Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

Tòa án Tây Ban Nha lại ra trát bắt Giang Trạch Dân

[Chanhkien.org] Ngày 18-11-2013, Tòa án Tây Ban Nha lại một lần nữa ra trát bắt cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân cùng bốn người khác với tội danh chống lại loài người. Thư khởi tố cũng được đệ trình lên Đại sứ quán Trung Quốc ở Madrid.
Theo Đài Tiếng nói Tây Tạng (Voice of Tibet), tổ chức Tây Tạng ở Tây Ban Nha đã bắt đầu đề xuất tố tụng pháp luật đối với Giang Trạch Dân cùng sáu quan chức khác từ năm 2005, và đã nhiều lần kiện họ tội ác phản nhân loại lên Tòa án Quốc gia Tây Ban Nha. Ngày 10-10-2013, Tòa án Tối cao Tây Ban Nha đã thụ lý vụ án này.
Ông Thubten Wangchen, nghị viên khu vực Châu Âu của Nghị viện Nhân dân Tây Tạng trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng nói Tây Tạng: “Cục thế Tây Tạng đang biến đổi ngày càng nhanh. Nhiều năm qua chúng tôi đã đệ đơn kiện các lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc về tội ác tại Tây Tạng, nhưng lần này mới đạt thành quả. Đây có thể coi là đem sự thật Tây Tạng nói rộng ra khắp thế giới”.
Ông Thubten Wangchen cho biết: “Hiện tại chúng tôi đang trong thời khắc rất quan trọng. Hiểu biết của các bên đối với vấn đề Tây Tạng đang không ngừng tăng cao, đặc biệt hiện nay đang có không ít người Tây Tạng tự thiêu phản đối sự thống trị của Trung Cộng. Đây đều là những bằng chứng sống kêu gọi mọi người chú tâm đến vấn đề Tây Tạng, đồng thời đề xuất tố tụng pháp luật [như lên tòa án Tây Ban Nha]“.
Được biết từ tháng 2 năm 2009, một chuỗi sự kiện người Tây Tạng tự thiêu đã xảy ra ở Trung Quốc, bên trong khu vực sinh sống truyền thống của người Tây Tạng. Tới tháng 10 năm 2013, đã có ít nhất 121 nhà sư, ni cô hoặc nông dân du mục tự thiêu bên trong lãnh thổ Tây Tạng, trong đó ít nhất 103 người tử vong.
SpainistVerdict
Pháp Luân Công truy tố Giang Trạch Dân tội diệt chủng cùng các tội khác
Trung tuần tháng 11 năm 2009, Tòa án Quốc gia Tây Ban Nha từng khởi tố Giang Trạch Dân trong tổng số năm bị cáo khác với tội ác tra tấn và diệt chủng các học viên Pháp Luân Công, theo đó Giang bị coi là người chịu trách nhiệm chính. Tán thành nội dung cáo trạng của bảy nguyên cáo, tòa đã thụ lý khởi tố năm bị can gồm Giang Trạch Dân, La Cán, Bạc Hy Lai, Giả Khánh Lâm, và Ngô Quan Chính, với cáo buộc tội tra tấn, diệt chủng, cùng các tội ác nghiêm trọng khác. Không có bào chữa, tòa sẽ phát lệnh bắt giữ và áp dụng điều ước dẫn độ.
Theo luật sư của nguyên cáo vụ án này: “Dưới sự giới thiệu của luật sư Carlos Iglesias trong Hiệp hội Pháp luật Nhân quyền, ngày 15-10-2003, bảy học viên Pháp Luân Công và người nhà họ đã khởi kiện Giang Trạch Dân, cựu Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lên Tòa án Quốc gia Tây Ban Nha với tội danh ‘dùng cực hình’ và ‘diệt chủng quần thể’ (Giang Trạch Dân đã mất quyền miễn trừ của nguyên thủ từ bảy tháng trước). Ngày 28-11-2007, Tòa án Quốc gia Tây Ban Nha chính thức thụ lý vụ án, đồng thời tuyên bố Giang Trạch Dân và La Cán nhất định phải chịu điều tra của Tòa án Quốc gia Tây Ban Nha về tội ác diệt chủng và tra tấn”.
Sau hai năm điều tra và thu thập chứng cứ của tòa, đến tháng 11 năm 2009, thẩm phán Ismael Moreno của Tòa án Quốc gia Tây Ban Nha mới chính thức đưa ra phán quyết.
Luật sư Carlos Iglesias nói: “Chỉ cần những bị cáo này – bao gồm Giang Trạch Dân, La Cán, Giả Khánh Lâm, Ngô Quan Chính và Bạc Hy Lai – đặt chân lên đất Tây Ban Nha hoặc bất cứ quốc gia nào khác ở Châu Âu, hoặc bất cứ quốc gia nào có hiệp ước dẫn độ với Tây Ban Nha, thì chúng tôi sẽ trực tiếp yêu cầu thẩm phán của nước bạn bắt giữ họ. Quan tòa sẽ ban hành lệnh truy nã quốc tế để bắt những người này về Tây Ban Nha xét xử”.
Sở dĩ Tòa án Quốc gia Tây Ban Nha có thể đưa ra phán quyết này là căn cứ theo một nguyên tắc gọi là “thẩm quyền phổ quát” (universal jurisdiction). Tây Ban Nha là một nước có hệ thống pháp luật rất đặc thù. Theo “Công ước Phòng chống và Trừng phạt Tội Diệt chủng” và “Công ước Chống Tra tấn” đã được ký, Tây Ban Nha không chỉ thừa nhận và tuân thủ hai công ước mang tính quốc tế này, mà còn đưa các hình luật này vào hình pháp của nước nhà. Năm 1985, hệ thống tư pháp Tây Ban Nha tiến thêm một bước nữa, xác nhận bất cứ ai trên thế giới, dù ở bất cứ xó xỉnh nào, nếu phạm phải tội diệt chủng hoặc tra tấn thì đều sẽ bị Tòa án Tây Ban Nha điều tra và xét xử, tức bất chấp người đệ đơn và người bị hại có mang quốc tịch Tây Ban Nha hay không.
Cơ quan tư pháp tối cao của Tây Ban Nha – Tòa Hiến pháp tuyên bố rằng, tội ác chống lại loài người không chỉ ảnh hưởng bản thân người bị hại, mà còn ảnh hưởng cả nhân loại, đặc biệt các tội hành này đang phát sinh ở những nước khó bị trừng phạt; do đó, thẩm quyền vượt biên giới là nhằm mục đích truy xét và trừng phạt những kẻ gây ra tội ác tra tấn và diệt chủng, từ đó bảo vệ chính nghĩa cho nhân loại.
Tòa án Hiến pháp Tây Ban Nha còn đặc biệt nhấn mạnh: “Trung Quốc chưa hề ký hiến pháp quốc tế thông qua Hiệp ước Rome, tuy nhiên thực tế chỉ rõ nhất định phải có sự can thiệp của thể thức tư pháp quốc gia khác mới có thể chấm dứt cuộc diệt chủng này, bởi vì ở trong nước Trung Quốc chưa thể tiến hành điều tra một tội ác xâm phạm nhân quyền nghiêm trọng như vậy”.
Theo tin tức từ trang mạng Minh Huệ, kể từ năm 1999, Giang Trạch Dân đã tự đặt mình trên cả hiến pháp Trung Quốc, thao túng tài nguyên xã hội và bộ máy hành chính của cả một quốc gia để tiến hành chủ nghĩa khủng bố quốc gia, diệt tuyệt quần thể, “bôi nhọ thanh danh, vắt kiệt tài chính, hủy hoại thân thể” đối với Pháp Luân Công, một môn tu luyện khí công ôn hòa. Hàng triệu học viên Pháp Luân Công đã bị bắt giữ phi pháp, lao động cải tạo, kết án phi pháp, cưỡng chế đưa vào bệnh viện tâm thần, bị đánh đập đến chết, khiến gia đình ly tán, lưu lạc khắp nơi; hàng trăm triệu thân thuộc, bạn bè, đồng nghiệp của các học viên Pháp Luân Công cũng phải chịu liên đới, nhân dân toàn Trung Quốc bị “tẩy não” bởi những lời dối trá bịa đặt lan tràn khắp nơi.
Cơ cấu và tổ chức bức hại Pháp Luân Công bao gồm Phòng “610″ các cấp trực tiếp bức hại Pháp Luân Công, Bộ An ninh Quốc gia, Bộ Công an, tòa án, trại lao động, hệ thống bệnh viện, các kênh truyền thông, v.v. Bằng cách dùng bạo lực đàn áp hay ngụy tạo các tin tức giả để vu khống, các cơ quan này đã trực tiếp hoặc gián tiếp bức hại Pháp Luân Công và người thân của họ về cả kinh tế, thân thể lẫn tinh thần.
Hiện nay, Giang Trạch Dân và các hung thủ khác trong cuộc đàn áp như La Cán, Chu Vĩnh Khang, Lưu Kinh, Bạc Hy Lai, v.v. tổng cộng hơn 60 quan chức cấp cao Đảng Cộng sản Trung Quốc đang bị kiện ở Liên Hợp Quốc cũng như trên 30 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm Châu Mỹ, Châu Úc, Châu Âu, Châu Phi, Châu Á với các tội danh “tra tấn”, “diệt chủng”, và “tội ác chống lại loài người”, trong đó mình Giang Trạch Dân bị khởi tố ở ít nhất 21 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Xem thêm:
>> FDI: Tòa án Tây Ban Nha truy tố các lãnh đạo cộng sản cấp cao vì tội tra tấn và diệt chủng Pháp Luân Công
Dịch từ:
http://news.zhengjian.org/node/19570

Vì sao Mỹ phải ‘chào thua’ trước Tổng thống Nga Putin?

NHỊP SỐNG SỐ Công Thành | 23/11/2013 - 08:14Vì sao Mỹ phải ‘chào thua’ trước Tổng thống Nga Putin?
Chùm tin: Tin tuc 24h Tin moi Tin hot
Nhịp sống số Chuyên trang cập nhật những thông tin MỚI NHẤT, NÓNG NHẤT về đời sống công nghệ thông tin 2013 trong và ngoài nước
(Techz.vn) Cơ quan an ninh quốc gia của Mỹ - NSA đã thành công trong việc nghe lén cả Thủ tướng Đức nhưng vẫn thất bại trước ông Putin, lý do vì sao?
Đối với Mỹ, việc nghe lén Tổng thống Nga Putin là quan trọng hơn cả. Trên thực tế, Mỹ mà cụ thể làNSA nhiều lần cố nghe lén ông Vladimir Putin nhưng không thể. Trang Bình luận quân sự nước Nga đã đưa ra lí do giải thích cho sự "bất lực" này của Mỹ.
Vì sao Mỹ phải ‘chào thua’ trước Tổng thống Nga Putin? -image-1385140943495
Cơ quan an ninh quốc gia Mỹ - NSA cũng phải "bó tay" trước Tổng thống Nga
Tất cả các lãnh đạo bị nghe lén đều sử dụng điện thoại thông thường hoặc các hệ thống liên lạc được sản xuất dưới sự cấp phép của các công ty Mỹ và Nhật Bản, và như vậy, các nhà sản xuất Mỹ sẽ dễ dàng cung cấp sản phẩm cho khách hàng. Đây là một ví dụ rất điển hình. Siemens và hàng loạt công ty khác đã cung cấp các thiết bị thông tin liên lạc cho Liên bang Nam Tư cũ. Với những tính năng ưu việt nhất định của các sản phẩm này, các sĩ quan và tướng lĩnh Nam Tư đã cho rằng các công ty tốt nhất phương Tây đã cung cấp các phương tiện liên lạc có thương hiệu, đồng thời tỏ ra có phần coi thường các phương tiện liên lạc do Nga sản xuất.
Tuy nhiên, khi chiến tranh nổ ra, tất cả các thiết bị thông tin đó bị vô hiệu hóa, liên lạc giữa các quân binh chủng bị đình trệ. Lúc này, công nghệ phương Tây đã "phản tác dụng".
Vì sao Mỹ phải ‘chào thua’ trước Tổng thống Nga Putin? -image-1385140927057 
Những cuộc điện đàm của Tổng thống Putin luôn được bảo vệ cẩn thận.
Trong khi đó, người Nga chưa bao giờ đặc biệt tin tưởng vào tính trung thực của các sản phẩm thương mại từ phương Tây, sau lịch sử mất liên lạc của quân đội Nam Tư vẫn còn hiện hữu- không thể tin tưởng bất cứ ai. Tuy nhiên, có thể có người đặt câu hỏi rằng liệu Putin có đơn độc giữa người thuộc cấp của mình? Câu hỏi này không những đặt ra với Putin mà còn đối với những lãnh đạo Xô viết và sau đó là giới lãnh đạo Nga hiện nay. Điều này luôn luôn làm phương Tây quan tâm, còn Putin thì tất nhiên hiểu rất rõ sự tình.
Để thực hiện liên lạc và đảm bảo kênh mã hóa bí mật, nơi nào Tổng thống Putin tới cũng có một máy bay đặc biệt theo sau và chỉ đơn giản làm nhiệm vụ liên tục bay trên không trung để đảm bảo tiếp phát tín hiệu. Có người cho rằng, cách làm này là không thuận tiện và rất cồng kềnh. Đúng là vậy, nhưng những bê bối gần đây của NSAđã là minh chứng rõ ràng cho sự đúng đắn của Putin mà không có ai có thể chối cãi.
Lịch sử ở đây rất đơn giản. Mỹ đã tận dụng những cơ hội do khả năng công nghệ liên lạc di động mang lại. Khi vệ tinh bắt được tín hiệu, Mỹ có thể truy cập và sao chép thông tin từ bất cứ nơi nào trên trái đất, như vậy, việc điều chỉnh nghe lén có thể được thực hiện theo kênh này hay kênh khác từ Trái Đất. Tuy nhiên, các hệ thống của Nga lại không đưa tín hiệu lên quỹ đạo, hoặc ít nhất là không đưa tới các vệ tinh của phương Tây, mà tín hiệu sẽ được truyền đi phía dưới quỹ đạo, qua các máy bay, tàu liên lạc và trong trường hợp cần thiết, còn có cả các vệ tinh, thậm chí còn có hệ thống mật mã đặc biệt của Nga.
Vì sao Mỹ phải ‘chào thua’ trước Tổng thống Nga Putin? -image-1385140866893
Thủ tướng Đức, bà Angela Merkel cũng là nạn nhân nghe lén của Mỹ và NSA
Mỹ luôn đã và đang cố nghe lén một cách bí mật hoặc công khai các cuộc đàm thoại của Tổng thống Nga. Vậy nên thường xảy ra tình trạng ở đâu có máy bay liên lạc của Nga thì xung quanh đó có máy bay tác chiến điện tử của Mỹ. Tuy nhiên, các cuộc điện đàm của Tổng thống luôn được "che giấu" cẩn thận.
Rõ ràng, Nga đang phải sử dụng hệ thống riêng của mình để duy trì khả năng phòng thủ, sự độc lập và bản sắc của mình. Trong khi đó, Mỹ cũng đang sử dụng công nghệ tương tự, tuy nhiên mới đang chỉ sử dụng trên quỹ đạo. Điều đó cho thấy, trong tình hình hiện nay, ý tưởng của Putin không phải chỉ là một sự may mắn mà còn là vấn đề phòng thủ của đất nước - cho cả Tổng thống và người dân Nga.
Nhiều người nghĩ điều này sẽ rất lãng phí, nhưng những kịch bản như tại Nam Tư vẫn cần phải được nhắc nhở lại trong thế giới hiện đại.

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

QoS là gì?

QoS là gì?

QoS (Quality of Service) là khả năng giúp cho việc truyền dữ liệu với thời gian trễ tối thiểu và cung cấp băng thông cho những ứng dụng truyền thông đa phương tiện thời gian thực.

Chức năng QoS trên router Draytek cho phép người dùng điều khiển được sự lưu thông thông qua cổng hay máy chủ. Sự lưu thông xuyên qua router sẽ được phân loại vào trong bốn lớp truyền thông. Mỗi lớp có độ ưu tiên riêng, tỷ lệ băng thông còn lại và người dùng có thể khai báo lớp đầu tiên cho yêu cầu của họ. Ví dụ để độ ưu tiên cao cho một số ứng dụng độ trễ thấp (như duyệt web, download file…) để phần băng thông còn lại sử dụng âm thanh (VoIP) và cứ thế.

Chúng ta sẽ tìm hiểu các ví dụ dưới đây để hiểu rõ hơn về chức năng QoS.

Ví dụ 1: QoS cho HTTP và email.

Jacky đang cần gửi email có kèm theo 1 file rất quan trọng cho khách hàng, trong khi đó Danny đang download game, điều đó cho thấy việc gửi email của Jacky quan trọng hơn và Danny có thể chờ trong thời gian lâu mà không ảnh hưởng đến công việc.

Router DrayTek với tính năng QoS mạnh mẽ sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề trên bằng cách cho phép download game chỉ chiếm 10% băng thông của đường truyền và gửi email chiếm 50% băng thông của đường truyền, ưu tiên cho việc gửi nhận email hơn việc download game.

Để tiến hành cài đặt chúng ta thực hiện các bước sau:

Bước 1: Đăng nhập vào cấu hình của router, vào mục Bandwidth Management >> Quality of Service, check vào mục Enable the QoS Control, chọn Direction "IN" và điền vào Reserved_bandwidth Ratio số phần trăm mà bạn muốn ưu tiên cho dịch vụ đó.



Bước 2: Trên Index 1 nhấn vào nút Basic và Add giao thức HTTP(TCP:80).

Bước 3: Tại Index 1 nhấn vào nút Advance sau đó nhấn vào Edit để tạo rule.

Bạn nhấn vào nút Edit, trong phần Local Address bạn có thể chọn 1 IP hoặc 1 dãy IP (theo ví dụ chúng ta sẽ điền IP của Danny), các thông số khác bạn cứ để mặc định. Sau đó check vào ACT để rule có hiệu lực và nhấn OK.

Bước 4: Tại Index 2 vào Basic và nhấp nút Add giao thức POP3 (TCP:110) và giao thức SMTP (TCP:25).

Bước 5: Tại Index 2 nhấp vào nút Advance sau đó nhấp vào Edit để tạo rule.

Bạn nhấn vào nút Edit, trong phần Local Address bạn có thể chọn 1 IP hoặc 1 dãy IP (theo ví dụ chúng ta sẽ điền IP của Jacky), các thông số khác bạn cứ để mặc định. Sau đó check vào ACT để rule có hiệu lực.

Bước 6: Bây giờ bạn có thể kiểm tra chức năng QoS tại bảng QoS Online Statistics.(Nếu như băng thông của email không đầy thì nó sẽ được chỉ định dành cho băng thông của Others)

Ví dụ 2: QoS VoIP SIP Traffic

Tính năng VoIP (tham khảo bài VoIP) hiện nay được các công ty sử dụng như 1 phần tất yếu vì lý do đơn giản sử dụng, tiết kiệm chi phí, chất lượng cuộc gọi tốt. Vì vậy phải đảm bảo VoIP được ưu tiên trên mọi dịch vụ như email, duyệt web, download… để thiết lập 1 tỉ lệ băng thông cao ưu tiên cho VoIP chúng ta cần làm các bước sau

Bước 1: Đăng nhập vào trang cấu hình của router, vào mục Bandwidth Management >> Quality of Service, check mục Enable the QoS Control, chọn Direction "BOTH" và đánh vào tỷ lệ băng thông mà bạn muốn dành cho VoIP (lấy ví dụ là 70%).

Bước 2: Nhấn vào nút Basic và Add 2 giao thức SIP(UDP:5060) và SIP2 (UDP:5065)

Nhấn OK, sau đó nhấn vào nút Advance và vào Edit để tạo rule

Ở phần Service Type bạn chọn giao thức SIP (UDP:5060)

Sau đó bạn tạo thêm 1 rule nữa và Add giao thức SIP2 (UDP:5065)

*Lưu ý: nếu như router của bạn không có sẳn 2 giao thức SIP(UDP:5060) và SIP2(UDP:5065) thì bạn phải vào cấu hình thêm 2 mục này. Ở phần Service Type nhấn nút Add để thêm vào.

Bước 3: Thêm vào giao thức RTP (real-time transport protocol) là giao thức được dành cho mạng end-to-end chuyển tải những ứng dụng nhạy cảm với thời gian như VoIP, audio, video hoặc sự mô phỏng dữ liệu. Nếu như bạn không tìm thấy giao thức này trong cấu hình QoS Basic, thì bạn vào cấu hình QoS Advance ở phần Service Type bạn nhấn nút Add.

Bước 4: Điền vào Service Name, chọn Service Type và điền vào thông số port range.

*Lưu ý : UDP port 10050 – port 15000 chỉ là port ví dụ dành cho thiết bị Vigor, đối với các thiết bị VoIP khác sẽ có từng RTP port tương ứng.

Bước 5: Bạn vào cấu hình QoS Basic để Add giao thức RTP vào

Bước 6: Bây giờ bạn có thể quan sát trong QoS Online Statistics để thấy sự ưu tiên cho dịch vụ VoIP
Hình ảnh
Ví dụ 3: QoS VPN traffic

Hiện nay tính năng VPN (tham khảo bài viết về VPN) được rất nhiều doanh nghiệp triển khai, vì do tính bảo mật cao, tiết kiệm chi phí, tốc độ truyền dữ liệu tương đối, tiện lợi cho công việc. Chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn thiết lập ưu tiên cho VPN bằng tính năng QoS trên router DrayTek.

Bước 1: Bạn phải kết nối thành công VPN theo kiểu LAN to LAN

.

Bước 2: Cấu hình QoS
- Đăng nhập vào trang cấu hình của router.
- Vào Bandwidth Management >> Quality of Service, Enable chức năng QoS.
- Direction chọn là OUT.
- Bạn có thể chọn số phần trăm cho dịch vụ VPN (chúng tôi lấy ví dụ là 85% băng thông của mạng dành cho VPN).

Bạn vào Advance để Edit rule, bạn nhập Local Address (lớp mạng LAN của bạn) và Remote Address (lớp mạng của mạng LAN bên đầu xa).

Bước 3: Bây giờ bạn có thể vào QoS Online Statistics để kiểm tra (Nếu băng thông dành cho VPN không sử dụng hết thì router sẽ chỉ định băng thông cho các dịch vụ khác – Mục Others).

Sau khi cấu hình chức năng QoS thì các dịch vụ bạn cấu hình sẽ được ưu tiên đối với các dịch vụ khác, tính năng QoS là 1 tính năng cần thiết để ngăn cản sự chiếm băng thông mạng của một số dịch vụ không cần thiết (như download game, download phim ảnh…), đồng thời giúp cho bạn ưu tiên một số dịch vụ cần thiết (như VoIP, VPN, Email…) để hỗ trợ công việc của bạn một cách tối ưu nhất.

Quản lý băng thông chuyên nghiệp, hạn chế băng thông mạng đối với các ứng dụng không cần thiết, ưu tiên các dịch vụ nhạy cảm với thời gian thực (như VoIP, Email…) là những gì mà tính năng QoS mang lại cho bạn.
 http://www.thegioitongdai.com.vn/khuyen-mai/tu-van-lap-dat-tong-dai-dien-thoai/qos-la-gi/99.html

Thế nào là mạng 4G

Thế nào là mạng 4G?

 Thế nào là mạng 4G?
Trong những năm gần đây, ngành công nghệ viễn thông đã chứng kiến những bước phát triển ngoạn ngục. Khi mà công nghệ mạng thông tin di động thế hệ thứ ba 3G chưa có đủ thời gian để khẳng định vị thế của mình trên toàn cầu, người ta đã bắt đầu nói về công nghệ 4G (Fourth Generation) từ một vài năm gần đây. Thế nhưng, nói một cách chính xác thì 4G là gì? Liệu đã có một định nghĩa thống nhất cho thế hệ mạng thông tin di động tương lai 4G hay chưa?
Ngược dòng thời gian…
Trong hơn hai thập kỷ qua, sự phát triển của mạng thông tin di động và Internet đã làm thay đổi lối sống của con người từ cách họ liên lạc với nhau đến cách họ làm việc, vui chơi và giải trí. Mạng thông tin di động thế hệ đầu tiên 1G ra đời vào thập niên 80. Đây là thế hệ mạng thông tin di động dùng tín hiệu tương tự (analog). Tuy thế hệ 1G chứa đựng nhiều khuyết điểm kỹ thuật, song nó đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử truyền thông.
Song, để chứng kiến sự bùng nổ của mạng thông tin di động rộng khắp thế giới thì người ta phải đợi đến thế hệ thứ hai 2G, ra đời từ đầu những năm 90. Mạng 2G có thể phân ra hai loại: mạng 2G dựa trên nền TDMA và mạng 2G dựa trên nền CDMA. Đánh dấu điểm mốc bắt đầu của mạng 2G là sự ra đời của mạng D-AMPS (hay IS-136) dùng TDMA phổ biến ở Mỹ. Tiếp theo là mạng CdmaOne (hay IS-95) dùng CDMA phổ biến ở châu Mỹ và một phần của châu Á, rồi mạng GSM dùng TDMA, ra đời đầu tiên ở Châu Âu và hiện được triển khai rộng khắp thế giới. Sự thành công của mạng 2G là do các dịch vụ và tiện ích mà nó mạng lại cho người dùng, tiêu biểu là chất lượng thoại và khả năng di động.
technology evolution Thế nào là mạng 4G?
Hình 1: Sơ đồ tóm lược quá trình phát triển của mạng thông tin di động tế bào
Tiếp nối thế hệ thứ 2, mạng thông tin di động thế hệ thứ ba 3G đã và đang được triển khai nhiều nơi trên thế giới. Sự cải tiến nổi bật nhất của mạng 3G so với mạng 2G là khả năng cung ứng truyền thông gói tốc độ cao nhằm triển khai các dịch vụ truyền thông đa phương tiện. Mạng 3G bao gồm mạng UMTS sử dụng kỹ thuật WCDMA, mạng CDMA2000 sử dụng kỹ thuật CDMA và mạng TD-SCDMA được phát triển bởi Trung Quốc. Gần đây công nghệ WiMAX cũng được thu nhận vào gia đình 3G bên cạnh các công nghệ nói trên. Tuy nhiên, câu chuyện về sự thành công của mạng 2G rất khó lặp lại với mạng 3G. Một trong những lý do chính là dịch vụ mà 3G mang lại chưa có một bước nhảy rõ rệt so với mạng 2G. Mãi gần đây người ta mới quan tâm tới việc tích hợp MBMS (Multimedia broadcast and multicast service) và IMS (IP multimedia subsystem) để cung ứng các dịch vụ đa phương tiện. Mạng 3G cũng như những cải tiến của nó đã , đang và sẽ tiếp tục được triển khai khắp thế giới. Người ta dự đoán 3G cũng sẽ có một thời gian sống tương tự như mạng 2G trước khi một công nghệ khác (4G) chiếm ưu thế trong khoảng 20 năm nữa.
Khái niệm 4G bắt nguồn từ đâu?
Có nhiều định nghĩa khác nhau về 4G, có định nghĩa theo hướng công nghệ, có định nghĩa theo hướng dịch vụ. Đơn giản nhất, 4G là thế hệ tiếp theo của mạng thông tin di động không dây. 4G là một giải pháp để vượt lên những giới hạn và những điểm yếu của mạng 3G. Trên thực tế, vào giữa năm 2002, 4G là một khung nhận thức để thảo luận những yêu cầu của một mạng băng rộng tốc độ siêu cao trong tương lai, cho phép hội tụ với mạng hữu tuyến cố định. 4G còn là hiện thể của ý tưởng và hy vọng của những nhà nghiên cứu ở các trường đại học, các viện, các công ty như Motorola, Qualcomm, Nokia, Ericsson, Sun, HP, NTT DoCoMo và nhiều công ty viễn thông khác với mong muốn đáp ứng các dịch vụ đa phương tiện mà mạng 3G không thể đáp ứng được.
Theo dòng phát triển…
Ở Nhật, nhà cung cấp mạng NTT DoCoMo định nghĩa 4G bằng khái niệm đa phương tiện di động với khả năng kết nối mọi lúc, mọi nơi, khả năng di động toàn cầu và dịch vụ đặc thù cho từng khách hàng. NTT DoCoMo xem 4G như là một mở rộng của mạng thông tin di động tế bào 3G. Quan điểm này được xem như là một “quan điểm tuyến tính” trong đó mạng 4G sẽ có cấu trúc tế bào được cải tiến, để cung ứng tốc độ lên trên 100Mbit/giây. Với cách nhìn nhận này thì 4G sẽ chính là mạng 3G LTE (Long Term Evolution), UMB (Ultra-Mobile Broadband) hay WiMAX 802.16m.
Bên cạnh đó, mặc dù 4G là thế hệ tiếp theo của 3G nhưng trong tương lai nó không hẳn chỉ là một sự mở rộng của mạng tế bào. 4G hướng đến sự hội tụ của nhiều loại hình mạng đảm bảo cung cấp dịch vụ một cách liên tục, không ngắt quãng. Người dùng trong tương lai sẽ có khả năng kết nối với nhiều loại hình mạng truy nhập vô tuyến khác nhau. Tại một thời điểm, hệ thống sẽ chọn một mạng vô tuyến thích hợp nhất để truyền tải dịch vụ đến người dùng một cách tối ưu.  Quan điểm này được xem như là “quan điểm hội tụ”. Trong đó khái niệm “ABC-Always Best Connected” (luôn được kết nối tốt nhất) là đặc tính hàng đầu của mạng thông tin di động 4G. Định nghĩa này được nhiều công ty viễn thông lớn và nhiều nhà nghiên cứu, nhà tư vấn viễn thông chấp nhận nhất hiện nay.
Dù theo quan điểm nào, tất cả đều kỳ vọng rằng mạng thông tin di động thế hệ thứ tư 4G sẽ nổi lên vào khoảng 2010-2015 như là một mạng vô tuyến băng rộng tốc độ siêu cao.
Thiên về hướng “hội tụ”
Mạng 4G sẽ không phải là một công nghệ tiên tiến vượt bậc, đủ khả năng đáp ứng tất cả các loại hình dịch vụ cho tất cả các đối tượng người dùng. Mặc dù những công nghệ “đình đám” nổi lên gần đây như WiMAX 802.16m, WiBro, UMB, 3G LTE, DVB-H… đã đáp ứng được yêu cầu về tốc độ truyền lớn nhưng chúng chỉ được xem là những công nghệ tiền 4G (pre-4G).
4g convergence Thế nào là mạng 4G?
Hình 2: Sự hội tụ của nhiều công nghệ  tạo nên mạng 4G
Mạng 4G sẽ là một sự hội tụ của nhiều công nghệ mạng hiện có và đang phát triển như 2G, 3G, WiMAX, Wi-Fi, IEEE 802.20, IEEE 802.22, pre-4G, RFID, UWB, vệ tinh…để cung cấp một kết nối vô tuyến theo đúng nghĩa rộng khắp, mọi lúc, mọi nơi, không phụ thuộc vào nhà cung cấp hay thiết bị di động của người dùng. trong tương lai, người dùng sẽ thực sự sống trong một môi trường “kết nối mạng” (connected), nơi mà họ có thể kết nối mạng bất cứ nơi đâu với tốc độ cao, giá thành thấp, dịch vụ chất lượng cao và mang tính đặc thù cho từng cá nhân.
Lấy người dùng làm trung tâm
Hiện tại khi chúng ta mua một kết nối di động, kết nối ấy gắn với một hợp đồng, với các ràng buộc của nhà cung cấp dịch vụ. Người dùng hầu như không có bất cứ sự lựa chọn nào khác ngoài dịch vụ mà nhà cung cấp cung ứng. Mỗi người ít nhất cũng có vài loại hợp đồng khác nhau để sử dụng các loại hình dịch vụ khác nhau: hợp đồng dùng điện thoại di động, hợp đồng dùng điện thoại cố định, hợp đồng dùng Internet, hợp đồng dùng GPS, hợp đồng dùng dịch vụ TV di động….Mọi liên lạc, kết nối của người dùng đều chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà cung cấp dịch vụ (nên còn gọi là “network-centric”).
Trên thực tế, người sử dụng dịch vụ chính là mục đích cuối cùng mà một sản phẩm hay một công nghệ muốn hướng tới. Do vậy, việc cung cấp một mạng chỉ với tốc độ dữ liệu cao liệu đã đủ đề đáp ứng nhu cầu của người dùng chưa, hay 4G cần phải đáp ứng các yêu cầu khác nữa? Nếu chúng ta nắm được những nhu cầu của người sử dụng mà các công nghệ mạng hiện tại chưa đáp ứng được, chúng ta đã cầm trong tay chìa khóa cho sự thành công của 4G! Hãy cùng nhau xem xét một vài tình huống.
Tình huống 1: Trước khi bạn đi ra khỏi nhà để đến nơi làm việc, bạn cần biết những thông tin như giờ tàu/buýt, tình trạng kẹt xe trên đường, cũng như dự báo thời gian cần thiết để đi đến chỗ làm việc. Nếu bạn chọn một phương tiện đi lại, các thông tin về thời gian, thời điểm chuyển đổi phương tiện tiếp theo..sẽ được cập nhật liên tục với thời gian thực. Trong lúc ngồi trên phương tiện công cộng, bạn có thể đọc e-mail, nghe rađio, xem TV, kết nối với intranet của công ty để chuẩn bị tài liệu cho buối họp….
Tình huống 2: Có thể bạn sẽ rất thích nhận được những thông tin shopping, hàng giảm giá, thông tin vui chơi giải trí hấp dẫn khi bạn ngồi ở nhà hay đang trong xe buýt. Tuy nhiên bạn sẽ không thích nhận những thông tin này khi đang trong một cuộc họp. Cũng có bạn lại rất ghét những thông tin kiểu thế này. Do đó, dịch vụ trong tương lai phải tùy theo sở thích, thói quen của từng người dùng. Cũng tương tự ví dụ khi bạn đi du lịch sang một thành phố hay nước nào đó, bạn sẽ rất hài lòng khi nhận được những thông tin hướng dẫn như bản đồ, những địa danh cần tham quan, các món ngon nên thưởng thức… Mỗi khi đến trước một địa điểm tham quan bạn sẽ nhận được thông tin cụ thể về lịch sử, đặc điểm nơi bạn đang tham quan. Và sẽ thật tuyệt nếu các thông tin được cung cấp đến bạn bằng đúng tiếng mẹ đẻ của bạn.
Trên đây chỉ là hai tình huống tiêu biểu mà người dùng trong tương lai chờ đợi. Để làm được điều đó, hệ thống mạng 4G phải đặt người dùng vào vị trí trung tâm (user-centric) và các dịch vụ trong tương lai sẽ phải tính đến sở thích, yêu cầu, địa điểm, tình huống, thuộc tính của từng người sử dụng (nghề nghiệp, tuổi tác, quốc tịch…).
Tóm lược
Mặc dù thuật ngữ 4G vẫn chưa được bất kỳ một tổ chức chuẩn hóa nào định nghĩa một cách rõ ràng, tuy nhiên mạng 4G được kỳ vọng đáp ứng các đặc điểm sau:
  • Đặc tính được kỳ vọng nhất của mạng 4G là cung cấp khả năng kết nối ABC, mọi lúc, mọi nơi. Để thỏa mãn được điều đó, mạng 4G sẽ là mạng hỗn tạp (bao gồm nhiều công nghệ mạng khác nhau), hội tụ với nhau trên nền toàn IP. Thiết bị di động của 4G sẽ mang đặc tính đa công nghệ (multi-technology), đa phương thức (multi-mode) để có thể kết nối với nhiều loại mạng truy nhập khác nhau. Muốn vậy, thiết bị di động sẽ phải sử dụng giải pháp SDR (Software Defined Radio) để có thể tự cấu hình nhiều loại rađio khác nhau thông qua một phần cứng rađio duy nhất.
  • Mạng 4G cung cấp giải pháp chuyển giao liên tục, không vết ngắt (seamless) giữa nhiều công nghệ mạng khác nhau và giữa nhiều thiết bị di động khác nhau.
  •  Mạng 4G cung cấp kết nối băng rộng với tốc độ vào khoảng 100Mbit/giây cho người dùng di động và khoảng 1Gbit/giây cho người dùng cố định hay có tốc độ di chuyển thấp. Dịch vụ trên mạng 4G sẽ được cung cấp trên nền IMS để đảm bảo chất lượng dịch vụ (QoS) cho các dịch vụ đa phương tiện thời gian thực.
  • Để vượt lên khỏi tình trạng bão hòa của thị trường viễn thông, các nhà cung cấp mạng sẽ phải tìm kiếm khách hàng bằng các dịch vụ tùy biến theo yêu cầu của khách hàng.
  • Mạng 4G sẽ lấy người dùng làm tâm điểm.
Tóm lại, mạng 4G là sự hội tụ của nhiều mạng, cung cấp các kết nối tốc độ cao, thích ứng với yêu cầu của người dung tại mọi nơi, mọi lúc.
 http://vienthongkysu.com/mobile/mang_4g/


Chiến tranh giữa các vì sao: WiMAX vs LTE

Cuộc chiến giữa hai công nghệ WiMAX và  LTE (Long Term Evolution)  dường như chưa đến hồi kết thúc. Mỗi một công nghệ có những thế mạnh và những điểm yếu riêng. Chúng đều là hai ứng cử viên sáng giá cho mạng di động thế hệ thứ 4. Trong bài viết này, trước hết quá trình phát triển của hai công nghệ sẽ được tóm lược, kế đó tính cạnh tranh của hai công nghệ này sẽ được lần lượt xem xét ở khía cạnh thuần túy kỹ thuật cũng như khía cạnh chiến lược kinh tế.
Đôi nét về WiMAX
WiMAX là tên thông dụng thường dùng để chỉ công nghệ truy nhập không dây băng rộng sử dụng giao diện của chuẩn IEEE 802.16. Gần đầy WiMAX đã được ITU-R chính thức công nhận là một chuẩn 3G trong họ IMT-2000. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với tương lai của WiMAX vì nó sẽ thúc đẩy sự triển khai rộng khắp của WiMAX, đặc biệt trên băng tần 2.5-2.69GHz, để cung cấp dịch vụ Internet băng rộng, bao hàm cả VoIP và nhiều dịch vụ thông qua kết nối Internet.
Trong họ IEEE 802.16 nổi bật nhất là chuẩn 802.16e-2005 với khả năng đáp ứng cả các ứng dụng cố định cũng như các dịch vụ di động, nên còn được gọi là WiMAX di động. Chuẩn này đã và đang được thử nghiệm ở nhiều nước. Hiện tại, WiMAX di động “Wave 2″ dùng 2 ăng-ten phát và 2 ăng-ten thu đã cho tốc độ tối đa tầm 75Mbps. Bên cạnh đó, nhóm làm việc IEEE 802.16 đang phát triển phiên bản 802.16j trong đó nghiên cứu triển khai các trạm relay (tiếp sức) bên cạnh các trạm phát sóng BS để sử dụng kênh truyền một cách hiệu quả, tăng tốc độ truyền dẫn và mở rộng vùng phủ sóng.
Nhóm IEEE 802.16 cũng đang nghiên cứu phiên bản 802.16m với mục đích đẩy tốc độ dữ liệu của WiMAX lên hơn nữa trong khi vẫn tương thích với WiMAX cố định và di động đã và đang được triển khai. Phiên bản này theo dự kiến sẽ được hoàn thiện vào cuối năm 2009, như là một bước tiến để vượt trội hơn 3G LTE. Phiên bản 802.16m sẽ vẫn dựa trên kỹ thuật ăng-ten MIMO trên nền công nghệ đa truy nhập OFDMA  với số lượng ăngten phát và thu nhiều hơn WiMAX di động « Wave 2 ». 802.16m trang bị 4 ăng-ten phát và 4 ăng-ten thu sẽ có thể đẩy tốc độ truyền lên lớn hơn 350Mbps. Theo dự kiến, WiMAX Release 2 với sự hoàn thiện của 802.16m sẽ hoàn thành vào cuối năm 2009 và có thể bắt đầu triển khai dịch vụ từ 2010 (xem hình 1).
 Chiến tranh giữa các vì sao: WiMAX vs LTE
Hình 1 : Sơ đồ phát triển của công nghệ WiMAX
Nói tới WiMax , người ta có thể nghĩ tới rất nhiều giải pháp thay thế mà công nghệ này có thể mang lại. Đó chính là khả năng thay thế đường xDSL giúp tiếp cận nhanh hơn các đối tượng người dùng băng rộng mà không cần phải đầu tư lớn. Đặc biệt WiMAX rất hữu ích để cung cấp dịch vụ băng thông rộng ở những vùng xa xôi mà giải pháp ADSL hoặc cáp quang là rất tốn kém. Bên cạnh các dịch vụ cố định, WiMAX còn cung ứng các dịch vụ di động giống như những dịch vụ của mạng 3G : thoại VoIP, internet di động, TV di động…. Trong năm tới 2008, các thiết bị di động mà hiện nay được tích hợp WiFi sẽ được tích hợp WiMAX. Đối với các thiết bị cũ sẽ cần phải trang bị thêm thẻ PCMCIA WiMAX, hoặc usb WiMAX để có thể kết nối băng rộng của WiMAX.
Đôi nét về 3G LTE
3G LTE  là một công nghệ di động mới đang được phát triển và chuẩn hóa bởi 3GPP (The Third Generation Partnership Project). Dự án được bắt đầu từ cuối năm 2004, nhằm đảm bảo tính cạnh tranh của mạng 3G trong vòng 10 năm tới. Mặc dù 3GPP đã phát triển HSPA để tăng tốc độ dữ liệu (tốc độ tối đa  có thể là 14.4 Mbps), nhưng 3G HSPA vẫn không thể cung cấp tốt những dịch vụ như video, TV di động…. Đứng trước sự ra đời và cạnh tranh của WiMAX cũng như nhu cầu cung cấp dịch vụ băng thông rộng ngày càng cao, 3GPP buộc phải phát triển 3G LTE để có thể đứng vững.
3G LTE hứa hẹn sẽ cho tốc độ dữ liệu truyền trên kênh xuống (downlink) lớn hơn 100 Mbps và trên kênh lên (uplink) lớn hơn 50 Mbps. Giống như WiMAX, 3G LTE dựa trên nền gói IP do đó sẽ không còn chuyển mạch kênh như trong các thế hệ 2G, 3G hiện tại. Kiến trúc mạng của 3G LTE sẽ đơn giản hơn so với mạng 3G hiện thời. Tuy nhiên mạng 3G LTE vẫn có thể tích hợp một cách dễ dàng với mạng 3G và 2G. Điều này hết sức quan trọng cho nhà cung cấp mạng triển khai 3G LTE mà không cần thay đổi toàn bộ cơ sở hạ tầng mạng đã có. 3G LTE sử dụng công nghệ đa truy cập OFDMA cho kênh xuống và SC-FDMA cho kênh lên và nó vẫn dựa trên công nghệ ăng-ten MIMO để đạt tốc độ truyền dự liệu cao như mong muốn.
Những thử nghiệm gần đây đã cho thấy rằng đối thủ của công nghệ di động WiMAX – 3G LTE đạt được những kết quả khả quan như dự kiến. Cho dù được ra đời muộn hơn rất nhiều so với WiMAX, nhưng với những kết quả bước đầu mang tính hứa hẹn công nghệ LTE mới này vẫn có tính cạnh tranh cao trong tương lai. Gần đây trong dịp triễn lãm di động châu Á  (Mobile Asia Congress), hiệp hội GSM (GSM Association – GSMA), hiệp hội của nhiều nhà cung cấp mạng trên thế giới, cho biết sẽ chọn công nghệ LTE như là một chuẩn di động tương lai, công nghệ tiếp nối của HSPA. Thông báo này đã đẩy LTE tiến một bước trên cuộc cạnh tranh giữa LTE với WiMAX và cả công nghệ UMB (Ultra Mobile Broadband) của Qualcom.  GSMA ủng hộ các công ty và các tổ chức đang phát triển công nghệ LTE. Tuy nhiên việc chuẩn hóa công nghệ LTE  theo dự kiến thì chưa thể kết thúc trước 2010.
So sánh công nghệ kỹ thuật dùng trong WiMAX và 3G LTE
 Chiến tranh giữa các vì sao: WiMAX vs LTE
Bảng 1 : So sánh các đặc điểm nổi bật của WiMAX và 3G LTE
Hiện tại WiMAX di động Rel 1 (802.16e) đã có đủ sức cạnh tranh về mặt công nghệ so với 3G LTE. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ trên bảng so sánh thì ta thấy công nghệ 3G LTE vẫn vượt hơn 802.16e về cả tính năng di động và tốc độ truyền dự liệu. Song, đổi với những nhà phát triển WiMAX thì họ không chấp nhận so sánh 3G LTE với 802.16e mà phải là 802.16m (cột thứ 3 trên bảng 1).  Nhìn vào đây ta thấy WiMAX di động Rel 2 hứa hẹn những tính năng vượt trội so với 3G LTE.
Ngày nay tất cả đều đóng ý với nhau rằng để đạt được tốc độ dữ liệu cao chỉ có thể nhờ vào công nghệ ăngten MIMO và kỹ thuật đa truy cập OFDMA. 3G LTE ra đời muộn hơn WiMAX và nó cũng không thể nào không dùng MIMO và OFDMA. Do vậy, nếu xét trình bình diện kỹ thuật truyền thông không dây (wireless communication) thì 3G LTE không có bất cứ một kỹ nghệ cơ bản nào vượt trội so với WiMAX di động. Nếu nhìn lại bảng so sánh ở trên sẽ thấy điểm khác nhau nổi bật là 3G LTE sử dụng kỹ thuật đa truy nhập SC-FDMA cho đường lên thay vì OFDMA như trong WiMAX.
Song, theo nhiều chuyên gia thì sự khác biệt này lại là một điểm yếu của 3G LTE. Thực tế SC-FDMA cho phép cải tiến PAR (Peak-to-Average power Ratio) tầm 2dB ở máy phát. Tuy nhiên nó lại gây mất tầm 2-3dB về hiệu suất (performance) truyền thông trên kênh truyền nhiễu fading ở đầu máy thu. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy SC-FDMA thực tế cho một hiệu suất trên kênh lên thấp hơn so với OFDMA.
Nhìn chung về mặt kỹ thuật, hai công nghệ WiMAX và 3G LTE dường như ngang tài ngang sức với nhau. Song, công nghệ mạnh nhất, vượt trội nhất đôi khi không phải là công nghệ giành chiến thắng mà một công nghệ thành công là một công nghệ phù hợp nhất, hòa hợp nhất. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét các khía cạnh khác liên quan đến sự cạnh tranh của WiMAX và 3G LTE trên đường tiến tới mạng di động thế hệ thứ 4.
Cạnh tranh giữa WiMAX và 3G LTE
WiMAX là một khao khát gia nhập vào thị trường thông tin di động của cộng đồng « công nghệ thông tin ». WiMAX là thuật ngữ được bắt đầu nhắc đến từ những năm 2000, với mục đích ban đầu chỉ hướng đến thị trường Internet băng rộng ở các vùng hẻo lánh. Tiếp theo, WiMAX hướng đến cung cấp giải pháp Internet băng rộng di động. Kể từ đó, nó được xem như là một đối thủ cạnh tranh của mạng thông tin di động 3G và bây giờ là 3G LTE.  Nếu đặt WiMAX vào vị trí cạnh tranh với mạng thông tin di động, biết rằng mạng thông tin di động ngày nay có khoảng hơn 2,6 tỉ thuê bao trên thế giới, rõ ràng WiMAX gặp nhiều khó khăn để tìm kiếm thị phần của mình.
Lợi điểm của WiMAX so với 3G LTE là WiMAX đã sẵn sàng để được triển khai dịch vụ rộng khắp : thiết bị mạng WiMAX  đã hoàn thiện, thiết bị đầu cuối WiMAX sẽ có mặt trong năm tới trong khi đó 3G LTE phải đợi thêm vài năm nữa. WiMAX vừa cung cấp giải pháp cố định vừa cung cấp giải pháp di động băng rộng với chi phí triển khai thấp hơn so với triển khai một mạng 3G/3G LTE hoàn toàn mới. Do vậy, WiMAX thực sự gây được chú ý của các nước đang phát triển mà ở đó mạng 3G chưa có, mạng Internet tốc độ cao bằng cáp xDSL chưa rộng khắp.
So với WiMAX, 3G LTE đã có một công nghệ đi trước là 2G, 3G với số lượng thuê bao đã có sẵn. Đây là một lợi thế lớn để triển khai 3G LTE. Đặc biệt các thiết bị di động 3G LTE sẽ tương thích với các mạng thông tin di động thế hệ trước, do vậy người dùng sẽ có thể chuyển giao dễ dàng giữa mạng 3G LTE với các mạng 2G GSM/GPRS/EDGE và 3G UMTS đã tồn tại. Điều này cho phép những nhà cung cấp mạng 3G LTE có thể triển khai mạng dần dần cũng giống hệt khi họ nâng cấp mạng 2G lên 3G.
Trong khi đó WiMAX phải triển khai mạng từ con số không. Do WiMAX không tương thích với các chuẩn di động không dây trước đó nên việc thiết bị đầu cuối WiMAX có được tích hợp với chip 2G/3G hay không vẫn còn là một câu hỏi mở.  Nó hoàn toàn không phải là một câu hỏi về kỹ thuật mà là một vấn đề mang tính chiến lược. Nó tùy thuộc vào tác nhân nào sẽ triển khai mạng WiMAX trong tương lai : nhà cung cấp mạng thông tin di động 2G/3G hiện tại hay một nhà cung cấp mạng WiMAX hoàn toàn mới. Nếu là một nhà cung cấp mạng 2G/3G thì chắc chắn họ sẽ triển khai 3G LTE nếu như WiMAX không mang lại lợi ích nào đặt biệt vượt trội so với 3G LTE. Nếu nhà cung cấp chỉ có mạng 2G/2.5G, họ cũng có thể chọn lựa WiMAX như một sự nhảy cốc lên « gần » 4G thay vì đi lên 3G/3.5G rồi 3G LTE.
Như đã phân tích ở trên, việc triển khai 3G LTE từ mạng 3G, 3.5G có sẵn là một con đường dễ dàng. Làm như vậy các nhà cung cấp mạng có thể triển khai 3G LTE dần dần không cần thiết phải đảm bảo một vùng phủ rộng kín. Bên cạnh nhà cung cấp mạng vẫn tận dụng được mạng lõi 3G đã có, tận dụng hệ thống quản lý thuê bao và tính cước có sẵn. Từ này đến khi 3G LTE hoàn thiện và được vào sử dụng, 3.5G có đủ khả năng để đáp ứng nhu cầu dịch vụ băng rộng trước khi WiMAX thực sự chiếm được một thị phần quan trọng. Và thực tế có thể nhận thấy là các nhà cung cấp mạng 3G/3.5G họ không hề vội vàng trong việc tiến đến 3G LTE. Về khía cạnh kinh tế họ sẽ không triển khai 3G LTE trước khi thu lại được vốn và lãi từ việc nâng cấp lên 3G.
Kết luận
Dẫu rằng mỗi người có những nhận định khác nhau, những cái nhìn khác nhau về tính cạnh tranh của hai công nghệ này. Có một điều thống nhất là hai công nghệ này đã thu hút được một sự quan tâm lớn, tạo được một bước nhảy trong công nghệ thông tin di động không dây. Điểm yếu của WiMAX là nó không có tính kế thừa từ các hệ thống mạng có sẵn như 3G LTE đôi khi lại trở thành một điểm mạnh vì nó cho phép nhiều tác nhân mới thâm nhập vào thị trường thông tin di động. Sự thâm nhập này sẽ làm tăng tính cạnh tranh, tăng chất lượng dịch vụ và giảm giá cước viễn thông cho người dùng.
Cạnh tranh không phải bao giờ cũng là một giải pháp tốt nhất. Tại sao không nghĩ đến một sự kết hợp giữa WiMAX và 3G LTE để cùng nhau mang đến những dịch vụ tốt nhất cho người dùng ?

Mạng LTE (4G)

 

Tổng quan về công nghệ mạng không dây

I. Dẫn nhập
Trong gần 10 năm qua mạng vô tuyến (không dây) đã phát triển với tốc độ chóng mặt. Có rất nhiều loại hình mạng, nhiều công nghệ, nhiều chuẩn vô tuyến đã và đang được chuẩn hóa. Liệu các bạn có biết hết về sự tồn tại của các công nghệ mạng không dây hiện nay? Làm thế nào để phân biệt giữa chúng? Và đâu là sự khác biệt đấy?
Công nghệ mạng không dây là hầu như gần gũi nhất với nhiều người đó là công nghệ mạng thông tin di động tế bào. Đấy chính là mạng điện thoại di động 2G/3G/…. Tên thông dụng mà mọi người hay gọi là mạng GSM/CDMA hay UMTS/WCDMA/CDMA2000… Bên cạnh chắc hẳn các bạn cũng biết mạng cục bộ không dây WLAN sử dụng công nghệ Wifi 802.11. Có thể các bạn cũng nghe nói về các chuẩn khác nhau của Wifi a/b/g/i/k/m… Và chắc hẳn những “chú dế” thân yêu của các bạn cũng được trang bị công nghệ Bluetooth để truyền tải thông tin giữa các điện thoại di động hay giữa điện thoại và máy tính của bạn. Trên đây tôi vừa chỉ kể ra 3 công nghệ gần gũi nhất.
Nếu các bạn theo dõi sự phát triển của công nghệ di động chắc hẳn sẽ nghe nói đến công nghệ WiMAX. Nếu tìm hiểu thêm một tí bạn sẽ nghe nói đến WiMAX cố định và WiMAX di động và rằng WiMAX đã và đang được thử nghiệm tại Việt Nam (cụ thể ở Lào Cai, Hà nội,…).
Bên cạnh đó các công nghệ kể trên, các bạn có biết gì về công nghệ siêu băng rộng UWB (hứa hẹn sẽ thay thế Bluetooth) hay Wibree ? Các bạn có nghe nói về IEEE 802.20, IEEE 802.22…? Trong bài viết này tôi sẽ cố gắng trình bày với các bạn một cái nhìn tổng quan về các công nghệ mạng vô tuyến đã và đang được phát triển.
II. Phân loại mạng vô tuyến
Một cách truyền thống để phân loại các công nghệ mạng vô tuyến là dựa vào vùng phủ sóng của một trạm phát sóng. Các bạn xem hình dưới đây:
classification Tổng quan về công nghệ mạng không dâyHình 1: Phân loại mạng vô tuyến
Dựa vào hình trên ta có thể phân mạng vô tuyến thành các nhóm sau:
- WPAN : mạng vô tuyến cá nhân. Nhóm này bao gồm các công nghệ vô tuyến có vùng phủ nhỏ tầm vài mét đến hàng chục mét tối đa. Các công nghệ này phục vụ mục đích nối kết các thiết bị ngoại vi như máy in, bàn phím, chuột, đĩa cứng, khóa USB, đồng hồ,…với điện thoại di động, máy tính. Các công nghệ trong nhóm này bao gồm: Bluetooth, Wibree, ZigBee, UWB, Wireless USB, EnOcean,… Đa phần các công nghệ này được chuẩn hóa bởi IEEE, cụ thể là nhóm làm việc (Working Group) 802.15. Do vậy các chuẩn còn được biết đến với tên như IEEE 802.15.4 hay IEEE 802.15.3 …
- WLAN : mạng vô tuyến cục bộ. Nhóm này bao gồm các công nghệ có vùng phủ tầm vài trăm mét. Nổi bật là công nghệ Wifi với nhiều chuẩn mở rộng khác nhau thuộc gia đình 802.11 a/b/g/h/i/… Công nghệ Wifi đã gặt hái được những thành công to lớn trong những năm qua. Bên cạnh WiFi thì còn một cái tên ít nghe đến là HiperLAN và HiperLAN2, đối thủ cạnh tranh của Wifi được chuẩn hóa bởi ETSI.
- WMAN: mạng vô tuyến đô thị. Đại diện tiêu biểu của nhóm này chính là WiMAX. Ngoài ra còn có công nghệ băng rộng BWMA 802.20. Vùng phủ sóng của nó sẽ tằm vài km (tầm 4-5km tối đa).
-WAN : Mạng vô tuyến diện rộng: Nhóm này bao gồm các công nghệ mạng thông tin di động như UMTS/GSM/CDMA2000… Vùng phủ của nó cũng tầm vài km đến tầm chục km.
- WRAN: Mạng vô tuyến khu vực. Nhóm này đại diện là công nghệ 802.22 đang được nghiên cứu và phát triển bởi IEEE. Vùng phủ có nó sẽ lên tầm 40-100km. Mục đích là mang công nghệ truyền thông đến các vùng xa xôi hẻo lánh, khó triển khai các công nghệ khác. Nó sẽ sử dụng băng tần mà TV analog không dùng để đạt được vùng phủ rộng.
III. Sự phát triển của mạng thông tin di động tế bào.
Để bắt đầu, mình xin trích dẫn một đoạn sau:
“In telecommunications, just like any other field of human endeavor, fashions come and fashions go. No sooner is one technology safely out of the laboratory than attention turns to the next new innovation. Over the last few years, 4G has been slowly taking shape as the next big development in wireless communications. (Alun Lewis, Independent telecommunications writer and consultant)”.
Trong hơn 25 năm qua, sự phát triển của Internet cũng như các công nghệ không dây đã có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của con người trên toàn thế giới. Hai nhân tố này đã làm thay đổi cách con người liên lạc với nhau, cách họ làm việc, cách họ hưởng thụ cuộc sống thông qua các loại hình giải trí mới.
Với sự ra đời của mạng thông tin di động tế bào, chúng ta đã chứng kiến sự tăng vọt về nhu cầu dịch vụ không dây & di động. Chúng ta đã và đang chứng kiến sự phát triển đến chóng mặt của mạng không dây : năm 2002 đánh dấu thời điểm lịch sử của mạng viễn thông với số thuê bao di động vượt số thuê bao cố định. Theo ITU, tháng 9 năm 2005, số thuê bao di động trên thế giới đã vượt con số 2 tỷ. Theo thống kê của GSA (Global mobile Suppliers Association) gần đây, con số này đã vượt 3 tỷ. Tuy nhiên, lịch sử của mạng tế bào còn rất ngắn ngủi. Nó mới trải qua 3 thế hệ và ở nhiều quốc gia nó vẫn còn đang ở thế hệ thứ 2.
Trong mạng thông tin di động tế bào, mỗi một thập kỷ chứng kiến một thế hệ mạng mới. Thế hệ đầu tiên (1G) khởi đầu từ những năm 80s. Đó là thế hệ điện thoại di động analog. Thế hệ thứ 2G bắt đầu nổi lên từ nhưng năm đầu của thập kỷ 90. Thế hệ thứ 2G là công nghệ di động kỹ thuật số, cung cấp dịch vụ voice và cả data. Thế hệ thứ 3 bắt đầu từ năm 2001 ở Nhật, đặc trưng bởi dịch vụ thoại, dữ liệu và đa phương tiện với tốc độ cao. Hệ thống tiền-4G, những viên đá tảng cho thế hệ thứ 4G, hy vọng sẽ được thương mại hóa vào khoảng đầu năm 2010. Một thế hệ 4G sẽ cất cánh vào những năm 2012. Con đường phát triển của các công nghệ mạng tế bào được thể hiện ở hình dưới đây.
technology evolution Tổng quan về công nghệ mạng không dây
Thế hệ thứ 1 (1G): Mạng di động thế hệ thứ nhất khơi mào ở Nhật vào năm 1979. Đây là hệ thống truyền tín hiệu tương tự (analog). Những công nghệ chính thuộc thế hệ thứ nhất này có thể kể đến là AMPS (Advanced Mobile Phone System), TACS ( Total Access Communication System), JTACS ( Japan TACS), NMT (Nordic Mobile Telephone). Tuy chưa hoàn hảo về mặt công nghệ và kỹ thuật, thế hệ thông tin di động 1G này thực sự là một mốc phát triển quan trọng của ngành viễn thông (khái niệm di động (mobile) đã bắt đầu đi vào phục vụ nhu cầu liên lạc của con người trong đời sống hằng ngày). Những điểm yếu nổi bật của thế hệ 1G liên quan đến chất lượng truyền tin kém, vấn đề bảo mật và việc sử dụng kém hiệu quả tài nguyên tần số.
Thế hệ thứ 2 (2G): Hệ thống mạng 2G được đặc trưng bởi công nghệ chuyển mạch kỹ thuật số (digital circuit-switched). Kỹ thuật này cho phép sử dụng tài nguyên băng tần hiệu quả hơn nhiều so với 1G. Hầu hết các thuê bao di động trên thế giới hiện đang dùng công nghệ 2G này. Công nghệ 2G sẽ còn tồn tại thêm một thời gian dài nữa trước khi 3G thay thế hoàn toàn nó. Những chuẩn di động 2G chính bao gồm GSM (Global System for Mobile Communication), IS-136 và CdmaOne.
- GSM sử dụng kỹ thuật đa truy cập TDMA và song công FDD. GSM đã trở thành công nghệ truyền thông có tốc độ phát triển nhanh nhất từ trước đến nay và là một chuẩn di động được triển khai rộng rãi trên thế giới.
- IS-136, được biết đến với tên D-AMPS (Digital-AMPS), sử dụng kỹ thuật đa truy cập TDMA và song công TDD. Công nghệ này được triển khai nhiều ở Châu Mĩ, đặc biệt là ở Mỹ và Canada. IS-136 được triển khai như một mạng overlay kỹ thuật số, phủ trên nền hạ tầng mạng AMPS. IS-136 cho tốc độ dữ liệu lên đến 30Kbps.
- CdmaOne là tên gọi của chuẩn di động ITU IS-95 sử dụng kỹ thuật đa truy cập CDMA. CDMA được chuẩn hoá năm 1993. Ngày nay, có 2 phiên bản IS-95, gọi là IS-95A và IS-95B. IS-95A dùng FDD với độ rộng kênh là 1,25MHz cho mỗi hướng lên và xuống. Tốc độ dữ liệu tối đa của IS-95A là 14,4 Kbps. IS-95B có thể cung ứng tốc độ dự liệu lên đến 115Kbps bằng cách gộp 8 kênh lại với nhau. Với tốc độ này, IS-95B còn được phân loại như là công nghệ 2,5G.
Thế hệ 2,5G: Thế hệ 2,5G đặc trưng bởi dịch vụ dự liệu tốc độ cải tiến. Chuẩn chính của thế hệ này là GPRS, EDGE và IS-95B. GPRS là một bước phát triển tiếp theo để cung cấp dịch vụ dự liệu tốc độ cao cho người dùng GSM và IS-136. Lý thuyết mà nói thì GPRS có thể cung ứng tốc độ dự liệu lên đến 172,2 Kbps. GPRS là một giải pháp chuyển mạch gói. Đây cũng là một bước đệm trong quá trình chuyển từ thế hệ 2G lên 3G của các nhà cung cấp dịch vụ GSM/IS-136. Trên con đường dài đi đến 3G, EDGE đã ra đời để cải tiến tốc độ dữ liệu hơn nữa (tốc độ tối đa tầm 384Kbps). EDGE đôi khi còn được trích dẫn như công nghệ 2,75G.
Thế hệ di động thứ 3 (3G): Mạng 3G đặc trưng bởi tốc độ dự liệu cao, capacity của hệ thống lớn, tăng hiệu quả sử dụng phổ tần và nhiều cải tiến khác. Có một loạt các chuẩn công nghệ di động 3G, tất cả đều dựa trên CDMA, bao gồm: UMTS (dùng cả FDD lẫn TDD), CDMA2000 và TD-SCDMA.
- UMTS (đôi khi còn được gọi là 3GSM) sử dụng kỹ thuật đa truy cập WCDMA. UMTS được chuẩn hoá bởi 3GPP. UMTS là công nghệ 3G được lựa chọn bởi hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ GSM/GPRS để đi lên 3G. Tốc độ dữ liệu tối đa là 1920Kbps (gần 2Mbps). Nhưng trong thực tế tốc độ này chỉ tầm 384Kbps thôi. Để cải tiến tốc độ dữ liệu của 3G, hai kỹ thuật HSDPA và HSUPA đã được đề nghị. Khi cả 2 kỹ thuật này được triển khai, người ta gọi chung là HSPA. HSPA thường được biết đến như là công nghệ 3,5G.
  • HSDPA: Tăng tốc độ downlink (đường xuống, từ NodeB về người dùng di động). Tốc độ tối đa lý thuyết là 14,4Mbps, nhưng trong thực tế nó chỉ đạt tầm 1,8Mbps (hoặc tốt lắm là 3,6Mbps). Theo một báo cáo của GSA tháng 7 năm 2008, 207 mạng HSDPA đã và đang bắt đầu triển khai, trong đó 207 đã thương mại hoá ở 89 nước trên thế giới.
  • HSUPA: tăng tốc độ uplink (đường lên) và cải tiến QoS. Kỹ thuật này cho phép người dùng upload thông tin với tốc độ lên đến 5,8Mbps (lý thuyết). Cũng trong cùng báo cáo trên của GSA, 51 nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động đã triển khai mạng HSUPA ở 35 nước và 17 nhà cung cấp mạng lên kế hoạch triển khai mạng HSUPA.
CDMA2000 là người “nối giỏi” của 2G CdmaOne, đại diện cho họ công nghệ bao gồm CDMA2000 1xRTT (Radio Transmission Technology), CDMA2000 EV-DO (Evolution -Data Optimized) và CDMA2000 EV-DV(Evolution -Data and Voice). CDMA2000 được chuẩn hoá bởi 3GPP2. Lẽ thường tình thì CDMA2000 là công nghệ 3G được lựa chọn bởi các nhà cung cấp mạng CdmaOne.
  • CDMA2000 1xRTT: chính thức được công nhận như là một công nghệ 3G, tuy nhiên nhiều người xem nó như là một công nghệ 2,75G đúng hơn là 3G. Tốc độ của 1xRTT có thể đạt đến 307Kbps, song hầu hết các mạng đã triển khai chỉ giới hạn tốc độ peak ở 144Kbps.
  • CDMA2000 EV-DO: sử dụng một kênh dữ liệu 1,25MHz chuyên biệt và có thể cho tốc độ dữ liệu đến 2,4Mbps cho đường xuống và 153Kbps cho đường lên. 1xEV-DO Rev A hỗ trợ truyền thông gói IP, tăng tốc độ đường xuống đến 3,1Mbps và đặc biệt có thể đẩy tốc độ đường lên đến 1,2Mbps. Bên cạnh đó, 1xEV-DO Rev B cho phép nhà cung cấp mạng gộp đến 15 kênh 1,25MHz lại để truyền dữ liệu với tốc độ 73,5Mbps. Theo một báo cáo trên
    www.cdg.org site, 3G CDMA2000 EV-DO đã vượt con số 83 triệu thuê bao vào tháng 9 năm 2007 (chắc gần đây đã có báo cáo mới, song mình cũng chưa kiểm tra lại nữa).
  • CDMA2000 EV-DV: tích hợp thoại và dữ liệu trên cùng một kênh 1,25MHz. CDMA2000 EV-DV cung cấp tốc độ peak đến 4,8Mbps cho đường xuống và đến 307Kbps cho đường lên. Tuy nhiên từ năm 2005, Qualcomm đã dừng vô thời hạn việc phát triển của 1xEV-DV vì đa phần các nhà cung cấp mạng CDMA như Verizon Wireless và Sprint đã chọn EV-DO.
TD-SCDMA là chuẩn di động được đề nghị bởi “China Communications Standards Association” và được ITU duyệt vào năm 1999. Đây là chuẩn 3G của Trung Quốc. TD-SCDMA dùng song công TDD. TD-SCDMA có thể hoạt động trên một dãi tần hẹp 1,6MHz (cho tốc độ 2Mbps) hay 5MHz (cho tốc độ 6Mbps). Ngày xuất hành của TD-SCDMA đã bị đẩy lùi nhiều lần. Nhiều thử nghiệm về công nghệ này đã diễn ra từ đầu năm 2004 cũng như trong thế vận hội Olympic gần đây.
Hai bảng so sánh các đặc điểm của các công nghệ tế bào kể trên kèm với công nghệ WiMAX/WiFi.
comparison feature1 Tổng quan về công nghệ mạng không dâycomparison feature2 Tổng quan về công nghệ mạng không dây

Giải pháp thoại cho mạng LTE

LTE (Long Term Evolution) là một kiến trúc toàn IP được thiết kế để cung cấp dịch vụ dữ liệu Internet di động tốc độ cao. LTE không tương thích để kế thừa dịch vụ thoại trên nền chuyển mạch của mạng di động 2G/3G. Điều này trở thành một cản trở quan trọng đối với các nhà cung cấp dịch vụ vì nó ảnh hưởng đến 2 dịch vụ thoại + tin nhắn SMS mà mang lại hơn 80% doanh thu dịch vụ di động toàn cầu, và tính đến nay vẫn là dịch vụ có lợi nhuận cao hơn nhiều so với lợi nhuận từ dịch vụ dữ liệu.
Tuy nhiên, tại sao lại phải cần một dịch vụ VoLTE trong khi ta hoàn toàn có thể dùng giải pháp VoIP trên nền dữ liệu giống như các dịch vụ thoại VoIP cung cấp bởi các OTT (over the top) như Skype, GTalk v.v. Nếu dùng dịch vụ VoIP như thế các nhà khai thác dịch vụ không chắc sẽ có khả năng cạnh tranh được với các OTT và hơn nữa họ không khai thác được thế mạnh về khả năng quản lý hạ tầng mạng cũng như quản lý chất lượng dịch vụ. Do vậy giải pháp VoIP OTT không được các nhà cung cấp dịch vụ hưởng ứng.
VoLTE2 Giải pháp thoại cho mạng LTE1/ VoLTE là gì ?
VoLTE (Voice over LTE) là giải pháp công nghệ được hiệp hội GSMA đưa ra từ đầu năm 2010 và tương thích với bộ chuẩn 3GPP để cung cấp giải pháp thoại và tin nhắn SMS qua mạng LTE. Tiền thân của VoLTE là giải pháp One Voice được phát triển với sự hợp tác của hơn 40 nhà khai thác mạng và nhà sản xuất thiết bị viễn thông lớn trên thế giới như AT&T, Verizon Wireless, Nokia hay Alcatel-Lucent.
Giải pháp VoLTE bổ sung cho mạng LTE với việc cung cấp dịch vụ thoại và SMS trên cùng một hạ tầng mạng LTE.  Dựa trên nền IMS, giải pháp VoLTE cho phép các nhà cung cấp dịch vụ cung cấp dịch vụ thoại, video và các dịch vụ nhắn tin phong phú (rich communication). VoLTE hứa hẹn sẽ giúp các nhà khai thác di động cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ OTT. Từ đó, các nhà khai thác dịch vụ có thể đổi mới các dịch vụ phong phú hơn, tinh tế hơn mang đến những trãi nghiệm người dùng mới và tương thích với bất kỳ thế hệ thiết bị di động nào. Các dịch vụ phong phú trong bộ truyền thông phong phú RCS/RSC-e  là mục tiêu mà các nhà cung cấp dịch vụ hướng tới.
Dưới đây là bộ giao thức để truyền tải thông tin thoại từ điện thoại đến máy chủ IMS. Kỹ thuật LTE DRX được dùng để tiết kiệm năng lượng pin của thiết bị đầu cuối và kỹ thuật nén RoHC (Robust Header Compression) được dùng để tăng hiệu năng trao đổi gói dữ liệu thoại trên IP.
Protocol stack VoLTE Giải pháp thoại cho mạng LTE
Bộ giao thức VoLTE trên nền IMS (theo GSMA)
VoLTE dựa trên nền IMS và các profile (thông số liên quan đến cuộc gọi thoại qua nền IMS) định nghĩa bởi GSMA. VoLTE dựa trên chuẩn 3GPP IMS MMTel (Multimedia Telephony) dành cho thoại và SMS trên nền LTE. Kịch bản này dựa trên giả thuyết là LTE được phủ rộng khắp hoặc LTE sẽ được hổ trợ bởi công nghệ VoIP trên nền HSPA/1xEVDO.
VoLTE MMtel Giải pháp thoại cho mạng LTE
Kiến trúc VoLTE dựa trên MMTel
Ngoài ra còn có những kịch bản khác, thực tế hơn, với giả thuyết là cùng tồn tại mạng LTE với mạng 2G/3G. Tôi muốn nói đến giải pháp SRVCC (Single Radio Voice Call Continuity). Giải pháp này được chuẩn hóa trong 3GPP TS23.216. SRVCC cho phép phiên IMS được duy trì khi thiết bị đầu cuối chuyển giao từ công nghệ này sang công nghệ khác (và một lúc chỉ có thể kết nối với 1 công nghệ vô tuyến – single radio). Nghĩa là khi di chuyển ra khỏi vùng có sóng LTE thì SRVCC sẽ là điểm tựa (anchor) để duy trì cuộc thoại khi thiết bị chuyển giao sang 2G/3G.
SRVCC VoLTE Giải pháp thoại cho mạng LTE
Kiến trúc VoLTE dựa trên SRVCC
 Giải pháp SRVCC yêu cầu phải thiết lập một giao diện mới Sv giữa EPC (Evolved Packet Core) và CS core, nhờ đó MME (Mobility Management Entity) có thể yêu cầu MSC-S đặt trước tài nguyên cần thiết ở mạng 2G/3G trước khi chuyển giao. Và dĩ nhiên là nhà mạng phải triển khai SCC AS (Service Centralization and Continuity Application Server) để quản lý chuyển giao thoại, video và đồng bộ hóa dịch vụ. Nhược điểm của giải pháp này là phải đầu tư xây dựng mạng IMS, triển khai các Application Server cần thiết như kể trên. Ưu điểm của giải pháp này là:
  • Cung cấp dịch vụ thoại và dữ liệu trên cùng một công nghệ LTE (không cần phải duy trì mạng 2G/3G).
  • Profile được chuẩn hóa nên sẽ tương thích rộng, dễ dàng trong việc roaming
  • Thiết bị đầu cuối sẽ được chuẩn hóa để tương thích VoLTE
  • QoS được đảm bảo : Gói dữ liệu thoại sẽ được gán với bearer GBR (Guaranted Bit Rate) và tín hiệu SIP thì được gán trong bearer non-GBR dành riêng.
  • Chuyển giao được quản lý bởi tiến trình EPC/LTE do vậy nên không có ảnh hưởng gì đến lớp IMS.
  • Với giải pháp SRVCC, bài toán roaming sẽ không còn là bài toán nan giải nữa vì nó tương thích với chuẩn 3GPP. Vấn đề roaming giữa các mạng IMS cũng đang được chuẩn hóa bởi GSMA.
2/ CSFB là gì ?
Trước hết giải pháp VoLTE đỏi hỏi phải có một mạng IMS di động, điều mà nhiều nhà cung cấp mạng chưa có. Để khắc phục điều này và nhằm sớm thúc đẩy việc triển khai LTE, một giải pháp khác để cung cấp dịch vụ thoại được gọi là CSFB (Circuit Switched Fallback) đã được đề nghị. CSFB chuẩn hóa bởi 3GPP 23.272.
Ý tưởng : khi cần thực hiện cuộc gọi thoại hoặc khi nhận được paging cho CS thoại qua giao diện SGs thì thiết bị UE chuyển sang dùng dịch vụ thoại  CS của mạng 2G/3G truyền thống. Khi cuộc gọi kết thúc, UE chuyển sang kết nối với mạng LTE. Khi cần dùng dịch vụ dữ liệu thì UE dùng mạng LTE. Việc chuyển đổi được thực hiện một cách tự động bởi mạng và thiết bị đầu cuối. CSFB là giải pháp lý tưởng cho giai đoạn đầu triển khai mạng LTE khi mà mạng IMS cho mạng di động chưa sẵn sàng.
CSFB Ericsson Giải pháp thoại cho mạng LTE
Kiến trúc giải pháp CSFB
Kiến trúc giải pháp CSFB định nghĩa bởi 3GPP thông qua giao diện SGs. Giao diện này được xây dựng dựa trên giao diện Gs mà trao đổi tín hiệu giữa MSC và SGSN. Giao diện SGs cung cấp gần như tất cả các chức năng được cung cấp bởi Gs hiện có.
CSFB 3GPP architecture Giải pháp thoại cho mạng LTE
Kiến trúc CSFB với giao diện SGs (theo 3GPP)
Giải pháp CSFB không cần IMS và tương thích rộng rãi cho roaming vì được chuẩn hóa với 3GPP. Tuy nhiên, giải pháp này có một số nhược điểm:
  • MSC cần phải nâng cấp để có thể tương thích với giải pháp CSFB
  • Phiên dịch vụ dữ liệu phải ngừng lại khi thực hiện hay nhận cuộc gọi thoại trên nền CS.
  • Thời gian thiết lập cuộc gọi lớn
  • Chuyển giao giữa LTE và non-LTE trạm phát sóng => nhiều thông điệp báo hiệu
  • Duy trì mạng 2G/3G
 Trong giải pháp CSFB ta cũng có thể chọn kết nối với 2G/3G và khi cần dùng dịch vụ dữ liệu thì ta chuyển sang mạng LTE.
Tóm lược các giải pháp kiến trúc VoLTE:
VoLTE overview Giải pháp thoại cho mạng LTE
Tóm lược các giải pháp kiến trúc VoLTE
Tổ chức 3GPP và GSMA đã và đang tiếp tục làm việc để cho ra bộ chuẩn VoLTE theo tiến trình dưới đây:
Standardization VoLTE Giải pháp thoại cho mạng LTE
Tiến trình chuẩn hóa VoLTE
Mạng LTE đã và đang được triển khai rộng rãi trên khắp thế giới. Hầu như các nhà cung cấp mạng giai đoạn đầu sẽ dùng giải pháp CSFB để cung cấp giải pháp thoại trên mạng 2G/3G như trước đây. Việc chuyển tiếp lên giải pháp VoLTE sẽ còn phải đợi thêm vài năm nữa mới thực sự được đưa vào sử dụng vì nó yêu cầu phải triển khai mạng IMS di động, triển khai các AS cần thiết để quản lý cuộc gọi trong nền IMS, quản lý chuyển giao. VoLTE cũng là một điều kiện cần để có thể triển khai các dịch vụ phong phú (rich communication) với mạng LTE cho người dùng trong tương lai. Tuy nhiên cũng phải hết sức cẩn trọng về chất lượng thoại (MOS) của thoại trên nền LTE. Chất lượng thoại ắt hẳn sẽ bị chi phối bởi chất lượng QoS E2E của mạng truyền tải IP: độ mất gói tin, độ trễ, độ jitter.


Dạo quanh thị trường LTE đầu năm 2012

Tính đến  05/01/2012, đã có 49 nhà mạng đã triển khai và cung cấp dịch vụ dị động 4G LTE.  Cụ thể, năm 2009 có 2 nhà cung cấp dịch vụ LTE đầu tiên là TeliaSonera ở Na-uy và Thụy Điển. Năm 2010 có 15 nhà cung cấp dịch vụ LTE. Năm 2011 có thêm 29 nhà mạng LTE. Đầu năm 2012, 3 nhà mạng  cung cấp dịch vụ LTE mới là Viva Bahrain, T-Mobile Hungary và KT Hàn Quốc.
Tổ chức GSA dự báo từ nay đến cuối năm 2012 sẽ có 110 nhà cung cấp dịch vụ LTE trên hơn 50 nước trên thế giới. Năm 2012 hứa hẹn là năm của công nghệ LTE.
LTE map Dạo quanh thị trường LTE đầu năm 2012
Bản đồ LTE trên thế giới (nguồn GSA, january 2012)
Tuy TeliaSonera là nhà mạng triển khai và cung cấp dịch vụ LTE đầu tiên từ cuối 2009, tính đến nay họ chỉ mới có hơn 5000 người thuê bao dịch vụ này ở Thụy Điển. Trong số các nhà mạng LTE, với 3,1 triệu thuê bao, Verizon USA đứng đầu trong bảng xếp hạng các nhà mạng có nhiều thuê bao LTE nhất. Kế đến là NTT DoCoMo Nhật Bản với hơn 388 ngàn thuê bao. Ở Châu Âu, nhà mạng có nhiều thuê bao LTE nhất là Vodafone D2 ở Đức với 52 ngàn thuê bao.
LTE Subscribers Sept 20111 Dạo quanh thị trường LTE đầu năm 2012
LTE Subscribers Sept 2011
Chiến lược kinh doanh dịch vụ LTE
- Chiến lược đầu tiên cho các nhà mạng là dùng LTE để cung cấp dịch vụ Internet cho các vùng sâu, vùng xa mà hạ tầng mạng truy cập băng rộng cố định chưa được triển khai. Ở nhiều nước việc phủ Internet băng rộng trên khắp lãnh thổ là một yêu cầu bắt buộc đối với các nhà cung cấp mạng. Đây cũng là chiến lược mà Vodafone ở Đức đã áp dụng khi họ bắt đầu triển khai LTE ở băng tầng 800MHz.
- Một chiến lược kinh doanh khác nữa là nhắm đến giới trẻ, sinh viên vì đa phần họ cần dùng Internet di động tốc độ cao hơn là dùng Internet cố định băng rộng. Dịch vụ LTE do vậy có thể thay thế dịch vụ Internet băng rộng cho một số đối tượng người dùng.
- Và dĩ nhiên dịch vụ LTE cũng nhắm đến khuyến khích người dùng dịch vụ 3G chuyển sang dùng LTE để có tốc độ và chất lượng dịch vụ cao hơn. Đặc biệt phải kể đến là độ trễ trên mạng LTE nhỏ hơn nhiều so với mạng 3G, điều này sẽ giúp phát triển các dịch vụ tương tác như game, video conference, video broadcast…trên nền LTE.
Sự bùng nổ của thị trường LTE dự đoán sẽ kích thích 17% tăng trưởng doanh thu của thị trường điện thoại di động toàn cầu vào năm 2012, theo một báo cáo mới từ IHS iSuppli. Thị trường thiết bị di động LTE năm nay sẽ đạt tầm 21,7 tỷ USD. Năm 2012 hứa hẹn là một năm khởi sắc cho thị trường LTE.
http://vienthongkysu.com/mobile/lte_2012/
http://vi.wikipedia.org/wiki/LTE