Hitachi trong bài viết này thì chắc chắn mình sẽ chọn nó là kẻ thắng cuộc. Như anh cuhiep cũng đã đồng ý với mình trong bài viết, đó là chiếc màn hình di động đẹp nhất mà bọn mình từng thấy, tất cả mọi thứ đều gần như hoàn hảo. Và mình hoàn toàn tin tưởng màn hình Retina sẽ đẹp ngang ngửa hoặc hơn thế vì độ phân giải nó cao hơn rất nhiều trong khi kích cỡ lại bé hơn, đẩy mật độ điểm ảnh trên một inch (dpi) lên cao hơn nhiều.

Hơn thế nữa, nếu để ý trong bài nói chuyện của Steve Jobs, ông ta có so sánh Retina với màn hình khác nhưng đó là màn hình OLED chứ không phải là AMOLED. Màn hình OLED có rất nhiều loại khác nhau chứ không chỉ riêng AMOLED mà Samsung đang sản xuất. Câu nói của Steve dịch cho chính xác có nghĩa màn hình IPS cho chất lượng tốt hơn OLED trên những thiết bị kiểu này (điện thoại), mặt khác các nhà sản xuất cũng không thể chế tạo màn hình OLED đạt độ phân giải cao như vậy trong thời điểm này.Jobs cũng nói đó chỉ là ý kiến riêng của ông. Như vậy, chúng ta có thể thấy rõ ràng ông không đề cập gì đến AMOLED của Samsung.

Vậy tại sao phát ngôn viên của Samsung Mobile Display lại lên tiếng? Suy cho cùng thì cũng vì cạnh tranh với nhau cả thôi. Các màn hình IPS của Apple đều do LG Display cung cấp chứ không phải Samsung. Samsung nói Apple thậm chí còn không thèm hỏi Samsung vể việc mua màn hình AMOLED của họ. Tuy nhiên, ông này cũng thừa nhận Samsung không thể cung cấp đủ sản lượng AMOLED nếu được yêu cầu trong thời điểm hiện tại.

Về phần LG Display, phát ngôn viên của công ty này giữ im lặng khi được hỏi về những phát biểu của Samsung. Samsung Mobile Display hiện đang là công ty sản xuất màn hình cho các thiết bị di động lớn nhất thế giới. Trước khi iPhone 4 ra đời, đã có những thông tin về việc Apple từ chối sử dụng màn hình AMOLED vì giá của nó quá cao, lên tới khoảng 30-35$ trong khi màn hình IPS chỉ khoảng 20-25$ mà thôi, đây là thông tin không được kiểm chứng nhưng mình tin nó không khác sự thật nhiều lắm.

Khi iPhone 4 có mặt ở Việt Nam, Tinh Tế sẽ có một bài so sánh về màn hình của nó so với các điện thoại khác, đặc biệt là Super AMOLED trên Wave, nếu may mắn thì có thể gặp cả Galaxy S nữa. Còn trong lúc chờ đợi, mời các bạn cùng thảo luận về quan điểm của 2 công ty, theo bạn màn hình nào đẹp hơn? Cố gắng thảo luận trong hòa bình nhé vì mục tiêu của cả Samsung lẫn Apple khi có những phát biểu trên là để chúng ta nhắc đến họ nhiều hơn mà.

Sự tiến hoá của công nghệ màn hình TV LCD LED

Không phải tất cả các loại TV LCD và LED có mặt trên thị trường sử dụng chung một cấu trúc màn hình. Sự khác biệt khi sử dụng công nghệ TN, VA hay IPS ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hình ảnh.
Trên thị trường hiện nay, phần lớn các TV tầm trung và cao cấp sử dụng loại tấm nền màn hình (Panel) In-Plane Switching (IPS) hoặc Vertical Alighment (VA), trong khi các sản phẩm giá rẻ sử dụng cấu trúc tấm nền Twisted Nematic (TN).
1-1372407334_500x0.jpg
Cùng sử dụng công nghệ LCD LED, nhưng các mẫu TV này cho chất lượng hình ảnh tốt hơn, thể hiện màu sắc sống động hơn, góc nhìn rộng hơn mẫu TV khác. Sự khác biệt trong cấu trúc của tấm nền tinh thể lỏng là yếu tố quyết định khá nhiều đến chất lượng hình ảnh thể hiện trên TV.
Màn hình cấu trúc tinh thể lỏng dạng xoắn - Twisted Nematic (TN)
Đây là cấu trúc màn hình tinh thể xuất hiện đã khá lâu trên thị trường và phổ biến trên các dòng TV tầm thấp. Ưu điểm là giá rẻ nhưng khuyết điểm của loại tấm nền màn hình TN chính là ở góc nhìn rất hẹp. Nếu người dùng không ngồi đối diện thẳng với TV, hình ảnh và màu sắc thấy được trên màn hình sẽ trông bị nhạt đi. Lợi thế duy nhất là công nghệ cho tốc độ phản hồi nhanh nhất nếu so với VA và IPS, tuy nhiên, sự chênh lệch này không thể hiện rõ rệt đối với người dùng.
LCD-1372407334_500x0.jpg
Cấu trúc cơ bản của màn hình LCD.
Để có thể nhận biết ra TV sử dụng cấu trúc tấm nền TN, người dùng có thể tham khảo thông số kỹ thuật của sản phẩm. Phần lớn với loại TV sử dụng cấu trúc màn hình này có thông số góc nhìn khá hẹp.
Màn hình cấu trúc tinh thể lọc xếp dọc - Vertical Alignment (VA)
Xét về góc nhìn, màn hình cấu trúc tấm nền VA tốt hơn nhiều TN. Nó cho phép người xem có thể thưởng thức được hình ảnh với màu sắc tốt ngay cả khi ở vị trí không phải là trung tâm của màn hình TV. Sự cải tiến hơn của VA là Super Pattern Vertical Alignment (gọi tắt S-PVA), được Samsung và Sony ứng dụng nhiều trên TV của họ, cho góc nhìn rộng và thể hiện màu đen sâu hơn.
Sharp cũng phát triển một phiên bản riêng của cấu trúc tấm nền VA và gọi tên là Axially Symetric Vertical Alignment (viết tắt là ASV), và về cơ bản vẫn sử dụng các tinh thể lỏng xếp dọc.
[Caption]
Sự khác biệt về chất lượng hình ảnh và tuổi thọ của IPS và VA nằm ở sự sắp xếp các tinh thể lỏng ngang hay dọc.
Cho góc nhìn rộng hơn và khả năng thể hiện màu đen sâu, nhưng với cấu trúc cơ bản là các tinh thể lỏng được xếp dọc, vuông góc với màn hình nên màn hình VA dễ bị tổn thương hơn, có thể dễ dàng nhận ra khi người dùng gõ vào bề mặt thì màn hình sẽ bị loé sáng lên, khiến hình ảnh đang hiển thị sẽ bị lưu lại trong một thời gian ngắn. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tuổi thọ của loại màn hình tinh thể lỏng dạng VA không dài, và màu sắc có thể bị thay đổi sau một thời gian sử dụng nhất định.
Màn hình cấu trúc tinh thể lỏng chuyển hướng trong mặt phẳng - In-Plane Switching
IPS là cấu trúc tấm nền được phát triển từ LG Display, một công ty sản xuất tấm nền màn hình của LG. Thực tế, trên thị trường hiện nay chia làm 2 nhánh khác nhau của IPS bao gồm S-IPS, phổ biến và xuất hiện nhiều hơn trên các dòng TV LED của LG, Philips cũng như ở các thiết bị cầm tay của Apple như iPhone, iPad hay các loại smartphone khác, được đánh giá cao về màu sắc. Loại còn lại là IPS-alpha, thường thấy trên các dòng TV LED của Panasonic với lợi thế là về độ tương phản và độ sáng cao hơn S-IPS.
[Caption]
IPS cho chất lượng hiển thị tốt nhất nhưng giá thành cao hơn TN.
Với cấu trúc tinh thể lỏng có thể linh hoạt chuyển hướng khi hoạt động, màn hình IPS nói chung cho góc nhìn rộng và khả năng đảm bảo màu sắc tốt nhất, hơn TN và VA. Ngoài ra, cấu trúc tinh thể lỏng trên IPS cũng giúp cho màn hình LED trở nên bền và có tuổi thọ và khả năng giữ màu tốt hơn các loại khác, không gặp phải hiện tượng loé sáng hay cháy hình khi gõ vào. Tốc độ phản hồi của IPS cũng là tốt nhất, nhờ vậy giúp cho hình ảnh chuyển động nhanh luôn rõ ràng.
Tuy vậy, điểm hạn chế của màn hình IPS là khả năng thể hiện độ sâu đen không bằng được VA.
Sự phổ biến của ba cấu trúc màn hình tinh thể lỏng hiện nay
Thương hiệuLoại tấm nền sử dụng phần lớn
LGS-IPS
PanasonicIPS-alpha
PhilipsS-IPS
SamsungS-PVA
SharpASV
SonyS-PVA
ToshibaVA
Nguồn: Cnet
TN chỉ còn xuất hiện hạn chế trên các dòng TV màn hình tinh thể lỏng giá rẻ thì hai công nghệ IPS và VA lại đang có sự ganh đua khá quyết liệt. Cho dù VA được xem là phổ biến hơn khi vẫn được sử dụng ở đa dạng các sản phẩm của Sharp, Samsung, Sony và Toshiba. Nhưng IPS thì đang được đánh giá là loại màn hình có được nhiều tiềm năng chiếm lĩnh thị trường trong tương lai.
Thị trường TV đang chững lại trong một, hai năm gần đây khiến các hãng TV như LG, Philips hay Panasonic có thời gian dịch chuyển sang sử dụng hoàn toàn công nghệ tấm nền IPS trên sản phẩm LED. Hãng TV Hàn Quốc cho biết, hơn 80% TV LED thế hệ mới của hãng bán ra trong năm nay sử dụng màn hình S-IPS, ngoại trừ các model kích thước "lạ" như 26 hay 39 inch.
Với sự cạnh tranh trên, công nghệ màn hình TN được dự báo là sẽ sớm bị xoá sổ chỉ trong một thời gian ngắn nữa khi LCD truyền thống bị thay thế hoàn toàn bởi LED. Thậm chí, trang công nghệ Cnet còn khuyên người dùng nên tránh xa TN nếu như có ý định chọn mua một mẫu TV màn hình rộng cho gia đình.
Ở những dòng sản phẩm màn hình khác như Monitor cho máy tính hay thiết bị cầm tay, công nghệ IPS còn tạo được lợi thế lớn hơn và đang thay thế dần cho cả VA. Theo hãng nghiên cứu thị trường DisplaySearch, sự tăng trưởng nhanh hay muộn của IPS phụ thuộc vào mức độ giảm giá của công nghệ này.
Mỹ Anh