Mọi thứ vì quyền lực: Câu chuyện có thật về Giang Trạch Dân ở Trung Quốc – Phần kết
Vào một ngày trong tương lai, Liên minh Toàn cầu Đưa Giang ra Công lý,
với sự cộng tác của quan tòa từ nhiều nước khác nhau sẽ hình thành nên
một bồi thẩm đoàn, ở ngay giữa quảng trường Thiên An Môn mà tiến hành
công thẩm với Giang Trạch Dân.
Hoàng Sơn lão tăng giải rõ nhân duyên; Giang quỷ bị tống vào Ngục Vô Gián
Vào đầu xuân năm Ất Dậu âm lịch (giữa tháng 2 năm 2005), người ta đã
phát hiện thấy hoa Ưu Đàm Bà La (Udumbara) nở ở hai nơi tại Hàn Quốc –
Chùa Yongjusa trên núi Gwanaksan, ở Uiwang-si, Gyeonggi-do, và ở Thiền
viện Sumi tại Haeryong-myeon, ở Suncheon-si, Jeollanam-do. Đây là một
loại hoa mọc trên lá (epiphyllum) rất hiếm gặp, và nó đã xuất hiện trên
mặt của các bức tượng Phật bằng đồng ở đó. Người Trung Quốc có câu thành
ngữ: “Đàm Hoa nhất hiện” (Hoa Ưu Đàm chỉ nở một lần). Và hoa Ưu Đàm Bà
La không phải là một loại hoa Ưu Đàm thông thường: nó chỉ nở một lần
trong ba ngàn năm. Theo Kinh Phật thì hoa Ưu Đàm Bà La nở là dấu hiệu
Pháp Luân Thánh Vương, hay “Chuyển Luân Thánh Vương” đã tới thế giới con
người truyền Pháp.
Tin tức về hoa Ưu Đàm nở truyền tới huyện Kỳ Môn, tỉnh An Huy, Trung
Quốc. Trong huyện có một người nông dân họ Văn, tên Truyền Đăng, là
người sống một mình trong căn nhà đơn sơ. Sau khi nghe tin tức về hoa Ưu
Đàm Bà La, Truyền Đăng tự hỏi: “Người ta nói rằng hoa Ưu Đàm Bà La khai
nở báo hiệu Phật Di Lặc đã đản sinh. Mình thành tâm hướng Phật đã lâu,
còn cha mẹ mình cũng vừa mới qua đời. Tại sao mình không bỏ lại căn nhà
này và đi vân du bốn biển? Biết đâu mình lại được một cao tăng đắc đạo
nhận làm đồ đệ, và có thể dành phần đời còn lại thành tâm kính Phật. Có
khi mình còn được nghe Phật Di Lặc giảng Pháp, và đó là một hạnh phúc
lớn lao.” Nhìn quanh nhà, anh không thấy đồ đạc nào có giá trị ngoài một
thanh bảo kiếm do tổ tiên truyền lại. Thanh kiếm này dài một thước hai
tấc, sắc bén dị thường, có thể dùng làm một món quà ra mắt sư phụ.
Truyền Đăng mang theo thanh bảo kiếm cùng một chút tiền và lên đường tới
dãy Hoàng Sơn [1] mong tìm được một cao nhân đắc Đạo.
Sau khi trèo lên đỉnh Quang Minh, một thắng cảnh trên ngọn núi, Truyền
Đăng trông thấy một hướng dẫn viên du lịch đang thuyết minh cho đoàn
khách của anh ta. Anh lắng tai nghe lời thuyết minh. Người đó nói: “Vài
năm trước người ta phát hiện được một hang đá tự nhiên tại dãy Hoàng
Sơn, bên trong có sảnh lớn, thạch trụ, thạch thất, ao nước và cả bích
họa – tất cả đều là thiên nhiên tạo thành.” “Nếu quý vị có thời gian,
tôi có thể dẫn quý vị đi thưởng ngoạn.” Cả đoàn khách hứng khởi và đồng ý
ngay lập tức với lời đề xuất của người hướng dẫn viên, rồi đi theo
đường mòn xuống núi. Truyền Đăng lúc ấy rỗi rãi chẳng còn việc gì làm
nên đã bám theo họ.
Trong hang, người hướng dẫn viên giới thiệu: “Hang đá này được phát hiện
ra vào năm 1999. Nó khá kỳ lạ. Đầu tiên, người ta phát hiện thấy rất
nhiều đá vỡ ngoài cửa động, và điều này khiến họ tò mò đào sâu vào
trong. Ngạc nhiên thay, càng đào vào sâu bao nhiêu thì người ta thấy
càng nhiều đá vỡ bấy nhiêu. Không những vậy, họ còn tìm thấy nhiều xương
trâu trong đống đá, khiến những người công nhân cảm thấy khó hiểu.
Không ai có thể lý giải được tại sao cái hang lại chứa đầy đá vỡ và
xương trâu như vậy. Dân vùng đó bèn đặt tên nó là ‘Thiên niên mê quật’
(Hang đá kỳ bí ngàn năm). Thêm vào đó, những bức bích họa đá trong hang
thì không ai có thể lý giải được. Vào năm 2001, Giang Trạch Dân nghe nói
về hang đá kỳ lạ này và đã có một chuyến đi đặc biệt tới đây.”
Sau khi người hướng dẫn viên nói xong, đoàn khách tản ra và đi ngắm các
bức bích họa. Tuy đang là đầu xuân nhưng bên trong động lại rất lạnh
lẽo. Khi Truyền Đăng nhìn thẳng vào những bức bích họa, anh thấy thanh
bảo kiếm đeo bên hông bắt đầu lay động và kêu vo ve. Thấy quá lạ, anh
bèn rút kiếm ra thì thấy nước đang chảy trên thân kiếm, khắp từ chuôi
cho đến mũi. Tiếng kêu ngày càng to, liên miên không dứt như thể thanh
kiếm chỉ trực tuột khỏi tay anh và phóng lên. Truyền Đăng lạnh đến dựng
cả tóc gáy. Anh sợ rằng người khác có thể trông thấy cảnh tượng dị
thường này, nên vội tra kiếm vào bao và bước vội vã ra khỏi động.
Khi vừa ra tới cửa động, Truyền Đăng rẽ qua bên phải thì bị vấp vào thứ
gì đó và ngã nhào xuống đất. Ngước nhìn lên, anh trông thấy một lão tăng
mặc áo cà sa màu vàng đang đứng cạnh cửa động, để tay trước ngực trong
thế đơn thủ lập chưởng. Truyền Đăng vội vàng xin lỗi vì sự bất cẩn của
mình.
Lão tăng dường như chẳng hề bực dọc, nhẹ nhàng hỏi: “Thí chủ cớ sao hoảng hốt như vậy?”
“Không có gì đâu”, Truyền Đăng đáp. “Chỉ là bên trong động lạnh thấu
xương nên tôi muốn ra ngoài để lấy một chút ánh nắng mặt trời.”
Lão tăng trầm ngâm một lúc rồi nói: “Thật khó tin. Thế nhân trong cõi mê
đâu biết được sự nguy hiểm của cái động này. Họ thậm chí còn coi nó là
thắng địa để du ngoạn. Duy chỉ có thí chủ căn cơ phi phàm mới có thể
thấy được và kịp thời rời khỏi động.”
Truyền Đăng thấy lời lão tăng nói vừa rõ ràng vừa huyền hoặc, mới biết
ông không phải là người thường. Truyền Đăng nói: “Tôi không biết được
đây là nơi hung hiểm, duy chỉ có thanh kiếm gia truyền của tôi rung lên
và phát ra tiếng kêu. Tôi sợ người ta biết được nên mới rời khỏi động.”
“Bần tăng có thể mượn xem thanh kiếm được chứ?”, lão tăng nói.
Truyền Đăng không hề do dự, cầm thanh bảo kiếm đưa cho lão tăng. Lão
tăng rút kiếm ra khỏi vỏ rồi quan sát nét chạm khắc trên đó. Rồi lão
tăng hỏi: “Thí chủ có biết lai lịch của thanh kiếm này không?”
“Không”, Truyền Đăng đáp. “Nhưng đây là vật báu gia truyền qua nhiều thế hệ trong gia tộc tôi – có khi phải đến 2.500 năm rồi.”
Lão tăng gật đầu rồi hỏi: “Thí chủ họ Văn phải không?”
Truyền Đăng thấy thật kỳ lạ. “Phải! Sao sư phụ biết?”
Lão tăng bèn giải thích: “Thanh kiếm này có lai lịch đấy. Vào thời Xuân
Thu (770-476 trước Công nguyên), có một thợ rèn kiếm tên là Âu Dã Tử đã
rèn được ba thanh bảo kiếm cho Sở Vương, một là Long Uyên, hai là Thái
A, ba là Công Bố. Ba thanh kiếm này được đưa cho Sở Bình Vương, Ngũ Tử
Tư và Ngô Vương Phù Sai (Ngô Vương Phu). Nước Ngô và nước Việt thời ấy
đang tranh chấp với nhau. Việt Vương Câu Tiễn bị Ngô Vương Phù Sai bắt
được và phải sống ba năm trong căn nhà đá nuôi ngựa trước khi được trở
về nước, và ông luôn nuôi hận báo thù. Câu Tiễn có hai đại tướng là Phạm
Lãi và Văn Chủng. Văn Chủng đã hiến bảy kế sách nhưng Câu Tiễn chỉ dùng
ba kế để tiến đánh nước Ngô. Phạm Lãi nhận binh đánh Ngô, sau đó vây
hãm Ngô Vương Phù Sai, và Ngô Vương Phù Sai đã phải dùng thanh kiếm Công
Bố để tự vẫn. Trước lúc lâm chung, ông đã để lại những chữ sau cho Phạm
Lãi: “Giảo thỏ tử, tẩu cẩu phanh, phi điểu tận, lương cung tàng, địch
quốc phá, mưu thần vong [2]” (Thỏ khôn chết, chó săn vào nồi, chim bay
hết, cung tốt cất đi, địch bị phá, mưu thần chết). Phạm Lãi lấy được bảo
kiếm rồi, sau khi xem di ngôn của Ngô Vương bèn khuyên Văn Chủng: “Việt
Vương có tướng cổ dài và miệng như mỏ quạ, có thể nhẫn nhục nhưng đố kỵ
với công lao của kẻ khác, có thể cùng chung hoạn nạn nhưng không thể
cùng hưởng yên ổn. Giờ hai chúng ta đại sự đã xong, không bằng nên quy
ẩn.” Văn Chủng không nghe. Phạm Lãi bèn để lại thanh kiếm Công Bố cho
Văn Chủng rồi cùng nàng Tây Thi [3] vượt ba con sông và chu du Ngũ Hồ,
cùng nhau hưởng cảnh thanh bình tự tại. Sau đó quả nhiên Việt Vương Câu
Tiễn tâm địa hẹp hòi đã đố kỵ với tài năng của Văn Chủng và hại chết ông
ta. Lão tăng nghe kể thanh bảo kiếm này là vật gia truyền nên mới đoán
thí chủ lại mang họ Văn. Đây chính là thanh kiếm Công Bố và nó mang theo
linh khí.”
Truyền Đăng nghe lão tăng giải thích như vậy liền nảy sinh lòng kính
ngưỡng. Anh hỏi: “Tại sao thanh kiếm này lại kêu và rung lên khi ở trong
động? Sư phụ ám chỉ điều gì khi nói ‘Thật khó tin. Thế nhân trong cõi
mê đâu biết được sự nguy hiểm của cái động này.’?”
Lão tăng đáp: “Đây là thiên cơ, chỉ có thể tiết lộ cho những người thành tâm hướng Phật.”
Truyền Đăng chắp tay trước ngực trong thế hợp thập rồi nói: “Chẳng giấu
gì sư phụ, con mang theo thanh kiếm này đi vân du với hy vọng tìm được
một vị cao tăng có thể giúp con hiểu được gốc gác và câu chuyện đằng sau
nó. Nếu sư phụ chẳng từ, con nguyện làm môn hạ của sư phụ. Con không có
vật gì quý giá ngoài thanh bảo kiếm này, xin dâng sư phụ làm lễ ra
mắt.”
Lão tăng cười nói: “Ta hiểu con nghĩ gì. Con là người không tham phú quý
tiền tài, ta không ngại khi nói với con, nhưng ta không thể là sư phụ
của con được. Trên thế gian này duy chỉ một người có thể cứu độ con
thôi.”
Lão tăng ngưng thần, đưa ánh mắt nhìn ra xa trước khi tiếp tục.
“Việc hoa Ưu Đàm Bà La khai nở trên tượng Phật ở Hàn Quốc ứng với sự
kiện Chuyển Luân Thánh Vương lấy danh hiệu Di Lạc hạ thế truyền Pháp.
Không ai biết được lai lịch của người là Chuyển Luân Thánh Vương. Phật
Thích Ca thời ấy gọi Ngài là “Vô Thượng Vương, Vương của vạn Vương.” Khi
truyền Pháp tại Ấn Độ cổ thời bấy giờ, Phật Thích Ca gọi Ấn Độ là “ngũ
độc ác thế” (thế giới với năm thứ độc). Hai nghìn năm trăm năm đã qua
đi, tất cả tôn giáo trên thế giới đều đã tiến nhập vào thời Mạt Pháp, xã
hội hiện đại đã là thập ác câu toàn rồi (đầy đủ mười điều ác). Nhân
gian bất quá chỉ là biểu tượng mà thôi. Cả nhân gian, Thần giới lẫn Pháp
giới, tầng tầng lớp lớp thương khung trong vũ trụ đều đang trong thời
Mạt Kiếp. Tất cả sinh mệnh bên trong vũ trụ đều không có khả năng cứu
vãn vũ trụ này. Duy chỉ có một vị Thần nằm ngoài vũ trụ với Pháp lực
hồng đại mới có thể tái tạo càn khôn. Chuyển Luân Thánh Vương là hy vọng
được cứu duy nhất của toàn vũ trụ.”
Sững sờ trước lời tiết lộ của lão tăng, Truyền Đăng hỏi tiếp: “Vậy thì
Chuyển Luân Thánh Vương, cũng giống như Phật Thích Ca Mâu Ni, sẽ chuyển
sinh xuống nhân gian chứ?”
“Không phải vậy”, lão tăng đáp. “Khi người ta thấy hoa Ưu Đàm Bà La khai
nở, người ta nghĩ rằng Chuyển Luân Thánh Vương vẫn chưa xuất thế. Thực
ra Ngài đã ở trên thế gian giảng Pháp được 13 năm rồi.”
Truyền Đăng bấm ngón tay tính toán rồi thất kinh: “Không phải sư phụ nói đến Pháp Luân Đại Pháp đấy chứ?” [4]
“Nhụ tử khả giáo” (Thằng bé này dạy dỗ được đấy), lão tăng nói kèm theo
một nụ cười. “Con sẽ hiểu rõ hơn khi con tự suy xét. Bây giờ hãy nói về
‘hang đá kỳ bí ngàn năm’ này. Khi Pháp Luân Thánh Vương truyền Pháp,
những sinh mệnh bại hoại trong vũ trụ đã hình thành nên một cựu thế lực
cực kỳ tà ác. Để gây trở ngại cho Chính Pháp [5], chúng đã tạo ra Giang
Trạch Dân để điên cuồng hành ác với Đại Pháp tại nhân gian. Nguyên thần
của Giang Trạch Dân là một con cóc. ‘Hang đá kỳ bí’ này kỳ thực là một
động cóc. Cửa vào động trông dẹt dẹt bằng bằng như hình cái chậu úp
ngược, chính là miệng của con cóc, còn [sảnh lớn] bên trong chính là
bụng của con cóc. Phần đỉnh lồi lên hình vòm của chiếc hang với màu xanh
lục chính là lưng của con cóc. Sở dĩ thí chủ run lên vì lạnh ở trong
hang là vì âm khí ở đó rất nặng, và ở đó tụ tập rất nhiều lạn quỷ mà
không thể trông thấy bằng mắt thường. Thanh bảo kiếm rung lên vì nó muốn
chém những thứ yêu tà này.”
Truyền Đăng đột nhiên ngộ ra khi ngẫm nghĩ về các bức bích họa ở trong
động, và thấy nó quả nhiên liên quan tới con cóc. Rồi anh hỏi: “Người
hướng dẫn viên nói rằng Giang Trạch Dân đã từng tới đây du ngoạn và đã ở
trong động một thời gian lâu.”
“Đúng như vậy”, lão tăng đáp. Khi đàn áp Pháp Luân Công, nguyên khí của
Giang Trạch Dân đã bị tổn thương nặng nề. Hồi tháng 5 năm 2001, cái bộ
da người của Giang Trạch Dân chỉ còn thoi thóp nên hắn đã phải tới động
cóc này ở dãy Hoàng Sơn để bổ sung năng lượng đen. Quân vương tàn bạo và
chẳng đoái hoài gì tới dân thì dân chúng phải chịu khổ. Sự kiện Giang
Trạch Dân du Hoàng Sơn trong 5 tháng vào hạ tuần đã tiêu tốn 200 triệu
nhân dân tệ, và rất đông dân chúng thất nghiệp ở khu Hoàng Sơn này đã
phải đi xây đắp đường cái. Chỉ riêng chi phí vận chuyển hoa quả bằng
đường không tới cho ông ta đã lên tới 10 vạn nhân dân tệ. Vô số cảnh sát
vũ trang đã được triển khai dọc theo con đường mòn dẫn tới cái động
này. Giang Trạch Dân đã vượt qua con đường mòn trên một chiếc ghế làm từ
tre và dây thừng, được thiết kế đặc biệt dành cho ông ta.”
Truyền Đăng vốn đã không có cảm tình với Giang Trạch Dân, nay nhân cơ hội hỏi: “Giang Trạch Dân rồi sẽ có kết cục ra sao?”
Lão tăng trả lời: “Quả báo đã ở nhãn tiền rồi. Chuyển Luân Thánh Vương
là đức Phật Chủ từ bi vô lượng, tuy Giang đã bức hại Pháp Luân Công
nhưng vẫn được cấp cho cơ hội để hối cải. Tuy vậy Giang đã chọn cách gây
thêm tội nghiệp. Đến tháng 9 năm 2000, ông ta đã tự mình đoạn đứt cơ
hội bằng chính hành vi của mình. Phật Pháp là từ bi, song cũng rất uy
nghiêm. Nguyên thần của Giang đã bị triệt để đả nhập vào Ngục Vô Gián
trong tháng 9 năm đó. Cái vẫn đang hoạt động trên thế gian hiện nay bất
quá chỉ là bộ da người của hắn, được thao túng bởi đám lạn quỷ. Các đệ
tử Pháp Luân Công đều biết thiên cơ nên gọi hắn là ‘Giang quỷ.’ Cái bộ
da người hiện tại của Giang đang bị bệnh hoàng đản (chứng tắc mật khiến
da vàng khè) và bệnh hắc thối. Hắn đã gần mù một mắt và bị què một chân.
Hắn sẽ phải chịu đại nghiệp báo mãi không dứt. Từ xưa đến nay, kẻ nào
bức hại Phật Pháp sẽ bị tống vào cửa Vô Sinh, vĩnh viễn không được siêu
sinh.”
Truyền Đăng nói: “Thế thì Giang quỷ giờ cũng giống họa bì nữ quỷ [6] trong Liêu Trai Chí Dị.”
Lão tăng nghe vậy bèn cười nói: “Con quỷ đó ít nhất cũng khoác vào bộ da
của mỹ nữ, trong khi cái thân thể xú uế của Giang thì phục phịch và
kệch cỡm giống như một con cóc khổng lồ. Đám lạn quỷ chống đỡ cho hắn ta
phải khó khăn hơn rồi.”
Lão tăng trầm ngâm một lúc rồi nói tiếp: “Đám lạn quỷ này có sự phân
công – con thì biết nói thuyết, con thì biết hát, con thì biết chơi nhạc
khí – bình thường thì không có vấn đề gì với hắn. Bởi vì Giang quỷ
không có hồn phách gì hết, nên hắn ta thường xuất hiện trạng thái tinh
thần hoảng hốt. Mỗi khi phải gặp nguyên thủ nước ngoài hay tạo thế trấn
áp Pháp Luân Công, đám lạn quỷ cùng nhau chống đỡ nhục thân của Giang
quỷ, khiến hắn phun ra những lời vu khống, lại còn vừa hát hò vừa nhảy
múa.”
Truyền Đăng hỏi: “Lưu lại con yêu quái ấy là có dụng ý gì?”
Lão tăng đáp: “Con người chỉ nhìn những gì trước mắt, còn Trời nhìn xa
hơn nhiều. Với một người tu luyện, trí tuệ siêu phàm thì nhìn lịch sử
mấy ngàn năm qua của nhân loại như là một vở kịch. Hiện tại tên hề vẫn
chưa đóng xong vai của hắn; hắn cần diễn nốt cảnh cuối cùng của vở
kịch.”
Truyền Đăng hiếu kỳ bèn hỏi: “Khi nào thì đến lúc ấy?”
Lão tăng đáp: “Đạo Trời vi diệu và huyền bí. Đến lúc đó thí chủ tự nhiên sẽ biết.”
Truyền Đăng vẫn muốn hỏi thêm: “Sư phụ từng nói về ‘Ngục Vô Gián’. Con xin hỏi Ngục Vô Gián là gì?”
“Ngục Vô Gián cực rộng và cực lớn”, lão tăng đáp. “‘Vô Gián’, có nghĩa
là hình phạt vĩnh viễn không bị gián đoạn. Vô Gián có năm phương diện:
Thứ nhất, là vô thời gian, tức là thời gian không bị gián đoạn, kẻ thụ
hình phải chịu tội ngày đêm, vĩnh viễn không bao giờ dừng. Thứ hai, vô
không gian, kẻ thụ hình toàn thân chỗ nào cũng bị tra tấn, không chỗ nào
không bị động tới. Thứ ba, tội khí vô gián, tức là các dụng cụ tra tấn
không bị gián đoạn, không ngừng bị tra tấn bởi các phương thức khác
nhau. Thứ tư, bình đẳng vô gián, tức là không phân biệt nam nữ, không
phân biệt thân phận, đều phải chịu thụ hình như nhau. Thứ năm, sinh tử
vô gián, kẻ thụ hình mỗi thời khắc đều phải chịu thống khổ cho đến chết,
chỉ giữ lại chút ý thức để tiếp tục chịu tra tấn. Sinh mệnh phải chịu
thống khổ khi bị tận diệt từng lớp từng lớp, vĩnh viễn không bao giờ
dừng, trong vũ trụ này không có chuyện gì đáng sợ hơn.”
Một cơn ớn lạnh chạy khắp người Truyền Đăng, khí lạnh như chỉ trực chạy xuất ra khỏi cơ thể anh.
Lão tăng nói: “Thí chủ vừa bị nhiễm âm khí, có rất nhiều sự hỗn tạp ở
nơi đây. Chi bằng thí chủ lên đỉnh Liên Hoa để nghỉ ngơi, tối nay lão
tăng sẽ hộ pháp. Sáng hôm sau thí chủ hãy hạ sơn và đi tìm Pháp Luân
Phật Pháp.”
Buổi sáng hôm sau, Truyền Đăng tỉnh dậy lúc mặt trời mọc thì không biết
lão tăng đã đi hướng nào. Đưa mắt nhìn bốn phía, Truyền Đăng thấy những
đỉnh núi được bao phủ bởi cả một biển mây. Đỉnh Thiên Đô ở đằng xa như
đang tắm trong muôn vàn ánh nắng. Truyền Đăng nghĩ rằng đây là điềm của
thiên địa phục minh (trời đất sáng tỏ trở lại). Đối với những lời lão
tăng nói, Truyền Đăng tin tưởng mà chẳng chút nghi ngờ, nên đã xuống núi
và tìm cuốn sách Chuyển Pháp Luân [7], và bước đi trên con đường tu
luyện từ đó.
* * * * *
Vào một ngày trong tương lai, Liên minh Toàn cầu Đưa Giang ra Công lý,
với sự cộng tác của quan tòa từ nhiều nước khác nhau sẽ hình thành nên
một bồi thẩm đoàn, ở ngay giữa quảng trường Thiên An Môn mà tiến hành
công thẩm (xét xử công khai) với Giang Trạch Dân. Lúc ấy chân tượng về
Pháp Luân Công đã thật sự minh bạch trong toàn thiên hạ. Bồi thẩm đoàn
tuyên đọc bản cáo trạng dài hơn nghìn trang đối với Giang Trạch Dân,
tuyên hắn án tử hình vì tội phản quốc, tham ô, tra tấn, tội ác chống lại
nhân loại, diệt chủng cùng nhiều tội danh khác.
Ngay khi đọc xong bản cáo trạng, từ trên không trung đột nhiên xuất hiện
một sợi dây thừng trói chặt Giang từ đầu tới chân, treo hắn lơ lửng
trên một cái móc ở giữa không trung. Gió và sấm chớp nổi lên ầm ầm. Hàng
vạn tia sét đồng thời đánh vào Giang, đánh vào mỗi tấc trên cơ thể hắn.
Khói phun ra mù mịt. Y phục, đầu tóc, da thịt, nội tạng và xương cốt
của Giang đều cháy thành tro. Trong phút chốc toàn thân Giang đã bị lửa
thiêu trụi không còn chút gì.
Vào lúc ấy, Văn Truyền Đăng đã tu luyện được một thời gian và đang chứng
kiến kết cục của Giang trên quảng trường Thiên An Môn. Vô cùng hạnh
phúc và biết ơn khi đắc được Đại Pháp và tu luyện trong thời Pháp Luân
Thánh Vương truyền Pháp, Truyền Đăng đã làm bài thơ sau đây:
Chuyển thế nhân gian bất kế xuân,
Cơ hồi thương hải biến thành trần,
Hạnh kết Pháp duyên triều Phật Chủ,
Nhẫn khổ tinh tiến hỉ quy chân,
Tu đắc trường sinh thiên cổ tú,
Luyện tựu kim cương bất hoại thân,
Trợ Sư chuyển luân liễu hồng nguyện,
Tảo diệt quần ma chính càn khôn.
Diễn nghĩa:
Luân hồi chuyển thế trong nhân gian biết bao nhiêu mùa xuân,
Bao lần biển xanh đã biến thành cát bụi,
May được kết duyên với Pháp trong thời Phật Chủ,
Tinh tấn chịu khổ để phản bổn quy chân trong niềm hân hoan,
Tu luyện để đắc được sự trường sinh và thanh tú mãi mãi,
Luyện được thân thể kim cương bất hoại,
Hoàn thành hồng nguyện trợ giúp Sư phụ chuyển Pháp Luân,
Tiêu diệt ma quỷ, chính lại càn khôn.
Tạm dịch:
Luân hồi chuyển thế biết bao xuân,
Biển xanh phong hoá đã bao lần,
May đắc Đại Pháp thời Phật Chủ,
Tinh tấn chịu khổ để quy chân,
Tu đắc trường sinh mãi thanh tú,
Luyện thành kim cương bất hoại thân,
Trợ Sư Chính Pháp hoàn thệ ước,
Tái tạo càn khôn, diệt ma quân.
Khi đang ngâm nga bài thơ, trong tâm rất cao hứng, Truyền Đăng đột nhiên
giật mình bởi tiếng âm thanh huyên náo của pháo hoa, chiêng và trống.
Khắp thành phố, người người đều vui mừng như mở hội. Truyền Đăng giờ đã
thật sự minh bạch câu nói của lão tăng ở núi Hoàng Sơn: “Tên hề vẫn cần
đóng nốt vai của hắn.” Đang nghĩ ngợi, Truyền Đăng đột nhiên trông thấy
một dải lụa vàng từ giữa trời hạ xuống và rơi xuống ngay trước mặt mình.
Bắt lấy dải lụa trong tay, Truyền Đăng thấy một bài thơ sáu chữ như
sau:
Sửu giác
Tam cước thiềm thừ hiện thế sửu,
Thập ác câu toàn tận âm mưu,
Thử tà tận tố đâu nhân sự,
Vô đức vô tài trang phong lưu,
Trung Hoa ngũ thiên văn vật tề,
Chỉ khiếm thử sửu hí trung tú.
Diễn nghĩa:
Tên hề
Con cóc ba chân hiện thành một tên hề,
Đầy đủ cả thập ác, giờ đã tận hết âm mưu,
Bao nhiêu việc tà ác mà nó đã làm,
Vô đức, vô tài tại lại được phong lưu,
Trung Hoa năm nghìn năm văn vật đầy đủ,
Chỉ thiếu một vai hề để diễn kịch.
Tạm dịch:
Tên hề
Cóc ba chân hoá tên hề,
Tích mười điều ác, cạn về âm mưu,
Hành ác, nhân sự tối ưu,
Vô tài, vô đức, phong lưu hơn đời,
Ngàn năm văn vật tựu rời,
Riêng vai hề đó ai thời đóng thay.
Ban biên tập Thời báo Đại Kỷ Nguyên
Ngày 6 tháng 10 năm 2005
—
Ghi chú của người dịch:
[1] Hoàng Sơn: Một dãy núi ở phía nam tỉnh An Huy, miền đông Trung Quốc.
Dãy núi này nổi tiếng vì có cảnh quan đẹp, với những vách đá cheo leo,
rừng thông và đỉnh núi phủ đầy mây, và là một trong những điểm du lịch
hấp dẫn nhất Trung Quốc. Người Trung Quốc có câu: “Ngũ Nhạc quy lai bất
khán sơn, Hoàng Sơn quy lai bất khán Nhạc.” (Đến Ngũ Nhạc rồi thì không
muốn xem núi nào nữa, đến Hoàng Sơn rồi thì lại không muốn xem Ngũ
Nhạc). Liên Hoa, Quang Minh và Thiên Đô là tên ba đỉnh núi cao nhất của
dãy Hoàng Sơn.
[2] Chữ ‘vong’ ở đây vừa có nghĩa là chết, vừa có nghĩa là chạy trốn.
Phạm Lãi sau khi đọc di ngôn của Ngô Vương thì thấy nó hàm ý rằng Việt
Vương sẽ trở mặt giết hại công thần, đồng thời cũng khuyên mưu thần nên
bỏ trốn để bảo toàn mạng sống.
[3] Tây Thi: Trong 7 kế mà Văn Chủng hiến cho Việt Vương để đánh Ngô thì
có “mỹ nhân kế” – dâng người đẹp làm Ngô Vương mê đắm mà bỏ bê việc
chính sự. Tây Thi là người đẹp nhất trong số 2.000 mỹ nữ được dâng cho
Ngô Vương. Sau khi nước Ngô bị diệt, Phạm Lãi đã dẫn Tây Thi bỏ trốn vào
vùng Ngũ Hồ (năm hồ nước là thắng cảnh vùng Giang Nam).
[4] Câu chuyện này xảy ra vào năm 2005. Sư Phụ Lý Hồng Chí bắt đầu
truyền Pháp Luân Đại Pháp ra công chúng từ năm 1992, tính đến năm 2005
là tròn 13 năm.
[5] Chính Pháp: Quá trình làm chính lại Pháp của vũ trụ sau khi các sinh
mệnh và vật chất trong toàn vũ trụ đã bị biến dị và sai lệch khỏi Pháp.
[6] Họa bì nữ quỷ: Con quỷ đội lốt mỹ nhân trong truyện ngắn “Họa bì”,
thuộc tác phẩm Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. “Họa bì” có nghĩa là
lớp da người được con quỷ (trong truyện) dùng bút vẽ thành mỹ nhân trước
khi nó khoác vào.
[7] Chuyển Pháp Luân: Cuốn sách chính yếu chỉ đạo cho tu luyện của Pháp
Luân Đại Pháp . Bản tiếng Việt có tại:
http://phapluan.org/book/zfl_html/index.html
—-
Xem bản gốc tiếng Hán tại đây: http://www.dajiyuan.com/b5/5/6/24/n963853.htm
Xem bản tiếng Anh tại đây: http://www.theepochtimes.com/news/5-10-6/33008.html
Bài đăng Phổ biến
Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014
Mọi thứ vì quyền lực: Câu chuyện có thật về Giang Trạch Dân ở Trung Quốc – Giới thiệu
Mọi thứ vì quyền lực: Câu chuyện có thật về Giang Trạch Dân ở Trung Quốc – Giới thiệu
Hãy trả lại cho lịch sử những gì thực sự là của Giang Trạch Dân. Đây là trách nhiệm không thể thoái thác của tất cả chúng ta.
Nếu như số phận quyết định vận mệnh của một người, thì sự an bài của lịch sử cũng có khả năng dàn xếp cho một sinh mệnh có xuất thân đáng xấu hổ.
Khi Giang Trạch Dân tham dự buổi thảo luận với một đoàn đại biểu tỉnh Hồ Bắc trong một cuộc họp Quốc hội của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vào ngày 12 tháng 3 năm 2003, ông ta nói: “Tôi từng là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nồi hơi Vũ Hán từ năm 1966 đến năm 1970. Đó là vào thời kỳ Cách mạng Văn hóa… phe tạo phản [trích dẫn nguyên văn] đã cẩn thận xem xét hồ sơ [1] cá nhân của tôi. Được thôi, vì điều đó đã chứng tỏ rằng tôi có một quá khứ trong sạch.”
Có lẽ những thính giả của Giang lúc ấy không hiểu được mục đích của ông ta là gì. Tại sao Giang – Tổng bí thư của ĐCSTQ – cần tự thanh minh về “quá khứ trong sạch” của mình?
Lý do nằm ở tiểu sử của Giang có vấn đề. Cha đẻ của ông ta, Giang Thế Tuấn (còn được biết đến với cái tên Giang Quan Thiên), là một tên Hán gian làm việc cho người Nhật khi họ chiếm đóng Trung Quốc. Trường đại học mà Giang từng theo học, Đại học Trung ương Nam Kinh, thực ra là được điều hành bởi quân chiếm đóng Nhật Bản. Ông ta đã bịa đặt ra rằng chú của ông ta đã nhận nuôi ông ta, mặc dù người chú của ông ta kỳ thực đã qua đời vào thời gian ấy. Khi được đào tạo ở Nga, có thời gian Giang đã chìm đắm trong một vụ bê bối tình ái với một phụ nữ người Nga và trở thành một điệp viên cho KGB. Và đây chỉ là một phần nhỏ của bức tranh lớn hơn nhiều, vì tiểu sử của Giang đầy rẫy những tình tiết xấu xa. Dựa trên cơ sở nào mà ông ta có thể tự nhận rằng mình có “quá khứ trong sạch”? Khi “phe tạo phản” kiểm tra hồ sơ của Giang, họ đã không thể biết về những rắc rối lớn trong quá khứ của Giang đã bị ông ta giấu diếm.
Vào năm 2005, Giang Trạch Dân đã phát hành ầm ĩ cuốn sách “Người đã thay đổi Trung Quốc”, một cuốn tiểu sử được xuất bản bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Trung, mà ông ta đã ủy thác cho một thương nhân người Mỹ tên là Robert Kuhn viết. Cuốn sách đã đại biểu cho nỗ lực công khai của Giang nhằm đánh bóng tiểu sử cá nhân vốn đã được ông ta che giấu từ lâu.
Quá khứ có câu “lạy ông tôi ở bụi này”. Trong cuốn sách tâng bốc và thêu dệt tiểu sử của Giang, người ta để ý rằng một từ đã được lặp đi lặp lại rất nhiều lần: yêu nước. Phần mô tả thời gian ông ta học ở Trường Đại học Trung ương Nam Kinh của quân Nhật, với đủ tính ly kỳ, có tựa đề là “Tôi là người yêu nước”. Nhưng lòng ái quốc là một vấn đề bổn phận của công dân và hầu như là thứ gì đó có sẵn, là sự trung thành với mảnh đất đã nuôi dưỡng bạn. Một người có tiểu sử trong sạch hiếm khi cần phô trương sự yêu nước của mình trước công chúng.
Một thực tế đơn giản là người cha đẻ của Giang đã chạy trốn và phục vụ cho quân chiếm đóng Nhật Bản. Trong nửa sau cuộc đời của Giang – thậm chí khi được kể trong cuốn tiểu sử mà Giang đã yêu cầu người khác viết – Giang nhanh chóng tránh nói về cha của mình. Điều duy nhất được đề cập đến trong cuốn tiểu sử của ông ta là, “Cha của Giang mất năm 1973.”
Giang tuyên bố bịa đặt rằng ông ta được nhận nuôi từ năm 13 tuổi bởi gia đình người chú, đảng viên cộng sản Giang Thượng Thanh; nhưng nó cho thấy việc nhận nuôi đã diễn ra ngay sau khi người chú qua đời. Giang Trạch Dân đã tốt nghiệp đại học vào tuổi 21. Và có lý do để thắc mắc: Ai đã nuôi Giang giữa lúc ông ta 13 tuổi và 21 tuổi? Con gái của Giang Thượng Thanh, Giang Trạch Huệ, đã nói với Kuhn rằng gia đình họ sống trong cảnh “vô cùng bần cùng và đói khổ” [2]. Nếu là như vậy, thì ai là người đã trả học phí để Giang Trạch Dân học tập tại một trường trung học dành cho quý tộc và Trường Đại học Trung ương Nam Kinh? Ai là người đã chi trả để Giang học nghệ thuật và âm nhạc trong những năm loạn lạc, chiến tranh và lạm phát phi mã ấy? Ai đã cho ông ta lái một chiếc xe jeep ngay sau khi tốt nghiệp đại học (theo như Kohn ám chỉ)? Nói cách khác, ai khác ngoài người bố đẻ đã hậu thuẫn cho ông ta? Liệu Giang Thượng Thanh, người đã qua đời bảy tám năm trước, thực sự có thể làm được vậy không?
Sự thực là cuộc đời của Giang Trạch Dân chẳng có quan hệ gì với người được coi là bố nuôi của ông ta. Chẳng phải là sau khi ĐCSTQ nắm quyền tại Trung Quốc thì Giang mới đột nhiên “nhớ lại” rằng ông ta có một liệt sĩ đảng cộng sản (người chú) trong gia đình? Ông ta đã phát minh ra một quá khứ, trong đó ông ta từ bỏ người bố đẻ và trở thành đứa con nuôi của một người đàn ông đã mất. Tuy nhiên, phần này của câu chuyện sẽ được chúng tôi trở lại sau.
Trên đây không phải là để ám chỉ rằng tính cách hay giá trị của một người chỉ là sản phẩm đơn thuần của thân thế người đó. Thay vào đó, nó gợi ý rằng chúng ta có thể bắt đầu vạch trần bản chất dối trá của Giang bằng cách xem xét xuất thân mà đa phần được che giấu và ngụy tạo, cũng như quá khứ của ông ta. Trong những năm gần đây, Giang còn đi xa hơn nữa khi nói bóng gió rằng cha ông ta – một tên Hán gian – thực ra là một anh hùng khi chiến đấu với quân Nhật. Theo như lời của người em họ ông ta, Trạch Huệ “Cả gia đình tôi đều theo cách mạng” [3] “Đàn ông nhà họ Giang đều đi đánh giặc” [4] và “Tất cả đều tham gia cách mạng, chiến đấu với quân xâm lược Nhật Bản và Quốc Dân đảng” [5]. Đối với những độc giả tại Trung Quốc mà không biết những tình tiết về thân thế gia đình họ Giang, những lời phát ngôn như vậy rất dễ lừa gạt họ.
Cái loa chính thức của chính quyền ĐCSTQ, Nhân dân Nhật báo, đã đưa tin vào ngày 11 tháng 12 năm 1999 rằng Giang Trạch Dân và lãnh đạo Nga lúc đó là Boris Yeltsin đã ký tại Bắc Kinh ba hiệp ước về biên giới Nga-Trung. Nhưng thật khó tin là cuộc họp như vậy lại không được đề cập tới trong cuốn tiểu sử do Kuhn viết, trong khi những thứ vặt vãnh như là Giang đã hát một bài hát nào đó lúc nào và ở đâu, và những chi tiết không quan trọng về cuộc họp của ông ta với các lãnh đạo nổi tiếng lại được ghi trong đó. Tại sao Kuhn bỏ qua một cuộc họp cấp nhà nước, và về một vấn đề quan trọng như ký hiệp ước biên giới với Yeltsin? Nguyên là trong cuộc họp đó, Giang đã công nhận về mặt ngoại giao tất cả các hiệp ước không công bằng [với Nga] từ cuối thời Mãn Thanh – những hiệp ước mà không chính phủ Trung Quốc nào trước đó đã thừa nhận. Thứ mà Giang đã ký hoàn toàn là một điều ước của kẻ bán nước, trong đó làm mất những vùng đất hợp pháp mà các thế hệ sau có thể phải đi đòi lại. Hiệp ước này nhượng cho Nga hơn 1 triệu km vuông đất màu mỡ – vùng đất rộng gấp hơn 30 lần đảo Đài Loan. Thấy rằng lực lượng người Hoa lớn mạnh trên toàn thế giới có thể bắt ông ta phải giải thích về hiệp ước bán nước, Giang Trạch Dân đã cố gắng tô vẽ lại quá khứ của mình. Ông ta không nhận ra rằng thủ đoạn đó chỉ là tự chuốc lấy thất bại mà thôi.
Trong cuốn sách của ông ta, Giang tự cho mình là một lãnh đạo có trách nhiệm, người quan tâm sâu sắc đến cuộc sống và sự đau khổ của người dân Trung Quốc. Nhưng hãy xem Giang đang làm gì trong trận lụt lớn ập vào Trung Hoa năm 1998. Vào đầu tháng 9, khi vô số người đang phải chiến đấu với nạn lụt và ở bên bờ vực của cái chết, thì Giang mời một số nam nữ diễn viên điện ảnh tới một bữa tiệc tại tổ hợp lãnh đạo Trung Nam Hải ở Bắc Kinh. Kuhn miêu tả nó là “ý tưởng của Giang Trạch Dân cho một thời điểm tốt đẹp”. Lúc gặp mặt, Giang đã hát song ca với một nữ ca sĩ những bản tình ca thời xưa của Nga, chẳng hạn như “Chiều Matxcơva” (Moscow Nights) [6]. Chúng tôi nghe kể rằng trong một lúc cao hứng, ông ta đã gia nhập đám đông và hát bài “Đại dương là quê hương tôi”. Kuhn tô vẽ nó thành “Giang đặc biệt”, người đã chớp lấy thời cơ, dường như “không còn sự cản trở của nghệ thuật” [7]. Thật là nực cười. Trong khi người dân Trung Quốc đang vật lộn trong vô vọng với sóng lũ, lụt lội như ở đại dương, thì Giang đang hát bài “Đại dương là quê hương tôi” với những người bạn gái ở Trung Nam Hải. Đáng buồn thay, nhưng cũng không có gì ngạc nhiên lắm khi Giang, một người sẵn sàng giấu diếm xuất thân Hán gian của ông ta để leo lên vị trí cao, ít quan tâm đến sinh mạng các công dân của mình.
Trong tác phẩm của Kuhn, Giang xuất hiện như một hình mẫu của lối sống đạm bạc và việc chiến đấu chống lại tham nhũng. Nhưng trong khi sự gia tăng của nạn tham nhũng bao trùm khắp Trung Quốc trong những năm vừa qua như mọi người đã biết, ít người nhận ra rằng gốc rễ của vấn đề không nằm ở ai khác ngoài Giang Trạch Dân cùng gia tộc ông ta. Nhờ đó những người con trai thiếu năng lực và bằng cấp của ông ta, đã xoay sở để xây dựng gia đình Giang trở thành một đế chế giàu có. Chúng là, người ta có thể nói, “Trung Quốc đệ nhất tham”.
Người ta đã đồn đãi từ lâu rằng Giang từng lặn lội giữa đêm tuyết rơi để đến đưa bánh sinh nhật cho bồ nhí của chủ tịch Thượng Hải lúc ấy là Lý Tiên Niệm. Lý đang có khách vào lúc ấy, nên Giang đã đứng đợi nhiều giờ đồng hồ ở bên ngoài để chứng tỏ lòng trung thành. Câu chuyện này là hoàn toàn kỳ lạ và không thể xác thực được. Vì một số lý do lạ lùng – có lẽ là một lương tâm tội lỗi? – trong tiểu sử của mình, Giang đã cố gắng bảo vệ việc đưa bánh, sự kiện thực sự đóng vai trò xác thực câu chuyện kỳ lạ này. Giang nói với độc giả rằng ông ta quan tâm tới lãnh đạo của mình và rằng chiếc bánh là “chiếc bánh cuối cùng trong khách sạn” [8]. Ông ta cũng tuyên bố rằng mục đích của ông ta là đạt đến sự đồng thuận và “xây dựng mối quan hệ với những người đúng đắn” [9]. Giả sử rằng chúng ta chấp nhận luận điểm này, thế thì nó cũng đúng như việc nói rằng Trung Quốc là không có tham nhũng và hối lộ – không phải mỗi hành động như thế chỉ là một vấn đề “quan tâm đến lãnh đạo” hay “đạt được sự đồng thuận và xây dựng mối quan hệ”? Điều này cũng tương đương với hợp pháp hóa tham nhũng.
Việc Giang Trạch Dân thăng quan tiến chức nhanh chóng trong nấc thang quyền lực phụ thuộc vào hai yếu tố. Thứ nhất là việc ngụy tạo câu chuyện về xuất thân trong gia đình liệt sĩ của ông ta, điều giúp Giang giành được đồng minh chính trị với Uông Đạo Hàm và Trương Ái Bình; cả hai người này sau đó đã liên tục thăng chức cho Giang. Điều đáng nói là hai người này là bạn của người chú của Giang. Thứ hai là khả năng của ông ta khi nịnh nọt thượng cấp và giành được cảm tình từ lãnh đạo Đảng. Cuối cùng thì hai điểm này đã cho phép Giang cướp được ngai vàng.
Sau khi giành được quyền lực, Giang Trạch Dân như mắc bệnh điên và bắt đầu làm những trò hề như nhảy múa và hát hò trong các cuộc giao lưu ngoại giao quốc tế. Những cử chỉ nực cười đi ngược lại các nghi lễ ngoại giao và sự tôn nghiêm dân tộc của Trung Quốc đó dường như nằm ngoài tâm trí của Giang. Thông qua chuyện phá hoại danh dự của Trung Quốc này, mà Giang giành được danh hiệu “thằng hề”. Trong một buổi gặp gỡ với Nhà vua Tây Ban Nha, ông ta đột nhiên rút ra một chiếc lược và tự chải đầu, để những người ở đó nhìn thấy rõ. Một dịp khác, khi ông ta được tặng Huân chương, ông ta không thể chờ được và chộp lấy chiếc Huân chương rồi tự đeo cho mình. Một lần, đang trong bữa tiệc quốc gia, ông ta thình lình mời một đệ nhất phu nhân người ngoại quốc khiêu vũ cùng. Ông ta nhảy lên từ chiếc ghế để hát bài “O Sole Mio,” vừa gõ bàn phím piano vừa dán cặp mắt đắm đuối vào các quý cô. Những trò hề của ông ta đã trở thành kho chuyện cười cho giới báo chí phương Tây. Chúng ta hãy xem cuộc gặp của ông ta với cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton. Giang đã viếng thăm Hoa Kỳ vào năm 1993 và 1997, và Clinton đã viếng thăm Trung Quốc vào năm 1998. Mỗi lần họ gặp nhau, Giang lại chơi một số nhạc cụ hoặc hát. Sau khi biểu diễn, ông ta lần nào cũng yêu cầu Clinton chơi kèn saxophone, điều mà Clinton từ chối một cách kiên quyết dù cho ông là một chuyên gia âm nhạc. Vào năm 1997, trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Giang, một nhà báo đã nêu ra vấn đề Tây Tạng trong một cuộc họp báo. Giang đã bất ngờ hát to bài “Nhà ở nơi xa,” trước sự bối rối của khán giả. Điển hình là Giang thường nhắc lại bài diễn văn Gettysburg của cựu lãnh đạo Abraham Lincoln. Khi nói chuyện với các sinh viên, trả lời các cuộc phỏng vấn báo chí, hay thậm chí viếng thăm nước ngoài, Giang thường kiếm cớ để nhắc lại bài diễn văn này. Khi được yêu cầu, ông ta ngoan ngoãn nhắc lại nó; khi không được yêu cầu, ông ta cũng nhắc lại y hệt. Rất hiếm khi một nguyên thủ quốc gia làm điều như vậy ở đây.
Một điều còn phi lý hơn nữa là sự ám ảnh của Giang trong việc nói ngoại ngữ. Trong lần viếng thăm Châu Mỹ La-tinh, Giang – bất chấp tuổi tác và lờ đi các vấn đề quan trọng của quốc gia – đã dành vài tháng tham dự một lớp học tiếng Tây Ban Nha tăng cường. Giang hành xử như một thằng hề, và vì đã được ngai vàng một cách ngẫu nhiên, ông ta khó có thể thay đổi bản tính phô trương của mình. Trong bản tiếng Trung của cuốn tiểu sử, ông ta lý sự: “Nếu bạn không thể giao tiếp với người khác vì sự khác biệt ngôn ngữ, làm sao bạn có thể trao đổi ý tưởng hay đạt được thoả thuận?” Nhưng các lý lẽ thông thường chứng tỏ rằng kỹ năng ngôn ngữ vụng về khó có thể đủ để Giang có được sự giao tiếp thông minh và biểu cảm. Nhiều nguyên thủ quốc gia nói ngôn ngữ mẹ đẻ của họ và cần một thông dịch viên. Chẳng lẽ họ không thể đạt được những thoả hiệp trong các giao lưu ngoại giao?
Có lẽ là vì lãnh đạo của các quốc gia cộng sản điển hình là bảo thủ, cho nên nhiều lãnh đạo Tây phương coi nhân vật “dễ bị kích động” Giang Trạch Dân như một kẻ lập dị của Đảng, và thấy những màn biểu diễn của ông ta thật là khôi hài.
Các lãnh đạo có tài năng thực sự và tầm nhìn rộng không mất thời gian và công sức vào những trò nực cười như vậy. Lý do Giang Trạch Dân vui tính và “dễ bị kích động” là liên quan đến khả năng pha trò vặt vãnh của ông ta giống như chú hề trong một số vở kịch vui. Các chính trị gia phương Tây đã trải thảm đỏ hoan nghênh Giang, không phải vì tài năng của ông ta, mà là vì các hợp đồng trong túi ông ta và triển vọng khai thác thị trường tiêu dùng khổng lồ của Trung Quốc. Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong những năm gần đây là nhờ tác động bởi hơn 500 tỷ đô-la vốn đầu tư nước ngoài, cùng với một lực lượng lao động rẻ mạt và vô cùng cần mẫn. Với sự đầu tư lớn như vậy, lao động rẻ, và nhiều nhân tài Trung Quốc tham gia, tất nhiên sản lượng phải cao. Nhưng đây không phải là công lao của Giang. Ngược lại, sự bất tài của Giang, tính kiêu ngạo, đố kỵ, và bảo thủ chính trị của ông ta đã cản trở sự cải cách chính trị, đi kèm với sự xuống cấp về giá trị đạo đức và nạn tham nhũng tràn lan. Hậu quả là dẫu nền kinh tế có phát triển thế nào, cái giá phải trả là sự cạn kiệt tài nguyên khổng lồ và sự suy thoái về sinh thái, môi trường và xã hội. Thực ra, sự thịnh vượng kinh tế bề mặt của Trung Quốc là sự đánh đổi với sự bền vững của môi trường. Giang đã làm hại tương lai của đất nước, để cải cách chính trị dậm chân tại chỗ nếu không muốn nói là thụt lùi, đưa tới sự lạm dụng nhân quyền và thiếu tự do tín ngưỡng. Khi đặt trong bối cảnh lịch sử, sự thống trị của Giang cuối cùng vẫn là ô nhục; ông ta đã nợ người dân Trung Quốc quá nhiều.
Khi Giang để cho Kuhn miêu tả mình, ông ta là cái gì đó của một bộ máy giải quyết vấn đề thông minh. Nhưng trên thực tế là khi một cuộc khủng hoảng ập tới – dù đó là lụt lội, đánh bom Đại sứ quán Trung Quốc ở Belgrade, bầu cử dân chủ ở Đài Loan, hay dịch bệnh SARS – Giang luôn luôn đẩy người khác lên tuyến đầu và hèn nhát đứng đằng sau. Khi dịch bệnh SARS lan rộng tại Bắc Kinh, Giang đã tham sống sợ chết và chạy trốn sang Thượng Hải để tỵ nạn. Nhưng trong bản tiếng Trung cuốn tiểu sử của mình, ông ta tuyên bố rằng ông ta đã “ở lại Thượng Hải cùng với dịch bệnh”, để che đậy sự trốn chạy của mình. Sự thật là, chỉ vài ngày trước chuyến bay, Giang đã ở Bắc Kinh để phát biểu tại Đại Lễ đường Nhân dân và Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân. Dựa trên cơ sở nào mà ông ta sử dụng câu “ở lại Thượng Hải cùng với dịch bệnh” để chạy tội cho chính mình?
Khi không lập bè kết phái hay đi công du nước ngoài để hát hò và thể hiện, điều Giang Trạch Dân để tâm nhất là việc cấp tốc đàn áp Pháp Luân Công. Khi mà thế giới bên ngoài biết rõ là Giang đã đi quá xa khi phân phát những cuốn sách nhỏ phỉ báng Pháp Luân Công trong các cuộc họp ngoại giao, không mấy người biết được sự phản ứng nhanh chóng của Giang sau vụ can thiệp vào tín hiệu truyền hình của các học viên Pháp Luân Công. Vào ngày 5 tháng 3 năm 2002, các học viên Pháp Luân Công đã can thiệp vào tám kênh truyền hình cáp tại thành phố Trường Xuân và chiếu đoạn phim dài 45 phút về cuộc đàn áp đối với họ. Để nhắc lại buổi tối ngày hôm đó, cuốn sách của Kuhn trích lời một người bạn thân của Giang tại Trường Xuân. Người đó nói rằng 10 phút sau khi sự can thiệp kết thúc (9 giờ 10 phút tối), Giang Trạch Dân đã nổi khùng và gọi điện: “Các phần tử Pháp Luân Công đang phát sóng trên hệ thống truyền hình cáp của Trường Xuân!” “Ai là bí thư Thành ủy hay thị trưởng thành phố?” [10] Sự phản ứng nhanh chóng của Giang với sự kiện này – xảy ra ở một nơi cách xa Bắc Kinh – và nỗ lực đe dọa của ông ta với người Bí thư Thành ủy, đã cho thấy rằng Giang thực ra là tổng chỉ huy của cuộc đàn áp Pháp Luân Công; ông ta là người chỉ thị trực tiếp về vấn đề này; và chính ông ta đã ra các mệnh lệnh. Ngược lại, khi Đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade bị đánh bom, Giang Trạch Dân đã ở đâu đó trong nhiều ngày mà không ai tìm thấy.
Trong cuốn tiểu sử của mình, Giang luôn cố gắng tự biện hộ cho bản thân, với thủ pháp là trích dẫn câu nói của chính mình, để tạo ra bất cứ hình ảnh nào mà ông ta thích và tô vẽ mọi thứ. Nhưng có quan chức Trung Quốc nào mà bị kết án tham nhũng lại chưa từng tuyên bố trong một cuộc họp rằng ông ta “chống tham nhũng”? Hành động có thể nói nhiều hơn cả lời nói. Điều này lại càng đúng với một nhân vật lẻo mép và thích hát hò như Giang Trạch Dân.
Việc Giang bất hiếu với người cha đẻ của mình, bất trung với các tổ chức, và thiếu trung thực với nhân dân đã khiến ông ta trở thành kẻ “bất nhân, bất nghĩa, bất lễ, bất trí, bất tín” [11] – một tên hề mang lại tai họa cho đất nước Trung Hoa. Việc cho phép Giang Trạch Dân hoang ngôn và viết lại tiểu sử chính là làm hại các thế hệ sau.
Tiểu sử của Giang, bạn có thể nói, tương ứng với cuộc đời của ông ta: đầy rẫy sự dối trá và mâu thuẫn.
Nếu thế hệ chúng ta có thể đảm trách sứ mệnh là nhân chứng của lịch sử, vậy thì hãy trả lại cho lịch sử những gì thực sự là của Giang Trạch Dân. Đây là trách nhiệm không thể thoái thác của tất cả chúng ta.
—
Ghi chú:
[1] Dưới sự thống trị của cộng sản tại Trung Quốc, những ghi chép về mỗi cá nhân, gọi là “lý lịch”, được lưu giữ bởi nhà cầm quyền, trong đó có chi tiết về những hành vi của mỗi cá nhân, nhận thức chính trị, xuất thân gia đình, việc xuất ngoại và nhiều thứ khác như là một phương tiện để giám sát và kiểm soát dân chúng.
[2] Robert Lawrence Kuhn, “Người đã thay đổi Trung Quốc: Cuộc đời và di sản của Giang Trạch Dân” (New York: Crown, 2004), tr 31.
[3] Kuhn, Người đã thay đổi Trung Quốc, tr 33.
[4] Sách đã dẫn, tr 32.
[5] Sách đã dẫn, tr 34.
[6] Sách đã dẫn, tr 366.
[7] Sách đã dẫn, tr 369.
[8] Sách đã dẫn, tr 125.
[9] Sách đã dẫn, tr 124.
[10] Sách đã dẫn, tr 490.
[11] Điều này trái ngược với những đức hạnh chính yếu của con người được miêu tả bởi Khổng Tử là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Hãy trả lại cho lịch sử những gì thực sự là của Giang Trạch Dân. Đây là trách nhiệm không thể thoái thác của tất cả chúng ta.
Nếu như số phận quyết định vận mệnh của một người, thì sự an bài của lịch sử cũng có khả năng dàn xếp cho một sinh mệnh có xuất thân đáng xấu hổ.
Khi Giang Trạch Dân tham dự buổi thảo luận với một đoàn đại biểu tỉnh Hồ Bắc trong một cuộc họp Quốc hội của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vào ngày 12 tháng 3 năm 2003, ông ta nói: “Tôi từng là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nồi hơi Vũ Hán từ năm 1966 đến năm 1970. Đó là vào thời kỳ Cách mạng Văn hóa… phe tạo phản [trích dẫn nguyên văn] đã cẩn thận xem xét hồ sơ [1] cá nhân của tôi. Được thôi, vì điều đó đã chứng tỏ rằng tôi có một quá khứ trong sạch.”
Có lẽ những thính giả của Giang lúc ấy không hiểu được mục đích của ông ta là gì. Tại sao Giang – Tổng bí thư của ĐCSTQ – cần tự thanh minh về “quá khứ trong sạch” của mình?
Lý do nằm ở tiểu sử của Giang có vấn đề. Cha đẻ của ông ta, Giang Thế Tuấn (còn được biết đến với cái tên Giang Quan Thiên), là một tên Hán gian làm việc cho người Nhật khi họ chiếm đóng Trung Quốc. Trường đại học mà Giang từng theo học, Đại học Trung ương Nam Kinh, thực ra là được điều hành bởi quân chiếm đóng Nhật Bản. Ông ta đã bịa đặt ra rằng chú của ông ta đã nhận nuôi ông ta, mặc dù người chú của ông ta kỳ thực đã qua đời vào thời gian ấy. Khi được đào tạo ở Nga, có thời gian Giang đã chìm đắm trong một vụ bê bối tình ái với một phụ nữ người Nga và trở thành một điệp viên cho KGB. Và đây chỉ là một phần nhỏ của bức tranh lớn hơn nhiều, vì tiểu sử của Giang đầy rẫy những tình tiết xấu xa. Dựa trên cơ sở nào mà ông ta có thể tự nhận rằng mình có “quá khứ trong sạch”? Khi “phe tạo phản” kiểm tra hồ sơ của Giang, họ đã không thể biết về những rắc rối lớn trong quá khứ của Giang đã bị ông ta giấu diếm.
Vào năm 2005, Giang Trạch Dân đã phát hành ầm ĩ cuốn sách “Người đã thay đổi Trung Quốc”, một cuốn tiểu sử được xuất bản bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Trung, mà ông ta đã ủy thác cho một thương nhân người Mỹ tên là Robert Kuhn viết. Cuốn sách đã đại biểu cho nỗ lực công khai của Giang nhằm đánh bóng tiểu sử cá nhân vốn đã được ông ta che giấu từ lâu.
Quá khứ có câu “lạy ông tôi ở bụi này”. Trong cuốn sách tâng bốc và thêu dệt tiểu sử của Giang, người ta để ý rằng một từ đã được lặp đi lặp lại rất nhiều lần: yêu nước. Phần mô tả thời gian ông ta học ở Trường Đại học Trung ương Nam Kinh của quân Nhật, với đủ tính ly kỳ, có tựa đề là “Tôi là người yêu nước”. Nhưng lòng ái quốc là một vấn đề bổn phận của công dân và hầu như là thứ gì đó có sẵn, là sự trung thành với mảnh đất đã nuôi dưỡng bạn. Một người có tiểu sử trong sạch hiếm khi cần phô trương sự yêu nước của mình trước công chúng.
Một thực tế đơn giản là người cha đẻ của Giang đã chạy trốn và phục vụ cho quân chiếm đóng Nhật Bản. Trong nửa sau cuộc đời của Giang – thậm chí khi được kể trong cuốn tiểu sử mà Giang đã yêu cầu người khác viết – Giang nhanh chóng tránh nói về cha của mình. Điều duy nhất được đề cập đến trong cuốn tiểu sử của ông ta là, “Cha của Giang mất năm 1973.”
Giang tuyên bố bịa đặt rằng ông ta được nhận nuôi từ năm 13 tuổi bởi gia đình người chú, đảng viên cộng sản Giang Thượng Thanh; nhưng nó cho thấy việc nhận nuôi đã diễn ra ngay sau khi người chú qua đời. Giang Trạch Dân đã tốt nghiệp đại học vào tuổi 21. Và có lý do để thắc mắc: Ai đã nuôi Giang giữa lúc ông ta 13 tuổi và 21 tuổi? Con gái của Giang Thượng Thanh, Giang Trạch Huệ, đã nói với Kuhn rằng gia đình họ sống trong cảnh “vô cùng bần cùng và đói khổ” [2]. Nếu là như vậy, thì ai là người đã trả học phí để Giang Trạch Dân học tập tại một trường trung học dành cho quý tộc và Trường Đại học Trung ương Nam Kinh? Ai là người đã chi trả để Giang học nghệ thuật và âm nhạc trong những năm loạn lạc, chiến tranh và lạm phát phi mã ấy? Ai đã cho ông ta lái một chiếc xe jeep ngay sau khi tốt nghiệp đại học (theo như Kohn ám chỉ)? Nói cách khác, ai khác ngoài người bố đẻ đã hậu thuẫn cho ông ta? Liệu Giang Thượng Thanh, người đã qua đời bảy tám năm trước, thực sự có thể làm được vậy không?
Sự thực là cuộc đời của Giang Trạch Dân chẳng có quan hệ gì với người được coi là bố nuôi của ông ta. Chẳng phải là sau khi ĐCSTQ nắm quyền tại Trung Quốc thì Giang mới đột nhiên “nhớ lại” rằng ông ta có một liệt sĩ đảng cộng sản (người chú) trong gia đình? Ông ta đã phát minh ra một quá khứ, trong đó ông ta từ bỏ người bố đẻ và trở thành đứa con nuôi của một người đàn ông đã mất. Tuy nhiên, phần này của câu chuyện sẽ được chúng tôi trở lại sau.
Trên đây không phải là để ám chỉ rằng tính cách hay giá trị của một người chỉ là sản phẩm đơn thuần của thân thế người đó. Thay vào đó, nó gợi ý rằng chúng ta có thể bắt đầu vạch trần bản chất dối trá của Giang bằng cách xem xét xuất thân mà đa phần được che giấu và ngụy tạo, cũng như quá khứ của ông ta. Trong những năm gần đây, Giang còn đi xa hơn nữa khi nói bóng gió rằng cha ông ta – một tên Hán gian – thực ra là một anh hùng khi chiến đấu với quân Nhật. Theo như lời của người em họ ông ta, Trạch Huệ “Cả gia đình tôi đều theo cách mạng” [3] “Đàn ông nhà họ Giang đều đi đánh giặc” [4] và “Tất cả đều tham gia cách mạng, chiến đấu với quân xâm lược Nhật Bản và Quốc Dân đảng” [5]. Đối với những độc giả tại Trung Quốc mà không biết những tình tiết về thân thế gia đình họ Giang, những lời phát ngôn như vậy rất dễ lừa gạt họ.
Cái loa chính thức của chính quyền ĐCSTQ, Nhân dân Nhật báo, đã đưa tin vào ngày 11 tháng 12 năm 1999 rằng Giang Trạch Dân và lãnh đạo Nga lúc đó là Boris Yeltsin đã ký tại Bắc Kinh ba hiệp ước về biên giới Nga-Trung. Nhưng thật khó tin là cuộc họp như vậy lại không được đề cập tới trong cuốn tiểu sử do Kuhn viết, trong khi những thứ vặt vãnh như là Giang đã hát một bài hát nào đó lúc nào và ở đâu, và những chi tiết không quan trọng về cuộc họp của ông ta với các lãnh đạo nổi tiếng lại được ghi trong đó. Tại sao Kuhn bỏ qua một cuộc họp cấp nhà nước, và về một vấn đề quan trọng như ký hiệp ước biên giới với Yeltsin? Nguyên là trong cuộc họp đó, Giang đã công nhận về mặt ngoại giao tất cả các hiệp ước không công bằng [với Nga] từ cuối thời Mãn Thanh – những hiệp ước mà không chính phủ Trung Quốc nào trước đó đã thừa nhận. Thứ mà Giang đã ký hoàn toàn là một điều ước của kẻ bán nước, trong đó làm mất những vùng đất hợp pháp mà các thế hệ sau có thể phải đi đòi lại. Hiệp ước này nhượng cho Nga hơn 1 triệu km vuông đất màu mỡ – vùng đất rộng gấp hơn 30 lần đảo Đài Loan. Thấy rằng lực lượng người Hoa lớn mạnh trên toàn thế giới có thể bắt ông ta phải giải thích về hiệp ước bán nước, Giang Trạch Dân đã cố gắng tô vẽ lại quá khứ của mình. Ông ta không nhận ra rằng thủ đoạn đó chỉ là tự chuốc lấy thất bại mà thôi.
Trong cuốn sách của ông ta, Giang tự cho mình là một lãnh đạo có trách nhiệm, người quan tâm sâu sắc đến cuộc sống và sự đau khổ của người dân Trung Quốc. Nhưng hãy xem Giang đang làm gì trong trận lụt lớn ập vào Trung Hoa năm 1998. Vào đầu tháng 9, khi vô số người đang phải chiến đấu với nạn lụt và ở bên bờ vực của cái chết, thì Giang mời một số nam nữ diễn viên điện ảnh tới một bữa tiệc tại tổ hợp lãnh đạo Trung Nam Hải ở Bắc Kinh. Kuhn miêu tả nó là “ý tưởng của Giang Trạch Dân cho một thời điểm tốt đẹp”. Lúc gặp mặt, Giang đã hát song ca với một nữ ca sĩ những bản tình ca thời xưa của Nga, chẳng hạn như “Chiều Matxcơva” (Moscow Nights) [6]. Chúng tôi nghe kể rằng trong một lúc cao hứng, ông ta đã gia nhập đám đông và hát bài “Đại dương là quê hương tôi”. Kuhn tô vẽ nó thành “Giang đặc biệt”, người đã chớp lấy thời cơ, dường như “không còn sự cản trở của nghệ thuật” [7]. Thật là nực cười. Trong khi người dân Trung Quốc đang vật lộn trong vô vọng với sóng lũ, lụt lội như ở đại dương, thì Giang đang hát bài “Đại dương là quê hương tôi” với những người bạn gái ở Trung Nam Hải. Đáng buồn thay, nhưng cũng không có gì ngạc nhiên lắm khi Giang, một người sẵn sàng giấu diếm xuất thân Hán gian của ông ta để leo lên vị trí cao, ít quan tâm đến sinh mạng các công dân của mình.
Trong tác phẩm của Kuhn, Giang xuất hiện như một hình mẫu của lối sống đạm bạc và việc chiến đấu chống lại tham nhũng. Nhưng trong khi sự gia tăng của nạn tham nhũng bao trùm khắp Trung Quốc trong những năm vừa qua như mọi người đã biết, ít người nhận ra rằng gốc rễ của vấn đề không nằm ở ai khác ngoài Giang Trạch Dân cùng gia tộc ông ta. Nhờ đó những người con trai thiếu năng lực và bằng cấp của ông ta, đã xoay sở để xây dựng gia đình Giang trở thành một đế chế giàu có. Chúng là, người ta có thể nói, “Trung Quốc đệ nhất tham”.
Người ta đã đồn đãi từ lâu rằng Giang từng lặn lội giữa đêm tuyết rơi để đến đưa bánh sinh nhật cho bồ nhí của chủ tịch Thượng Hải lúc ấy là Lý Tiên Niệm. Lý đang có khách vào lúc ấy, nên Giang đã đứng đợi nhiều giờ đồng hồ ở bên ngoài để chứng tỏ lòng trung thành. Câu chuyện này là hoàn toàn kỳ lạ và không thể xác thực được. Vì một số lý do lạ lùng – có lẽ là một lương tâm tội lỗi? – trong tiểu sử của mình, Giang đã cố gắng bảo vệ việc đưa bánh, sự kiện thực sự đóng vai trò xác thực câu chuyện kỳ lạ này. Giang nói với độc giả rằng ông ta quan tâm tới lãnh đạo của mình và rằng chiếc bánh là “chiếc bánh cuối cùng trong khách sạn” [8]. Ông ta cũng tuyên bố rằng mục đích của ông ta là đạt đến sự đồng thuận và “xây dựng mối quan hệ với những người đúng đắn” [9]. Giả sử rằng chúng ta chấp nhận luận điểm này, thế thì nó cũng đúng như việc nói rằng Trung Quốc là không có tham nhũng và hối lộ – không phải mỗi hành động như thế chỉ là một vấn đề “quan tâm đến lãnh đạo” hay “đạt được sự đồng thuận và xây dựng mối quan hệ”? Điều này cũng tương đương với hợp pháp hóa tham nhũng.
Việc Giang Trạch Dân thăng quan tiến chức nhanh chóng trong nấc thang quyền lực phụ thuộc vào hai yếu tố. Thứ nhất là việc ngụy tạo câu chuyện về xuất thân trong gia đình liệt sĩ của ông ta, điều giúp Giang giành được đồng minh chính trị với Uông Đạo Hàm và Trương Ái Bình; cả hai người này sau đó đã liên tục thăng chức cho Giang. Điều đáng nói là hai người này là bạn của người chú của Giang. Thứ hai là khả năng của ông ta khi nịnh nọt thượng cấp và giành được cảm tình từ lãnh đạo Đảng. Cuối cùng thì hai điểm này đã cho phép Giang cướp được ngai vàng.
Sau khi giành được quyền lực, Giang Trạch Dân như mắc bệnh điên và bắt đầu làm những trò hề như nhảy múa và hát hò trong các cuộc giao lưu ngoại giao quốc tế. Những cử chỉ nực cười đi ngược lại các nghi lễ ngoại giao và sự tôn nghiêm dân tộc của Trung Quốc đó dường như nằm ngoài tâm trí của Giang. Thông qua chuyện phá hoại danh dự của Trung Quốc này, mà Giang giành được danh hiệu “thằng hề”. Trong một buổi gặp gỡ với Nhà vua Tây Ban Nha, ông ta đột nhiên rút ra một chiếc lược và tự chải đầu, để những người ở đó nhìn thấy rõ. Một dịp khác, khi ông ta được tặng Huân chương, ông ta không thể chờ được và chộp lấy chiếc Huân chương rồi tự đeo cho mình. Một lần, đang trong bữa tiệc quốc gia, ông ta thình lình mời một đệ nhất phu nhân người ngoại quốc khiêu vũ cùng. Ông ta nhảy lên từ chiếc ghế để hát bài “O Sole Mio,” vừa gõ bàn phím piano vừa dán cặp mắt đắm đuối vào các quý cô. Những trò hề của ông ta đã trở thành kho chuyện cười cho giới báo chí phương Tây. Chúng ta hãy xem cuộc gặp của ông ta với cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton. Giang đã viếng thăm Hoa Kỳ vào năm 1993 và 1997, và Clinton đã viếng thăm Trung Quốc vào năm 1998. Mỗi lần họ gặp nhau, Giang lại chơi một số nhạc cụ hoặc hát. Sau khi biểu diễn, ông ta lần nào cũng yêu cầu Clinton chơi kèn saxophone, điều mà Clinton từ chối một cách kiên quyết dù cho ông là một chuyên gia âm nhạc. Vào năm 1997, trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Giang, một nhà báo đã nêu ra vấn đề Tây Tạng trong một cuộc họp báo. Giang đã bất ngờ hát to bài “Nhà ở nơi xa,” trước sự bối rối của khán giả. Điển hình là Giang thường nhắc lại bài diễn văn Gettysburg của cựu lãnh đạo Abraham Lincoln. Khi nói chuyện với các sinh viên, trả lời các cuộc phỏng vấn báo chí, hay thậm chí viếng thăm nước ngoài, Giang thường kiếm cớ để nhắc lại bài diễn văn này. Khi được yêu cầu, ông ta ngoan ngoãn nhắc lại nó; khi không được yêu cầu, ông ta cũng nhắc lại y hệt. Rất hiếm khi một nguyên thủ quốc gia làm điều như vậy ở đây.
Một điều còn phi lý hơn nữa là sự ám ảnh của Giang trong việc nói ngoại ngữ. Trong lần viếng thăm Châu Mỹ La-tinh, Giang – bất chấp tuổi tác và lờ đi các vấn đề quan trọng của quốc gia – đã dành vài tháng tham dự một lớp học tiếng Tây Ban Nha tăng cường. Giang hành xử như một thằng hề, và vì đã được ngai vàng một cách ngẫu nhiên, ông ta khó có thể thay đổi bản tính phô trương của mình. Trong bản tiếng Trung của cuốn tiểu sử, ông ta lý sự: “Nếu bạn không thể giao tiếp với người khác vì sự khác biệt ngôn ngữ, làm sao bạn có thể trao đổi ý tưởng hay đạt được thoả thuận?” Nhưng các lý lẽ thông thường chứng tỏ rằng kỹ năng ngôn ngữ vụng về khó có thể đủ để Giang có được sự giao tiếp thông minh và biểu cảm. Nhiều nguyên thủ quốc gia nói ngôn ngữ mẹ đẻ của họ và cần một thông dịch viên. Chẳng lẽ họ không thể đạt được những thoả hiệp trong các giao lưu ngoại giao?
Có lẽ là vì lãnh đạo của các quốc gia cộng sản điển hình là bảo thủ, cho nên nhiều lãnh đạo Tây phương coi nhân vật “dễ bị kích động” Giang Trạch Dân như một kẻ lập dị của Đảng, và thấy những màn biểu diễn của ông ta thật là khôi hài.
Các lãnh đạo có tài năng thực sự và tầm nhìn rộng không mất thời gian và công sức vào những trò nực cười như vậy. Lý do Giang Trạch Dân vui tính và “dễ bị kích động” là liên quan đến khả năng pha trò vặt vãnh của ông ta giống như chú hề trong một số vở kịch vui. Các chính trị gia phương Tây đã trải thảm đỏ hoan nghênh Giang, không phải vì tài năng của ông ta, mà là vì các hợp đồng trong túi ông ta và triển vọng khai thác thị trường tiêu dùng khổng lồ của Trung Quốc. Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong những năm gần đây là nhờ tác động bởi hơn 500 tỷ đô-la vốn đầu tư nước ngoài, cùng với một lực lượng lao động rẻ mạt và vô cùng cần mẫn. Với sự đầu tư lớn như vậy, lao động rẻ, và nhiều nhân tài Trung Quốc tham gia, tất nhiên sản lượng phải cao. Nhưng đây không phải là công lao của Giang. Ngược lại, sự bất tài của Giang, tính kiêu ngạo, đố kỵ, và bảo thủ chính trị của ông ta đã cản trở sự cải cách chính trị, đi kèm với sự xuống cấp về giá trị đạo đức và nạn tham nhũng tràn lan. Hậu quả là dẫu nền kinh tế có phát triển thế nào, cái giá phải trả là sự cạn kiệt tài nguyên khổng lồ và sự suy thoái về sinh thái, môi trường và xã hội. Thực ra, sự thịnh vượng kinh tế bề mặt của Trung Quốc là sự đánh đổi với sự bền vững của môi trường. Giang đã làm hại tương lai của đất nước, để cải cách chính trị dậm chân tại chỗ nếu không muốn nói là thụt lùi, đưa tới sự lạm dụng nhân quyền và thiếu tự do tín ngưỡng. Khi đặt trong bối cảnh lịch sử, sự thống trị của Giang cuối cùng vẫn là ô nhục; ông ta đã nợ người dân Trung Quốc quá nhiều.
Khi Giang để cho Kuhn miêu tả mình, ông ta là cái gì đó của một bộ máy giải quyết vấn đề thông minh. Nhưng trên thực tế là khi một cuộc khủng hoảng ập tới – dù đó là lụt lội, đánh bom Đại sứ quán Trung Quốc ở Belgrade, bầu cử dân chủ ở Đài Loan, hay dịch bệnh SARS – Giang luôn luôn đẩy người khác lên tuyến đầu và hèn nhát đứng đằng sau. Khi dịch bệnh SARS lan rộng tại Bắc Kinh, Giang đã tham sống sợ chết và chạy trốn sang Thượng Hải để tỵ nạn. Nhưng trong bản tiếng Trung cuốn tiểu sử của mình, ông ta tuyên bố rằng ông ta đã “ở lại Thượng Hải cùng với dịch bệnh”, để che đậy sự trốn chạy của mình. Sự thật là, chỉ vài ngày trước chuyến bay, Giang đã ở Bắc Kinh để phát biểu tại Đại Lễ đường Nhân dân và Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân. Dựa trên cơ sở nào mà ông ta sử dụng câu “ở lại Thượng Hải cùng với dịch bệnh” để chạy tội cho chính mình?
Khi không lập bè kết phái hay đi công du nước ngoài để hát hò và thể hiện, điều Giang Trạch Dân để tâm nhất là việc cấp tốc đàn áp Pháp Luân Công. Khi mà thế giới bên ngoài biết rõ là Giang đã đi quá xa khi phân phát những cuốn sách nhỏ phỉ báng Pháp Luân Công trong các cuộc họp ngoại giao, không mấy người biết được sự phản ứng nhanh chóng của Giang sau vụ can thiệp vào tín hiệu truyền hình của các học viên Pháp Luân Công. Vào ngày 5 tháng 3 năm 2002, các học viên Pháp Luân Công đã can thiệp vào tám kênh truyền hình cáp tại thành phố Trường Xuân và chiếu đoạn phim dài 45 phút về cuộc đàn áp đối với họ. Để nhắc lại buổi tối ngày hôm đó, cuốn sách của Kuhn trích lời một người bạn thân của Giang tại Trường Xuân. Người đó nói rằng 10 phút sau khi sự can thiệp kết thúc (9 giờ 10 phút tối), Giang Trạch Dân đã nổi khùng và gọi điện: “Các phần tử Pháp Luân Công đang phát sóng trên hệ thống truyền hình cáp của Trường Xuân!” “Ai là bí thư Thành ủy hay thị trưởng thành phố?” [10] Sự phản ứng nhanh chóng của Giang với sự kiện này – xảy ra ở một nơi cách xa Bắc Kinh – và nỗ lực đe dọa của ông ta với người Bí thư Thành ủy, đã cho thấy rằng Giang thực ra là tổng chỉ huy của cuộc đàn áp Pháp Luân Công; ông ta là người chỉ thị trực tiếp về vấn đề này; và chính ông ta đã ra các mệnh lệnh. Ngược lại, khi Đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade bị đánh bom, Giang Trạch Dân đã ở đâu đó trong nhiều ngày mà không ai tìm thấy.
Trong cuốn tiểu sử của mình, Giang luôn cố gắng tự biện hộ cho bản thân, với thủ pháp là trích dẫn câu nói của chính mình, để tạo ra bất cứ hình ảnh nào mà ông ta thích và tô vẽ mọi thứ. Nhưng có quan chức Trung Quốc nào mà bị kết án tham nhũng lại chưa từng tuyên bố trong một cuộc họp rằng ông ta “chống tham nhũng”? Hành động có thể nói nhiều hơn cả lời nói. Điều này lại càng đúng với một nhân vật lẻo mép và thích hát hò như Giang Trạch Dân.
Việc Giang bất hiếu với người cha đẻ của mình, bất trung với các tổ chức, và thiếu trung thực với nhân dân đã khiến ông ta trở thành kẻ “bất nhân, bất nghĩa, bất lễ, bất trí, bất tín” [11] – một tên hề mang lại tai họa cho đất nước Trung Hoa. Việc cho phép Giang Trạch Dân hoang ngôn và viết lại tiểu sử chính là làm hại các thế hệ sau.
Tiểu sử của Giang, bạn có thể nói, tương ứng với cuộc đời của ông ta: đầy rẫy sự dối trá và mâu thuẫn.
Nếu thế hệ chúng ta có thể đảm trách sứ mệnh là nhân chứng của lịch sử, vậy thì hãy trả lại cho lịch sử những gì thực sự là của Giang Trạch Dân. Đây là trách nhiệm không thể thoái thác của tất cả chúng ta.
—
Ghi chú:
[1] Dưới sự thống trị của cộng sản tại Trung Quốc, những ghi chép về mỗi cá nhân, gọi là “lý lịch”, được lưu giữ bởi nhà cầm quyền, trong đó có chi tiết về những hành vi của mỗi cá nhân, nhận thức chính trị, xuất thân gia đình, việc xuất ngoại và nhiều thứ khác như là một phương tiện để giám sát và kiểm soát dân chúng.
[2] Robert Lawrence Kuhn, “Người đã thay đổi Trung Quốc: Cuộc đời và di sản của Giang Trạch Dân” (New York: Crown, 2004), tr 31.
[3] Kuhn, Người đã thay đổi Trung Quốc, tr 33.
[4] Sách đã dẫn, tr 32.
[5] Sách đã dẫn, tr 34.
[6] Sách đã dẫn, tr 366.
[7] Sách đã dẫn, tr 369.
[8] Sách đã dẫn, tr 125.
[9] Sách đã dẫn, tr 124.
[10] Sách đã dẫn, tr 490.
[11] Điều này trái ngược với những đức hạnh chính yếu của con người được miêu tả bởi Khổng Tử là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Mọi thứ vì quyền lực: Câu chuyện có thật về Giang Trạch Dân ở Trung Quốc – Phần mở đầu
Mọi thứ vì quyền lực: Câu chuyện có thật về Giang Trạch Dân ở Trung Quốc – Phần mở đầu
http://vietsoh.net/news/2010/01/24/moi-thu-vi-quyen-luc-cau-chuyen-co-that-ve-giang-trach-dan-o-trung-quoc-phan-mo-dau.html
Để can nhiễu tiến trình Chính Pháp, cựu thế lực đã nhào nặn nên một nhân vật, một thực thể sở hữu toàn đặc điểm xấu có nguyên thần từ cửa Vô Sinh ở Ngục Vô Gián.
Oán khí nghìn năm từ triều Đường kết thành một quái thai tà ác
Vào năm Vũ Đức thứ 9 – triều đại nhà Đường năm 626 sau Công nguyên – Hoàng Đế khai quốc, Cao Tổ Lý Uyên, với sự phò tá của người con trai thứ Lý Thế Dân đã bình định thiên hạ khi 18 vương hầu tạo phản, tiêu diệt sạch 72 đạo quân và cuối cùng được an hưởng phú quý với giang sơn thống nhất. Cao Tổ có bốn người con trai: Kiến Thành, Thế Dân, Nguyên Cát, và Nguyên Bá. Trong khi Nguyên Bá chết trẻ, Kiến Thành, Thế Dân và Nguyên Cát đã tới tuổi trưởng thành và được phong danh hiệu lần lượt là, Ẩn Vương, Tần Vương và Tề Vương. Nguyên Cát đã tư thông với hai phi tần được sủng ái của Cao Tổ là Trương Diễm Tuyết và Doãn Sắt, rồi bị Tần Vương khám phá ra. Tuy sự việc chưa bị vỡ lở nhưng Nguyên Cát vẫn mang tâm oán hận đối với Thế Dân. Theo những quy tắc truyền ngôi từ xưa để lại, khi Cao Tổ qua đời, người con trai cả là Kiến Thành sẽ lên kế vị. Nhưng Thế Dân có công lao vô cùng to lớn vì gần như đã một mình gây dựng giang sơn Đại Đường. Cao Tổ thường khen ngợi Thế Dân, và điều này khiến Kiến Thành và Nguyên Cát vô cùng đố kỵ.
Và rồi, Nguyên Cát, vốn là một công tử kiêu ngạo và luôn tự cho là đúng, đã từ lâu thèm muốn ngai vàng. Kiến Thành thì nhu nhược và khá bất tài. Vì đố kỵ với Tần Vương, Nguyên Cát âm mưu ban đầu mượn Kiến Thành để trừ khử Tần Vương, rồi sau sẽ trừ khử nốt Kiến Thành.
Một ngày nọ, công chúa Bình Dương đột nhiên bệnh chết. Tất cả văn võ bá quan và các thành viên trong gia tộc đều tới tống táng. Nguyên Cát giả vờ bày tiệc rượu và mời Tần Vương đến uống rượu cùng, trong rượu bỏ vào chất kịch độc. Tần Vương tính tình khoáng đạt, chỉ tưởng rằng Kiến Thành và Nguyên Cát muốn tạ tội nên đã thản nhiên không hề nghi ngờ và nâng ly rượu lên. Nhưng như câu nói xưa, “Vương giả bất tử“, khi Tần Vương vừa đưa rượu lên miệng uống thì một chú chim én bay ngang qua, thả phân xuống làm bẩn cả ly rượu lẫn y phục của Tần Vương. Khi Tần Vương bỏ đi thay y phục thì đột nhiên cảm thấy một cơn đau xé ruột nên bèn vội vàng trở về cung, về đến nơi thì bị miệng nôn trôn tháo. Sau đó Tần Vương nảy sinh lòng nghi ngờ, đoán rằng trong rượu có độc. Vua Đường sau khi nghe chuyện, sợ rằng Tần Vương và hai người huynh đệ không thể dung hòa với nhau được nữa, bèn cử Tần Vương tới Lạc Dương để cai quản miền Đông tỉnh Thiểm Tây, dựng lập lá cờ thiên tử, giống như Lương Hiếu Vương trong triều Hán năm xưa.
Kiến Thành và Nguyên Cát vô cùng sợ hãi, biết rằng Tần Vương mưu lược hơn người, ôm ấp hoãi bão lớn như biển cả, văn thần dưới trướng có Tôn Vô Kỵ, Từ Mậu Công, Lý Thuần Phong, Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối, võ tướng có Tần Thúc Bảo (Tần Quỳnh), Trình Giảo Kim, Uất Trì Kính Đức, Lý Tĩnh. Tần Vương khi giương cao ngọn cờ nghĩa đã thu phục được nhân tâm trong thiên hạ và dường như không ai có thể ngăn cản. Bằng một độc kế khác, Kiến Thành và Nguyên Cát âm mưu điều động những đại tướng của Tần Vương đi thảo phạt quân Đột Quyết. Tần Vương thấy thế sự đã nguy cấp bèn đem những chuyện uế loạn cung đình của Kiến Thành và Nguyên Cát nói với Cao Tổ. Ngày hôm sau, Cao Tổ truyền lệnh cho Kiến Thành và Nguyên Cát vào cung đối chất xem ai đúng ai sai. Kiến Thành và Nguyên Cát không những không tuân mệnh mà còn mang khoảng 500 quân mai phục tại Huyền Vũ Môn, chỉ đợi Tần Vương đến để hạ lệnh sát thủ. Không ngờ Tần Vương đã sớm có phòng bị, mang theo áo giáp cùng quân binh tới. Kiến Thành, Nguyên Cát vừa trông thấy Tần Vương liền bắn loạn 3 mũi tên, nhưng Tần Vương đều tránh được. Tần Quỳnh bắn trả một mũi tên giết chết Kiến Thành. Nguyên Cát muốn chạy trốn nhưng đã bị giết chết bởi một mũi tên từ Uất Trì Kính Đức. Câu chuyện này vốn nổi tiếng trong lịch sử là “Sự biến Huyền Vũ Môn.”
Sau khi Nguyên Cát chết, linh hồn độc ác của hắn bị hạ xuống địa ngục để hoàn nghiệp. Diêm Vương biết chuyện hắn thông gian với sủng phi của phụ hoàng, giết hại hôn thê của Thế Dân, làm chuyện loạn luân, bỏ độc vào rượu hại Tần Vương, bắn cung ám sát Tần Vương, đều là những tội ác vi phạm luân thường, đã là thập ác bất xá. Vì thế ông đã tống Nguyên Cát vào ngục Vô Gián, đả nhập hắn vào cửa Vô Sinh. Một ngàn năm sau, cái nguyên thần từng là Nguyên Cát kia đã tiêu mất, không còn hình hài sinh mệnh tiên thiên, không có tư tưởng hoàn chỉnh, duy chỉ còn một chút khí của sự đố kỵ và hận thù. Nhưng về vấn đề này chúng tôi sẽ nói sau.
Ngay khi lên ngôi, Thế Dân xưng là Thái Tông Hoàng đế, mở ra thời Trinh Quán giàu có và thịnh vượng (627- 649 sau Công nguyên). Thái Tông nhân đức như trời bể và luôn thương xót cho bách tính. Việc kế vị ngai vàng của Thế Dân là thuận theo Thiên ý, hợp với lòng dân và ban phúc cho tất cả.
Vào năm Trinh Quán thứ 22, một nhà sư tên là Huyền Trang đã trở về từ sau một chuyến hành hương sang Ấn Độ để thỉnh kinh Phật. Thái Tông đã cho một đoàn tuỳ tùng gồm hàng trăm văn võ bá quan tới nghênh tiếp tại cầu Chu Tước. Sau đó, để kỷ niệm sự kiện này, Thái Tông đã viết cuốn “Đại Đường Tam Tạng Thánh Giáo Tự“. Thái Tông băng hà vào năm Trinh Quán thứ 23. Suốt thời gian trị vì, Thái Tông luôn bảo hộ Phật Pháp, hoằng dương cả Đạo giáo lẫn Nho giáo. Thái Tông là người đầy đủ cả nhân, nghĩa, trí, dũng, thanh tâm quả dục, tiết chế bản thân và rất yêu thương dân chúng. Ông là người có lai lịch phi phàm, tuyệt không phải là điều người thường có thể biết. Khi chuyển sinh sau này, Thái Tông vẫn tự nhiên mang theo chính khí, lúc là bậc Đế vương, khi làm vua, lúc là một viên tướng, khi là một văn nhân, lúc thì là tổ sư của một môn võ thuật.
Người ta nói rằng ngàn năm sau, đức Chuyển Luân Thánh Vương sẽ tới nhân gian, lấy danh hiệu Phật Di Lặc để truyền rộng Đại Pháp và cứu độ tất cả chúng sinh. Nhưng để can nhiễu sự việc Chính Pháp và cứu độ chúng sinh dưới danh nghĩa “hiệp trợ”, cựu thế lực của vũ trụ đã tạo ra một thực thể xấu xí có hình người nhưng cực kỳ vô chính niệm và lý tính, mang những đặc điểm như ngu xuẩn, độc ác, bại hoại, gian dối, thô tục, tự phụ, đố kỵ, và hèn nhát. Cựu thế lực đã sử dụng hắn với danh nghĩa “phù hợp” với lý tương sinh tương khắc để “khảo nghiệm” các đệ tử Đại Pháp.
Nhân vật lố bịch được chọn cho một vai trò như vậy tất nhiên rồi sẽ bị tiêu huỷ, vì nó đã phạm phải tội ác tày trời từ vạn cổ, sự tà ác của nó đã thấu lên tận trời xanh. Ai có thể đóng một vai như vậy đây? Không có ai khác ngoại trừ kẻ đang ở Ngục Vô Gián, kẻ đã mang sự oán hận sâu đậm với người sẽ hạ thế và cứu độ chúng sinh. Cựu thế lực đã phát hiện ra tên ác nhân Lý Nguyên Cát thời Đường Cao Tổ, cuối cùng chỉ còn lại những dấu vết của tà khí từ lòng đố kỵ, và đã dẫn nó chạy vào nhân gian . Thứ tà khí đó đã được dẫn nhập vào đám âm khí nặng nề trong một ngôi mộ.
Tại ngôi mộ đó có một con cóc đã ẩn nấp từ rất lâu. Khi nó mở miệng và chuẩn bị kêu thì thứ tà khí ngàn năm kia lập tức bị hút ngay vào trong bụng. Nguyên thần con cóc lập tức bị trục xuất khỏi thân thể và chuyển sinh đâu đó, trong khi thứ tà khí kia trở thành tà linh của con cóc. Một vài năm sau, con cóc này chết, và cái thứ tà linh chi khí mang hình dạng con cóc kia đã chuyển sinh thành người. Nó trở thành Giang Trạch Dân.
—
Truyền thống người Trung Quốc vẫn tin tưởng rằng nếu có cái gì đó được truyền thừa, bằng hình thức luân hồi hoặc phụ thể (động vật chiếm hữu cơ thể người), với một dạng năng lượng sống được gọi là khí – một lực sống mang sinh khí đến thế giới – thì khí này có thể hình thành dạng người.
Ban biên tập Thời báo Đại Kỷ Nguyên
Ngày 5 tháng 7 năm 2005
Ghi chú của người dịch:
- Đột Quyết (Göktürk): là tên một dân tộc du mục thuộc các dân tộc Turk ở vùng núi Altai và cũng là tên gọi một hãn quốc hùng mạnh ở Trung Á thế kỷ 6 và 7.
- Thập ác bất xá: Mười tội ác không thể tha.
- Ngục Vô Gián: Tầng sâu nhất của địa ngục. Người ta nói rằng một khi đã vào Ngục Vô Gián là vĩnh viễn bị đày đọa ở đó, không ra được nữa.
- Chuyển Luân Thánh Vương: Hay còn gọi là Pháp Luân Thánh Vương, là người mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói trong dự ngôn là sẽ hạ thế vào thời Mạt Pháp để cứu độ tất cả chúng sinh.
- Tà linh chi khí: Linh hồn tà ác được hình thành từ một đám tà khí.
http://vietsoh.net/news/2010/01/24/moi-thu-vi-quyen-luc-cau-chuyen-co-that-ve-giang-trach-dan-o-trung-quoc-phan-mo-dau.html
Để can nhiễu tiến trình Chính Pháp, cựu thế lực đã nhào nặn nên một nhân vật, một thực thể sở hữu toàn đặc điểm xấu có nguyên thần từ cửa Vô Sinh ở Ngục Vô Gián.
Oán khí nghìn năm từ triều Đường kết thành một quái thai tà ác
Vào năm Vũ Đức thứ 9 – triều đại nhà Đường năm 626 sau Công nguyên – Hoàng Đế khai quốc, Cao Tổ Lý Uyên, với sự phò tá của người con trai thứ Lý Thế Dân đã bình định thiên hạ khi 18 vương hầu tạo phản, tiêu diệt sạch 72 đạo quân và cuối cùng được an hưởng phú quý với giang sơn thống nhất. Cao Tổ có bốn người con trai: Kiến Thành, Thế Dân, Nguyên Cát, và Nguyên Bá. Trong khi Nguyên Bá chết trẻ, Kiến Thành, Thế Dân và Nguyên Cát đã tới tuổi trưởng thành và được phong danh hiệu lần lượt là, Ẩn Vương, Tần Vương và Tề Vương. Nguyên Cát đã tư thông với hai phi tần được sủng ái của Cao Tổ là Trương Diễm Tuyết và Doãn Sắt, rồi bị Tần Vương khám phá ra. Tuy sự việc chưa bị vỡ lở nhưng Nguyên Cát vẫn mang tâm oán hận đối với Thế Dân. Theo những quy tắc truyền ngôi từ xưa để lại, khi Cao Tổ qua đời, người con trai cả là Kiến Thành sẽ lên kế vị. Nhưng Thế Dân có công lao vô cùng to lớn vì gần như đã một mình gây dựng giang sơn Đại Đường. Cao Tổ thường khen ngợi Thế Dân, và điều này khiến Kiến Thành và Nguyên Cát vô cùng đố kỵ.
Và rồi, Nguyên Cát, vốn là một công tử kiêu ngạo và luôn tự cho là đúng, đã từ lâu thèm muốn ngai vàng. Kiến Thành thì nhu nhược và khá bất tài. Vì đố kỵ với Tần Vương, Nguyên Cát âm mưu ban đầu mượn Kiến Thành để trừ khử Tần Vương, rồi sau sẽ trừ khử nốt Kiến Thành.
Một ngày nọ, công chúa Bình Dương đột nhiên bệnh chết. Tất cả văn võ bá quan và các thành viên trong gia tộc đều tới tống táng. Nguyên Cát giả vờ bày tiệc rượu và mời Tần Vương đến uống rượu cùng, trong rượu bỏ vào chất kịch độc. Tần Vương tính tình khoáng đạt, chỉ tưởng rằng Kiến Thành và Nguyên Cát muốn tạ tội nên đã thản nhiên không hề nghi ngờ và nâng ly rượu lên. Nhưng như câu nói xưa, “Vương giả bất tử“, khi Tần Vương vừa đưa rượu lên miệng uống thì một chú chim én bay ngang qua, thả phân xuống làm bẩn cả ly rượu lẫn y phục của Tần Vương. Khi Tần Vương bỏ đi thay y phục thì đột nhiên cảm thấy một cơn đau xé ruột nên bèn vội vàng trở về cung, về đến nơi thì bị miệng nôn trôn tháo. Sau đó Tần Vương nảy sinh lòng nghi ngờ, đoán rằng trong rượu có độc. Vua Đường sau khi nghe chuyện, sợ rằng Tần Vương và hai người huynh đệ không thể dung hòa với nhau được nữa, bèn cử Tần Vương tới Lạc Dương để cai quản miền Đông tỉnh Thiểm Tây, dựng lập lá cờ thiên tử, giống như Lương Hiếu Vương trong triều Hán năm xưa.
Kiến Thành và Nguyên Cát vô cùng sợ hãi, biết rằng Tần Vương mưu lược hơn người, ôm ấp hoãi bão lớn như biển cả, văn thần dưới trướng có Tôn Vô Kỵ, Từ Mậu Công, Lý Thuần Phong, Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối, võ tướng có Tần Thúc Bảo (Tần Quỳnh), Trình Giảo Kim, Uất Trì Kính Đức, Lý Tĩnh. Tần Vương khi giương cao ngọn cờ nghĩa đã thu phục được nhân tâm trong thiên hạ và dường như không ai có thể ngăn cản. Bằng một độc kế khác, Kiến Thành và Nguyên Cát âm mưu điều động những đại tướng của Tần Vương đi thảo phạt quân Đột Quyết. Tần Vương thấy thế sự đã nguy cấp bèn đem những chuyện uế loạn cung đình của Kiến Thành và Nguyên Cát nói với Cao Tổ. Ngày hôm sau, Cao Tổ truyền lệnh cho Kiến Thành và Nguyên Cát vào cung đối chất xem ai đúng ai sai. Kiến Thành và Nguyên Cát không những không tuân mệnh mà còn mang khoảng 500 quân mai phục tại Huyền Vũ Môn, chỉ đợi Tần Vương đến để hạ lệnh sát thủ. Không ngờ Tần Vương đã sớm có phòng bị, mang theo áo giáp cùng quân binh tới. Kiến Thành, Nguyên Cát vừa trông thấy Tần Vương liền bắn loạn 3 mũi tên, nhưng Tần Vương đều tránh được. Tần Quỳnh bắn trả một mũi tên giết chết Kiến Thành. Nguyên Cát muốn chạy trốn nhưng đã bị giết chết bởi một mũi tên từ Uất Trì Kính Đức. Câu chuyện này vốn nổi tiếng trong lịch sử là “Sự biến Huyền Vũ Môn.”
Sau khi Nguyên Cát chết, linh hồn độc ác của hắn bị hạ xuống địa ngục để hoàn nghiệp. Diêm Vương biết chuyện hắn thông gian với sủng phi của phụ hoàng, giết hại hôn thê của Thế Dân, làm chuyện loạn luân, bỏ độc vào rượu hại Tần Vương, bắn cung ám sát Tần Vương, đều là những tội ác vi phạm luân thường, đã là thập ác bất xá. Vì thế ông đã tống Nguyên Cát vào ngục Vô Gián, đả nhập hắn vào cửa Vô Sinh. Một ngàn năm sau, cái nguyên thần từng là Nguyên Cát kia đã tiêu mất, không còn hình hài sinh mệnh tiên thiên, không có tư tưởng hoàn chỉnh, duy chỉ còn một chút khí của sự đố kỵ và hận thù. Nhưng về vấn đề này chúng tôi sẽ nói sau.
Ngay khi lên ngôi, Thế Dân xưng là Thái Tông Hoàng đế, mở ra thời Trinh Quán giàu có và thịnh vượng (627- 649 sau Công nguyên). Thái Tông nhân đức như trời bể và luôn thương xót cho bách tính. Việc kế vị ngai vàng của Thế Dân là thuận theo Thiên ý, hợp với lòng dân và ban phúc cho tất cả.
Vào năm Trinh Quán thứ 22, một nhà sư tên là Huyền Trang đã trở về từ sau một chuyến hành hương sang Ấn Độ để thỉnh kinh Phật. Thái Tông đã cho một đoàn tuỳ tùng gồm hàng trăm văn võ bá quan tới nghênh tiếp tại cầu Chu Tước. Sau đó, để kỷ niệm sự kiện này, Thái Tông đã viết cuốn “Đại Đường Tam Tạng Thánh Giáo Tự“. Thái Tông băng hà vào năm Trinh Quán thứ 23. Suốt thời gian trị vì, Thái Tông luôn bảo hộ Phật Pháp, hoằng dương cả Đạo giáo lẫn Nho giáo. Thái Tông là người đầy đủ cả nhân, nghĩa, trí, dũng, thanh tâm quả dục, tiết chế bản thân và rất yêu thương dân chúng. Ông là người có lai lịch phi phàm, tuyệt không phải là điều người thường có thể biết. Khi chuyển sinh sau này, Thái Tông vẫn tự nhiên mang theo chính khí, lúc là bậc Đế vương, khi làm vua, lúc là một viên tướng, khi là một văn nhân, lúc thì là tổ sư của một môn võ thuật.
Người ta nói rằng ngàn năm sau, đức Chuyển Luân Thánh Vương sẽ tới nhân gian, lấy danh hiệu Phật Di Lặc để truyền rộng Đại Pháp và cứu độ tất cả chúng sinh. Nhưng để can nhiễu sự việc Chính Pháp và cứu độ chúng sinh dưới danh nghĩa “hiệp trợ”, cựu thế lực của vũ trụ đã tạo ra một thực thể xấu xí có hình người nhưng cực kỳ vô chính niệm và lý tính, mang những đặc điểm như ngu xuẩn, độc ác, bại hoại, gian dối, thô tục, tự phụ, đố kỵ, và hèn nhát. Cựu thế lực đã sử dụng hắn với danh nghĩa “phù hợp” với lý tương sinh tương khắc để “khảo nghiệm” các đệ tử Đại Pháp.
Nhân vật lố bịch được chọn cho một vai trò như vậy tất nhiên rồi sẽ bị tiêu huỷ, vì nó đã phạm phải tội ác tày trời từ vạn cổ, sự tà ác của nó đã thấu lên tận trời xanh. Ai có thể đóng một vai như vậy đây? Không có ai khác ngoại trừ kẻ đang ở Ngục Vô Gián, kẻ đã mang sự oán hận sâu đậm với người sẽ hạ thế và cứu độ chúng sinh. Cựu thế lực đã phát hiện ra tên ác nhân Lý Nguyên Cát thời Đường Cao Tổ, cuối cùng chỉ còn lại những dấu vết của tà khí từ lòng đố kỵ, và đã dẫn nó chạy vào nhân gian . Thứ tà khí đó đã được dẫn nhập vào đám âm khí nặng nề trong một ngôi mộ.
Tại ngôi mộ đó có một con cóc đã ẩn nấp từ rất lâu. Khi nó mở miệng và chuẩn bị kêu thì thứ tà khí ngàn năm kia lập tức bị hút ngay vào trong bụng. Nguyên thần con cóc lập tức bị trục xuất khỏi thân thể và chuyển sinh đâu đó, trong khi thứ tà khí kia trở thành tà linh của con cóc. Một vài năm sau, con cóc này chết, và cái thứ tà linh chi khí mang hình dạng con cóc kia đã chuyển sinh thành người. Nó trở thành Giang Trạch Dân.
—
Truyền thống người Trung Quốc vẫn tin tưởng rằng nếu có cái gì đó được truyền thừa, bằng hình thức luân hồi hoặc phụ thể (động vật chiếm hữu cơ thể người), với một dạng năng lượng sống được gọi là khí – một lực sống mang sinh khí đến thế giới – thì khí này có thể hình thành dạng người.
Ban biên tập Thời báo Đại Kỷ Nguyên
Ngày 5 tháng 7 năm 2005
Ghi chú của người dịch:
- Đột Quyết (Göktürk): là tên một dân tộc du mục thuộc các dân tộc Turk ở vùng núi Altai và cũng là tên gọi một hãn quốc hùng mạnh ở Trung Á thế kỷ 6 và 7.
- Thập ác bất xá: Mười tội ác không thể tha.
- Ngục Vô Gián: Tầng sâu nhất của địa ngục. Người ta nói rằng một khi đã vào Ngục Vô Gián là vĩnh viễn bị đày đọa ở đó, không ra được nữa.
- Chuyển Luân Thánh Vương: Hay còn gọi là Pháp Luân Thánh Vương, là người mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói trong dự ngôn là sẽ hạ thế vào thời Mạt Pháp để cứu độ tất cả chúng sinh.
- Tà linh chi khí: Linh hồn tà ác được hình thành từ một đám tà khí.
Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014
Tại sao nhà cao tầng không nên dùng cửa sổ mở quay ra ngoài?
Để đảm bảo an toàn, đòi hỏi cửa sổ cho nhà cao tầng phải có yêu cầu đặc biệt, thiết kế cửa phải chịu được sức gió mạnh...
Tòa nhà cao tầng bắt buộc không sử dụng cửa sổ mở quay ra ngoài để đảm bảo tính an toàn.
P.V
Người Việt Nam trước đây chủ yếu làm nhà thấp tầng nên
vốn quen với việc mở cửa sổ hướng ra ngoài để không ảnh hưởng đến không
gian trong phòng. Tuy nhiên, đối với những ngôi nhà cao tầng, cửa sổ mở
quay ra ngoài nếu gặp gió mạnh có thể làm gây nên va đập làm vỡ kính có
thể giật cánh cửa rơi xuống sẽ gây hậu quả khôn lường cho người qua lại
phía dưới tòa nhà.
Chính vì vậy mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Âu chỉ dùng cửa sổ mở quay, quay lật vào phía trong ngôi nhà.
Trong tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam (tiêu chuẩn xây dựng VN276:2003) về nguyên tắc cơ bản để thiết kế có nêu: “đối với nhà cao tầng nên dùng cửa sổ kéo - đẩy; nếu dùng cửa sổ mở ra ngoài, phải có biện pháp gia cố chắc chắn cánh cửa sổ”.
Tuy nhiên, đến năm 2004, tiêu chuẩn thiết kế về nhà ở cao tầng (Tiêu chuẩn Việt Nam 323:2004) đã có sự thay đổi về quy định đối với việc thiết kế cửa sổ, cụ thể: “cửa sổ nhà cao tầng được thiết kế theo kiểu cửa lật, cửa đẩy, cửa trượt đứng, trượt ngang hoặc kết hợp cả hai”.
Có thể thấy, cửa sổ mở quay ra ngoài đã không còn nằm trong danh mục loại cửa được phép thiết kế trong các tòa nhà cao tầng nữa. Vậy tại sao không nên dùng cửa mở quay ra ngoài và những những kiểu mở nào phù hợp đối với công trình cao tầng?
Theo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực này, kiểu cửa mở quay ra ngoài có góc mở 180 độ , nếu gặp gió to hoặc mưa bão lớn cửa dễ bị va đập mạnh với tường; với những loại cửa có thanh hạn vị góc mở và chỉ mở 90 độ có thể giúp hạn chế được sự va đập, tuy nhiên nó vuông góc với tương tựa như một cánh buồm nếu gặp gió lốc sẽ rất nguy hiểm.
Trong một số trường hợp có thể sử dụng cửa sổ mở hất ra ngoài với góc mở 45 độ. Tuy nhiên khi gió lốc cũng không thể đảm bảo an toàn, không chỉ vậy lại bị hạn chế về chế độ mở. Cả hai loại cửa này có chung một nhược điểm nữa đó là đòi hỏi chi phí bảo trì cao để thuê nhân công vệ sinh, bảo dưỡng định kỳ phía ngoài cánh cửa.
Vì vậy để đảm bảo an toàn cho con người, đòi hỏi cửa sổ cho nhà cao tầng phải có yêu cầu đặc biệt hơn, thiết kế cửa phải chịu được sức gió mạnh. Đối với những công trình được thiết kế đúng tiêu chuẩn, cửa sử dụng thường là các loại cửa sổ mở trượt, cửa sổ mở quay vào trong, cửa sổ mở quay lật vào trong. Đối với cửa sổ mở trượt hay được dùng vì có giá thành rẻ bởi hệ phụ kiện đơn giản.
Tuy nhiên, do có cấu tạo hai cánh trượt song song với nhau cho nên đã tạo ra khe hở ở giữa hai cánh, mặc dù các nhà sản xuất đã dùng chổi quét để chặn khe hở này nhưng vẫn không đảm bảo độ kín khít cao. Hơn nữa cửa mở trượt chỉ mở được 1/2 diện tích cửa nên đối với những người thích tăng độ thoáng của cửa sổ sẽ không lựa chọn loại cửa mở trượt.
Đối với cửa sổ mở quay vào trong có cấu tạo với hệ phụ kiện và chốt đa điểm đảm bảo độ kín khít nên khả năng cách âm, cách nhiệt cao hơn so với cửa mở trượt. Loại cửa này cũng đảm bảo an toàn hơn và vệ sinh cánh cửa cũng dễ dàng hơn so với cửa mở quay ra ngoài hay mở hất ra ngoài.
Còn cửa sổ mở quay lật vào trong là loại cửa thế hệ mới với có đặc tính ưu việt hơn so với các loại cửa đã nói trên nhờ có cấu tạo với chốt đa điểm và hệ gioăng kép. Khi cửa đóng lại, hệ thống chốt đa điểm sẽ chốt lại ở tất cả các điểm, đồng thời ép chặt khuôn cửa và khung cánh với nhau tạo ra độ kín khít rất cao.
Vì cửa không quay ra bên ngoài nên đảm bảo được yếu tố an toàn cho nhà cao tầng, ngay cả khi cửa mở gặp mưa bão mà chủ nhà không kịp đóng lại cửa. Loại cửa này có thể mở theo 3 chế độ khác nhau: mở 180 độ hoặc 90 độ để thông phòng, mở thoáng khí 15 độ và mở thông hơi 1 - 2 độ. Cả 3 chế độ mở này đều có độ an toàn sử dụng cao, hạn chế tối đa sự tác động của sức gió.
Ngoài ra, chế độ mở lật vào trong đảm bảo sự thông thoáng cho căn phòng nhưng vẫn giữ được vẻ kín đáo, đồng thời không ảnh hưởng đến việc bài trí các đồ đạc gần cửa như rèm, đèn bàn… Đây là loại cửa hiện đại được sử dụng phổ biến trên thế giới và tại các quốc gia châu Âu.
Theo ông Vũ Trọng Trung - Phó tổng giám đốc phụ trách kỹ thuật của Eurowindow, cửa sổ được lắp ở mặt ngoài công trình, có tác dụng ngăn cách giữa không gian bên ngoài và bên trong ngôi nhà, do đó thường có yêu cầu về khả năng cách âm, cách nhiệt, lấy sáng, thông gió khi cần và đặc biệt là chống thấm nước tốt.
Để đáp ứng được các đòi hỏi này, vật liệu làm cửa rất được quan tâm và vật liệu nhựa, nhôm hay gỗ đều có thể kết hợp được với pano kính để tạo ra cánh cửa đạt tiêu chuẩn cách âm, cách nhiệt. Nếu muốn tiết kiệm chi phí, khách hàng có thể chọn cửa nhựa (uPVC) bởi đây là loại cửa rẻ nhất.
Nếu điều kiện kinh phí cho phép có thể chọn cửa nhôm, tuy nhiên khách hàng nên chọn profile nhôm có cầu cách nhiệt để giảm tối đa sự truyền nhiệt qua khung nhôm. Còn cửa gỗ do phải xử lý kỹ lưỡng để không cong vênh, bạc màu nên so với cửa nhựa, và nhôm nên giá thành đắt hơn.
Ông Vũ Trọng Trung cũng cho biết thêm, về cách lựa chọn vật liệu kính đối với cửa dùng cho nhà cao tầng để đảm bảo an toàn như sau: “đối với nhà cao tầng, nếu dùng kính đơn thì nên dùng kính dán an toàn cường lực, nếu dùng hộp kính thì mặt ngoài nên dùng kính dán an toàn, mặt trong dùng kính cường lực. Để đạt hiệu quả cách nhiệt cao, cách âm nên dùng hộp kính được bơm khí trơ ở giữa”.
Nếu các bạn có nhu cầu lắp đặt cửa cho ngôi nhà của mình có thể đến chi nhánh hoặc showroom của Eurowindow để các chuyên gia tư vấn giúp bạn lựa chọn sản phẩm phù hợp.
(Nguồn: Eurowindow)
Chính vì vậy mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Âu chỉ dùng cửa sổ mở quay, quay lật vào phía trong ngôi nhà.
Trong tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam (tiêu chuẩn xây dựng VN276:2003) về nguyên tắc cơ bản để thiết kế có nêu: “đối với nhà cao tầng nên dùng cửa sổ kéo - đẩy; nếu dùng cửa sổ mở ra ngoài, phải có biện pháp gia cố chắc chắn cánh cửa sổ”.
Tuy nhiên, đến năm 2004, tiêu chuẩn thiết kế về nhà ở cao tầng (Tiêu chuẩn Việt Nam 323:2004) đã có sự thay đổi về quy định đối với việc thiết kế cửa sổ, cụ thể: “cửa sổ nhà cao tầng được thiết kế theo kiểu cửa lật, cửa đẩy, cửa trượt đứng, trượt ngang hoặc kết hợp cả hai”.
Có thể thấy, cửa sổ mở quay ra ngoài đã không còn nằm trong danh mục loại cửa được phép thiết kế trong các tòa nhà cao tầng nữa. Vậy tại sao không nên dùng cửa mở quay ra ngoài và những những kiểu mở nào phù hợp đối với công trình cao tầng?
Theo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực này, kiểu cửa mở quay ra ngoài có góc mở 180 độ , nếu gặp gió to hoặc mưa bão lớn cửa dễ bị va đập mạnh với tường; với những loại cửa có thanh hạn vị góc mở và chỉ mở 90 độ có thể giúp hạn chế được sự va đập, tuy nhiên nó vuông góc với tương tựa như một cánh buồm nếu gặp gió lốc sẽ rất nguy hiểm.
Trong một số trường hợp có thể sử dụng cửa sổ mở hất ra ngoài với góc mở 45 độ. Tuy nhiên khi gió lốc cũng không thể đảm bảo an toàn, không chỉ vậy lại bị hạn chế về chế độ mở. Cả hai loại cửa này có chung một nhược điểm nữa đó là đòi hỏi chi phí bảo trì cao để thuê nhân công vệ sinh, bảo dưỡng định kỳ phía ngoài cánh cửa.
Vì vậy để đảm bảo an toàn cho con người, đòi hỏi cửa sổ cho nhà cao tầng phải có yêu cầu đặc biệt hơn, thiết kế cửa phải chịu được sức gió mạnh. Đối với những công trình được thiết kế đúng tiêu chuẩn, cửa sử dụng thường là các loại cửa sổ mở trượt, cửa sổ mở quay vào trong, cửa sổ mở quay lật vào trong. Đối với cửa sổ mở trượt hay được dùng vì có giá thành rẻ bởi hệ phụ kiện đơn giản.
Tuy nhiên, do có cấu tạo hai cánh trượt song song với nhau cho nên đã tạo ra khe hở ở giữa hai cánh, mặc dù các nhà sản xuất đã dùng chổi quét để chặn khe hở này nhưng vẫn không đảm bảo độ kín khít cao. Hơn nữa cửa mở trượt chỉ mở được 1/2 diện tích cửa nên đối với những người thích tăng độ thoáng của cửa sổ sẽ không lựa chọn loại cửa mở trượt.
Đối với cửa sổ mở quay vào trong có cấu tạo với hệ phụ kiện và chốt đa điểm đảm bảo độ kín khít nên khả năng cách âm, cách nhiệt cao hơn so với cửa mở trượt. Loại cửa này cũng đảm bảo an toàn hơn và vệ sinh cánh cửa cũng dễ dàng hơn so với cửa mở quay ra ngoài hay mở hất ra ngoài.
Còn cửa sổ mở quay lật vào trong là loại cửa thế hệ mới với có đặc tính ưu việt hơn so với các loại cửa đã nói trên nhờ có cấu tạo với chốt đa điểm và hệ gioăng kép. Khi cửa đóng lại, hệ thống chốt đa điểm sẽ chốt lại ở tất cả các điểm, đồng thời ép chặt khuôn cửa và khung cánh với nhau tạo ra độ kín khít rất cao.
Vì cửa không quay ra bên ngoài nên đảm bảo được yếu tố an toàn cho nhà cao tầng, ngay cả khi cửa mở gặp mưa bão mà chủ nhà không kịp đóng lại cửa. Loại cửa này có thể mở theo 3 chế độ khác nhau: mở 180 độ hoặc 90 độ để thông phòng, mở thoáng khí 15 độ và mở thông hơi 1 - 2 độ. Cả 3 chế độ mở này đều có độ an toàn sử dụng cao, hạn chế tối đa sự tác động của sức gió.
Ngoài ra, chế độ mở lật vào trong đảm bảo sự thông thoáng cho căn phòng nhưng vẫn giữ được vẻ kín đáo, đồng thời không ảnh hưởng đến việc bài trí các đồ đạc gần cửa như rèm, đèn bàn… Đây là loại cửa hiện đại được sử dụng phổ biến trên thế giới và tại các quốc gia châu Âu.
Theo ông Vũ Trọng Trung - Phó tổng giám đốc phụ trách kỹ thuật của Eurowindow, cửa sổ được lắp ở mặt ngoài công trình, có tác dụng ngăn cách giữa không gian bên ngoài và bên trong ngôi nhà, do đó thường có yêu cầu về khả năng cách âm, cách nhiệt, lấy sáng, thông gió khi cần và đặc biệt là chống thấm nước tốt.
Để đáp ứng được các đòi hỏi này, vật liệu làm cửa rất được quan tâm và vật liệu nhựa, nhôm hay gỗ đều có thể kết hợp được với pano kính để tạo ra cánh cửa đạt tiêu chuẩn cách âm, cách nhiệt. Nếu muốn tiết kiệm chi phí, khách hàng có thể chọn cửa nhựa (uPVC) bởi đây là loại cửa rẻ nhất.
Nếu điều kiện kinh phí cho phép có thể chọn cửa nhôm, tuy nhiên khách hàng nên chọn profile nhôm có cầu cách nhiệt để giảm tối đa sự truyền nhiệt qua khung nhôm. Còn cửa gỗ do phải xử lý kỹ lưỡng để không cong vênh, bạc màu nên so với cửa nhựa, và nhôm nên giá thành đắt hơn.
Ông Vũ Trọng Trung cũng cho biết thêm, về cách lựa chọn vật liệu kính đối với cửa dùng cho nhà cao tầng để đảm bảo an toàn như sau: “đối với nhà cao tầng, nếu dùng kính đơn thì nên dùng kính dán an toàn cường lực, nếu dùng hộp kính thì mặt ngoài nên dùng kính dán an toàn, mặt trong dùng kính cường lực. Để đạt hiệu quả cách nhiệt cao, cách âm nên dùng hộp kính được bơm khí trơ ở giữa”.
Nếu các bạn có nhu cầu lắp đặt cửa cho ngôi nhà của mình có thể đến chi nhánh hoặc showroom của Eurowindow để các chuyên gia tư vấn giúp bạn lựa chọn sản phẩm phù hợp.
(Nguồn: Eurowindow)
Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014
Thị lực phục hồi nhờ tu luyện Pháp Luân Đại Pháp
[MINH HUỆ 09 – 07 –
2014] Tôi bắt đầu tu luyện Pháp Luân Đại Pháp vào cuối năm 1996 và tu
luyện tinh tấn cho đến hai năm trước, khi tôi chuyển nhà và mất đi môi
trường học nhóm.
Tôi đã bận rộn suốt ngày đêm để trông nom việc kinh doanh và kiếm sống. Từ đó, tôi ngày càng bị đè nặng bởi các chấp trước. Dần dần, tôi đã ngừng học Pháp và luyện công.
Tháng 11 năm ngoái, tôi nhận thấy mắt mình đang ngày càng mờ đi, và dường như tôi không thể thấy rõ ràng như trước. Tôi nhanh chóng đi đến bệnh viện tỉnh tốt nhất. Tôi được chẩn đoán bị mỏi mắt, teo võng mạc và viêm giác mạc.
Lúc đó, sức khỏe của tôi ở tình trạng khá xấu. Tôi mắc bệnh u xơ tử cung và các khối u phát triển trong gan và ruột.
Tôi đã thử dùng cả thuốc nội lẫn thuốc ngoại nhưng đều không có tác dụng. Trái lại, tình trạng của tôi còn tệ hơn. Cuối cùng, tôi không thể nhìn thấy gì nữa.
Gia đình tôi rất lo lắng. Cha tôi nói với tôi: “Con chỉ mới 50 tuổi. Con nên cố gắng chữa trị cho dù có phải bán tất cả mọi thứ để trang trải chi phí. Nếu không thì con sẽ sống phần đời còn lại của mình thế nào đây?”
Sáng sớm ngày 20 tháng 01 năm 2014, em họ của tôi, người không phải là một học viên Pháp Luân Đại Pháp, đội nhiên xuất hiện trước cửa nhà tôi như thể đang rất vội vàng.
Cô ấy vừa thở vừa nói: “Chị ơi, sáng nay em có một giấc mơ. Một người đàn ông tuổi trung niên cao lớn và khỏe mạnh nói với em rằng hãy bảo chị tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, vì không ai có thể chữa được bệnh của chị, bệnh của chị càng chữa thì sẽ càng nặng.”
Tôi chỉ vào hình của Sư phụ và hỏi: “Đây có phải là người mà em đã thấy?”
“Đúng rồi,” cô ấy reo lên: “Đúng là ông ấy! Thật ngạc nhiên làm sao!”
Vậy là, dưới sự dẫn dắt của Sư phụ, tôi đã quay trở lại tu luyện Đại Pháp.
Em họ của tôi giúp tôi tìm một điểm học Pháp nhóm gần đó và thậm chí còn đưa tôi đến đó. Lúc đó, tôi không thể tự mình đi ra ngoài vì tôi không nhìn thấy đường. Dĩ nhiên, tôi cũng không đọc được.
Tại điểm học Pháp, tôi nghe các đồng tu đọc sách Chuyển Pháp Luân. Ở nhà, tôi nghe các bài giảng của Sư phụ trên băng video.
Sau ba hay bốn ngày, tôi đã thật sự có thể nhìn thấy để đọc một đoạn, rồi một trang, và 20 trang Pháp. Thị lực của tôi ngày càng tốt hơn.
Trong vòng ba tháng, thị lực của tôi đã trở lại bình thường. Tôi lại có thể thấy được rõ ràng!
Tất cả bạn bè và gia đình của tôi đã được chứng kiến sự thần kỳ của Đại Pháp.
Gặp ai, tôi cũng kể chuyện của mình và giảng chân tướng cho họ.
Nhiều người đã bày tỏ sự quan tâm muốn học Đại Pháp, và gia đình tôi hoàn toàn ủng hộ tôi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp.
Tôi thích học các sách Đại Pháp. Sư phụ tiếp tục khai mở cho tôi và giúp tôi hiểu thêm các nguyên lý Đại Pháp để tôi có thể thật sự đề cao bản thân.
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2014/7/9/佛恩浩荡-重见光明-294480.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2014/7/22/2168.html
Đăng ngày 05-09-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
Tôi đã bận rộn suốt ngày đêm để trông nom việc kinh doanh và kiếm sống. Từ đó, tôi ngày càng bị đè nặng bởi các chấp trước. Dần dần, tôi đã ngừng học Pháp và luyện công.
Tháng 11 năm ngoái, tôi nhận thấy mắt mình đang ngày càng mờ đi, và dường như tôi không thể thấy rõ ràng như trước. Tôi nhanh chóng đi đến bệnh viện tỉnh tốt nhất. Tôi được chẩn đoán bị mỏi mắt, teo võng mạc và viêm giác mạc.
Lúc đó, sức khỏe của tôi ở tình trạng khá xấu. Tôi mắc bệnh u xơ tử cung và các khối u phát triển trong gan và ruột.
Tôi đã thử dùng cả thuốc nội lẫn thuốc ngoại nhưng đều không có tác dụng. Trái lại, tình trạng của tôi còn tệ hơn. Cuối cùng, tôi không thể nhìn thấy gì nữa.
Gia đình tôi rất lo lắng. Cha tôi nói với tôi: “Con chỉ mới 50 tuổi. Con nên cố gắng chữa trị cho dù có phải bán tất cả mọi thứ để trang trải chi phí. Nếu không thì con sẽ sống phần đời còn lại của mình thế nào đây?”
Sáng sớm ngày 20 tháng 01 năm 2014, em họ của tôi, người không phải là một học viên Pháp Luân Đại Pháp, đội nhiên xuất hiện trước cửa nhà tôi như thể đang rất vội vàng.
Cô ấy vừa thở vừa nói: “Chị ơi, sáng nay em có một giấc mơ. Một người đàn ông tuổi trung niên cao lớn và khỏe mạnh nói với em rằng hãy bảo chị tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, vì không ai có thể chữa được bệnh của chị, bệnh của chị càng chữa thì sẽ càng nặng.”
Tôi chỉ vào hình của Sư phụ và hỏi: “Đây có phải là người mà em đã thấy?”
“Đúng rồi,” cô ấy reo lên: “Đúng là ông ấy! Thật ngạc nhiên làm sao!”
Vậy là, dưới sự dẫn dắt của Sư phụ, tôi đã quay trở lại tu luyện Đại Pháp.
Em họ của tôi giúp tôi tìm một điểm học Pháp nhóm gần đó và thậm chí còn đưa tôi đến đó. Lúc đó, tôi không thể tự mình đi ra ngoài vì tôi không nhìn thấy đường. Dĩ nhiên, tôi cũng không đọc được.
Tại điểm học Pháp, tôi nghe các đồng tu đọc sách Chuyển Pháp Luân. Ở nhà, tôi nghe các bài giảng của Sư phụ trên băng video.
Sau ba hay bốn ngày, tôi đã thật sự có thể nhìn thấy để đọc một đoạn, rồi một trang, và 20 trang Pháp. Thị lực của tôi ngày càng tốt hơn.
Trong vòng ba tháng, thị lực của tôi đã trở lại bình thường. Tôi lại có thể thấy được rõ ràng!
Tất cả bạn bè và gia đình của tôi đã được chứng kiến sự thần kỳ của Đại Pháp.
Gặp ai, tôi cũng kể chuyện của mình và giảng chân tướng cho họ.
Nhiều người đã bày tỏ sự quan tâm muốn học Đại Pháp, và gia đình tôi hoàn toàn ủng hộ tôi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp.
Tôi thích học các sách Đại Pháp. Sư phụ tiếp tục khai mở cho tôi và giúp tôi hiểu thêm các nguyên lý Đại Pháp để tôi có thể thật sự đề cao bản thân.
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2014/7/9/佛恩浩荡-重见光明-294480.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2014/7/22/2168.html
Đăng ngày 05-09-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
Trẻ hóa không phải là chuyện hoang đường
Bài viết của một học viên Pháp Luân Đại Pháp ở Trung Quốc
[MINH HUỆ 27-06-2014] Mẹ tôi 83 tuổi. Bà không chỉ tự chăm sóc bản thân mà còn trồng rau. Bà thường bán rau thừa ở chợ. Nhiều khách hàng biết bà. Một lần, có ba khách hàng nói chuyện với bà khi họ chọn rau xong. Họ hỏi bà bao nhiêu tuổi. Mẹ tôi bảo họ hãy đoán.
Một người nói bà khoảng 50 tuổi. Người khác đoán là 55 tuổi. Người còn lại nói bà tối đa là 60 tuổi. Mẹ tôi cười và nói với họ rằng bà đã 83 tuổi. Họ nhìn nhau trong sự hoài nghi. Làm sao mà một người 83 tuổi trông trẻ như vậy? Thật không thể tin được!
Mẹ tôi cho họ biết lý do trông bà rất trẻ là vì bà tu luyện Pháp Luân Công. Họ đều đồng ý rằng mẹ tôi đã chứng minh rằng trẻ hóa không phải là chuyện hoang đường. Họ nói: “Chúng tôi chắn chắn ghi nhớ điều bà nói là ‘Pháp Luân Đại Pháp hảo! Chân – Thiện – Nhẫn hảo!’”
Cả gia đình tôi được hưởng lợi nhờ tu luyện Pháp Luân Công. Tôi đã tự thân trải nghiệm thân thể được Đại Pháp tịnh hóa. Sức khỏe của cha tôi cải thiện nhanh chóng, và cái lưng gù của ông được thẳng lại.
Tôi tình cờ tìm thấy cuốn sách Chuyển Pháp Luân khi đi mua thuốc lá vào ngày 08 tháng 09 năm 1998. Tôi mở sách ra và đọc lời giảng của Sư phụ Lý Hồng Chí về tính mệnh song tu:
Khi đọc được một phần ba cuốn sách, tôi đột nhiên cảm thấy một Pháp Luân xoay ở bụng dưới. Nó rất rõ ràng. Nó xoay ngược chiều kim đồng hồ chín lần và thuận chiều kim đồng hồ chín lần. Nó tiếp tục xoay như vậy. Tôi rất phấn khích vì được Sư phụ cấp Pháp Luân! Điều này hoàn toàn vượt khỏi sự mong đợi của tôi, nhưng nó rất thật. Tôi tiếp tục đọc và bắt đầu cảm thấy nhiều Pháp Luân trên khắp cơ thể. Chúng đang tịnh hóa thân thể tôi. Cảm giác rõ ràng nhất là trên vai và cột sống của tôi. Tôi có thể cảm thấy nhiều Pháp Luân với kích thước khác nhau đang tịnh hóa thân thể tôi từ nhiều góc và nhiều nơi khác nhau. Nó thật sự là một cảm giác rất dễ chịu.
Sau khi đọc xong cuốn sách, Sư phụ tiếp tục tịnh hóa thân thể tôi. Bệnh đau gan kinh niên trong 30 năm của tôi đã biến mất. Bệnh viêm dạ dày làm khổ tôi 25 năm cũng được chữa lành. Chứng rối loạn nhịp tim 15 năm và xơ vữa động mạch não cũng biến mất. Bệnh loét tá tràng và viêm thận nghiêm trọng của tôi đã lành mà không cần điều trị. Không từ nào có thể miêu tả được cảm giác tuyệt vời của trạng thái không bệnh tật. Tôi luôn cảm thấy tràn đầy năng lượng. Cơ thể tôi nhẹ nhàng và đi bộ rất nhanh. Tôi đạp xe dễ dàng như có người đẩy ở phía sau. Gia đình và bạn bè ngưỡng mộ tôi khi tôi làm việc thoải mái như vậy.
Vợ chồng tôi đi thăm cha mẹ tôi vào cuối năm 1999. Cha tôi vừa mới khỏi bệnh. Mặt ông trông vàng vọt và gày gò, và ông không đủ sức để làm gì cả. Ông bị gù lưng và thấp hơn trước. Tôi rất buồn khi thấy ông như vậy. Tôi đã nói với ông về lợi ích sức khỏe của Pháp Luân Đại Pháp và các nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn. Cha tôi nói rằng ông muốn tu luyện Đại Pháp, nhưng ông lo lắng về tuổi của mình và tay chân cứng đơ không cho phép ông tập. Tôi khuyến khích ông bằng cách nói rằng miễn là ông muốn tu luyện, Sư phụ sẽ giúp ông. Ông đã đồng ý thử.
Khi học bài công pháp số năm, ông không thể để tay cao hơn bụng dù đã cố hết sức. Ông thất vọng nhưng tôi nói ông đừng lo lắng và tiếp tục cố hết sức. Khi tiếp tục, tôi để ý tay ông trở nên linh hoạt hơn. Ông có thể nhấc tay cao ngang cổ. Khi kết thúc luyện công, ông có thể nhấc tay lên ngang đầu. Cả hai chúng tôi rất vui mừng với sự tiến bộ này. Sáng hôm sau, cha con tôi bắt đầu cùng nhau học Pháp. Ông học một bài giảng và học một bài công pháp mỗi ngày.
Sau 21 ngày, căn bệnh lao vốn hành hạ cha tôi trong 40 năm đã biến mất! Cánh tay và hai chân của ông rất linh hoạt. Lưng ông đã thẳng lại. Ông thèm ăn nhiều hơn và có thể đi mà không cần gậy. Ông trở nên khỏe mạnh hoàn toàn! Sau 25 ngày, ông bắt đầu làm việc ngoài đồng!
Chứng kiến điều xảy ra với cha tôi, mẹ tôi cũng bắt đầu tu luyện Pháp Luân Đại Pháp vào tháng 03 năm 2000. Bệnh thấp khớp, dạ dày và các vấn đề bệnh tật khác của bà đã biến mất. Sắc diện của bà cũng cải thiện. Mặt bà trông khỏe khoắn và rực rỡ. Bà không có nếp nhăn hay tóc bạc nào. Bà trông trẻ hơn nhiều so với tuổi thật đến nỗi người khác thường tưởng lầm bà chỉ ngoài 50 tuổi.
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2014/6/27/返老还童不是神话-293955.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2014/7/10/1979.html
Đăng ngày 08-09-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
[MINH HUỆ 27-06-2014] Mẹ tôi 83 tuổi. Bà không chỉ tự chăm sóc bản thân mà còn trồng rau. Bà thường bán rau thừa ở chợ. Nhiều khách hàng biết bà. Một lần, có ba khách hàng nói chuyện với bà khi họ chọn rau xong. Họ hỏi bà bao nhiêu tuổi. Mẹ tôi bảo họ hãy đoán.
Một người nói bà khoảng 50 tuổi. Người khác đoán là 55 tuổi. Người còn lại nói bà tối đa là 60 tuổi. Mẹ tôi cười và nói với họ rằng bà đã 83 tuổi. Họ nhìn nhau trong sự hoài nghi. Làm sao mà một người 83 tuổi trông trẻ như vậy? Thật không thể tin được!
Mẹ tôi cho họ biết lý do trông bà rất trẻ là vì bà tu luyện Pháp Luân Công. Họ đều đồng ý rằng mẹ tôi đã chứng minh rằng trẻ hóa không phải là chuyện hoang đường. Họ nói: “Chúng tôi chắn chắn ghi nhớ điều bà nói là ‘Pháp Luân Đại Pháp hảo! Chân – Thiện – Nhẫn hảo!’”
Cả gia đình tôi được hưởng lợi nhờ tu luyện Pháp Luân Công. Tôi đã tự thân trải nghiệm thân thể được Đại Pháp tịnh hóa. Sức khỏe của cha tôi cải thiện nhanh chóng, và cái lưng gù của ông được thẳng lại.
Tôi tình cờ tìm thấy cuốn sách Chuyển Pháp Luân khi đi mua thuốc lá vào ngày 08 tháng 09 năm 1998. Tôi mở sách ra và đọc lời giảng của Sư phụ Lý Hồng Chí về tính mệnh song tu:
“Vấn đề tính mệnh song tu này đã được giảng giải rõ cho mọi người rồi. ‘Tính mệnh song tu’ chính là ngoài việc tu luyện tâm tính ra, cũng đồng thời tu mệnh; nghĩa là, cải biến bản thể.” (Bài giảng thứ năm, Chuyển Pháp Luân)Tôi lật sang một trang khác và đọc:
“Mệnh môn của con người là một đại khiếu chủ yếu cực kỳ then chốt. Đạo gia gọi là ‘khiếu’, chúng tôi gọi là ‘quan’. Đại quan chủ yếu này, thực sự là cửa sắt, vô số tầng cửa sắt.” (Bài giảng thứ tư, Chuyển Pháp Luân)Tôi nghĩ đây là một cuốn sách tuyệt vời về việc giữ gìn thân thể. Tôi đã mượn sách của người chủ hiệu thuốc lá.
Khi đọc được một phần ba cuốn sách, tôi đột nhiên cảm thấy một Pháp Luân xoay ở bụng dưới. Nó rất rõ ràng. Nó xoay ngược chiều kim đồng hồ chín lần và thuận chiều kim đồng hồ chín lần. Nó tiếp tục xoay như vậy. Tôi rất phấn khích vì được Sư phụ cấp Pháp Luân! Điều này hoàn toàn vượt khỏi sự mong đợi của tôi, nhưng nó rất thật. Tôi tiếp tục đọc và bắt đầu cảm thấy nhiều Pháp Luân trên khắp cơ thể. Chúng đang tịnh hóa thân thể tôi. Cảm giác rõ ràng nhất là trên vai và cột sống của tôi. Tôi có thể cảm thấy nhiều Pháp Luân với kích thước khác nhau đang tịnh hóa thân thể tôi từ nhiều góc và nhiều nơi khác nhau. Nó thật sự là một cảm giác rất dễ chịu.
Sau khi đọc xong cuốn sách, Sư phụ tiếp tục tịnh hóa thân thể tôi. Bệnh đau gan kinh niên trong 30 năm của tôi đã biến mất. Bệnh viêm dạ dày làm khổ tôi 25 năm cũng được chữa lành. Chứng rối loạn nhịp tim 15 năm và xơ vữa động mạch não cũng biến mất. Bệnh loét tá tràng và viêm thận nghiêm trọng của tôi đã lành mà không cần điều trị. Không từ nào có thể miêu tả được cảm giác tuyệt vời của trạng thái không bệnh tật. Tôi luôn cảm thấy tràn đầy năng lượng. Cơ thể tôi nhẹ nhàng và đi bộ rất nhanh. Tôi đạp xe dễ dàng như có người đẩy ở phía sau. Gia đình và bạn bè ngưỡng mộ tôi khi tôi làm việc thoải mái như vậy.
Vợ chồng tôi đi thăm cha mẹ tôi vào cuối năm 1999. Cha tôi vừa mới khỏi bệnh. Mặt ông trông vàng vọt và gày gò, và ông không đủ sức để làm gì cả. Ông bị gù lưng và thấp hơn trước. Tôi rất buồn khi thấy ông như vậy. Tôi đã nói với ông về lợi ích sức khỏe của Pháp Luân Đại Pháp và các nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn. Cha tôi nói rằng ông muốn tu luyện Đại Pháp, nhưng ông lo lắng về tuổi của mình và tay chân cứng đơ không cho phép ông tập. Tôi khuyến khích ông bằng cách nói rằng miễn là ông muốn tu luyện, Sư phụ sẽ giúp ông. Ông đã đồng ý thử.
Khi học bài công pháp số năm, ông không thể để tay cao hơn bụng dù đã cố hết sức. Ông thất vọng nhưng tôi nói ông đừng lo lắng và tiếp tục cố hết sức. Khi tiếp tục, tôi để ý tay ông trở nên linh hoạt hơn. Ông có thể nhấc tay cao ngang cổ. Khi kết thúc luyện công, ông có thể nhấc tay lên ngang đầu. Cả hai chúng tôi rất vui mừng với sự tiến bộ này. Sáng hôm sau, cha con tôi bắt đầu cùng nhau học Pháp. Ông học một bài giảng và học một bài công pháp mỗi ngày.
Sau 21 ngày, căn bệnh lao vốn hành hạ cha tôi trong 40 năm đã biến mất! Cánh tay và hai chân của ông rất linh hoạt. Lưng ông đã thẳng lại. Ông thèm ăn nhiều hơn và có thể đi mà không cần gậy. Ông trở nên khỏe mạnh hoàn toàn! Sau 25 ngày, ông bắt đầu làm việc ngoài đồng!
Chứng kiến điều xảy ra với cha tôi, mẹ tôi cũng bắt đầu tu luyện Pháp Luân Đại Pháp vào tháng 03 năm 2000. Bệnh thấp khớp, dạ dày và các vấn đề bệnh tật khác của bà đã biến mất. Sắc diện của bà cũng cải thiện. Mặt bà trông khỏe khoắn và rực rỡ. Bà không có nếp nhăn hay tóc bạc nào. Bà trông trẻ hơn nhiều so với tuổi thật đến nỗi người khác thường tưởng lầm bà chỉ ngoài 50 tuổi.
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2014/6/27/返老还童不是神话-293955.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2014/7/10/1979.html
Đăng ngày 08-09-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
Hai vị tổng thống vĩ đại nhất nước Mỹ
Hai vị tổng thống vĩ đại nhất nước Mỹ
[Chanhkien.org] Washington và Lincoln là hai vị tổng thống vĩ đại nhất nước Mỹ, một người được tôn làm người Cha sáng lập Mỹ quốc, một người được xưng là vị cứu tinh của Hoa Kỳ. Washington khiến Mỹ quốc từ một nước thuộc địa trở thành quốc gia độc lập, còn Lincoln bãi bỏ chế độ nô lệ, bảo vệ sự thống nhất nước Mỹ.
Thực ra, những điều mà Washington và Lincoln làm có ý nghĩa vượt xa khỏi tầm nhận thức của các nhà sử học. Chỉ từ những đoạn trích ngắn trong lời của Washington và Lincoln, chúng ta có thể thấy sự xuất thế của họ là an bài của lịch sử.
Phẩm cách đạo đức của Washington được người người ca tụng, thế nhưng ông lại không hề nhận công trạng của mình, mà coi thành tựu thiết lập nước cộng hòa liên bang là sự ban ơn của Thần. Trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống lần đầu tiên, ông nói: “Dưới sự ban ơn của thần thánh, con đường phía trước của chúng ta đã rõ ràng; sự chỉ đạo và phán đoán của trí tuệ là chỗ dựa cho sự thành công của Chính phủ này.” Khi tuyên thệ nhậm chức tổng thống, Washington đặt tay lên quyển Thánh Kinh để thể hiện sự cung kính đối với Thần. Sau đó, Washington lại tuyên cáo trong Lễ Tạ Ơn đầu tiên của nước Mỹ độc lập (năm 1789) như sau: “Cũng như mọi quốc gia đều có trách nhiệm thừa nhận ý chỉ của Đấng Toàn Năng, để vâng mệnh Ngài, cảm tạ sự ban ơn của Ngài, và khiêm tốn thỉnh cầu sự che chở và ân sủng của Ngài; nhân danh lưỡng viện và ủy ban thừa hành, tôi ‘kiến nghị tới nhân dân Mỹ một ngày tạ ơn và cầu nguyện của công chúng, được cử hành với sự biết ơn Đấng Toàn Năng đã ban cho họ cơ hội hòa bình thiết lập một hình thức chính phủ đảm bảo an toàn và hạnh phúc của mình’”.
Khi hết nhiệm kỳ, tổng thống Washington viết trong thư từ nhiệm gửi quốc dân như sau: “Hai cột trụ lớn nhất cho sự hưng thịnh của quốc gia là tín ngưỡng và đạo đức”.
Khác với xuất thân giàu có của tổng thống Washington, Lincoln có xuất thân bần hàn, gần như chỉ trải qua 18 tháng giáo dục phi chính quy, nhưng với tính siêng năng tự học, ông đã bước trên con đường của một vĩ nhân. Ông là một con người để làm tròn sứ mệnh lớn đã nhọc cái gân cốt, khổ cái tâm chí. Xuất thân nghèo khổ của Lincoln giúp ông hiểu được sự thống khổ của tầng lớp nhân dân dưới bị nô dịch, từ đó phản đối chế độ nô lệ. Ông cho rằng xét về mặt đạo đức, chế độ nô lệ là tà ác, là mâu thuẫn với nguyên tắc “mọi người sinh ra đều bình đẳng” trong «Tuyên ngôn độc lập». Cuối cùng, Lincoln phế bỏ chế độ nô lệ, chặn đứng được tình trạng chia rẽ Nam-Bắc, cứu vãn nước Mỹ.
Khi các nô lệ được tự do đưa tặng cho Lincoln một bản Thánh Kinh, ông đáp: “Về cuốn sách vĩ đại này, tôi chỉ có thể nói, đây là lễ vật của Thượng Đế ban cho nhân loại. Tất cả những gì tốt đẹp Chúa Cứu Thế ban cho thế giới này đều được truyền đạt tới chúng ta thông qua cuốn sách này. Nếu không có nó, chúng ta sẽ không cách nào phân biệt thiện ác. Tất cả những phúc lợi thiết thực nhất với nhân loại, bất kể hiện tại hay tương lai, đều có thể tìm thấy qua cuốn sách này”.
Phẩm cách đạo đức cao thượng của Lincoln được mọi người ca ngợi. Trong đoạn kết bài diễn văn nhậm chức tổng thống lần thứ hai, ông nói: “Đừng làm hại ai, hãy nhân từ với tất cả mọi người; với sự kiên định chính nghĩa, Thượng Đế sẽ cho chúng ta thấy chính nghĩa, để chúng ta tiếp tục hoàn thành những gì mình đang làm. Hàn gắn vết thương của đất nước, chăm sóc những quả phụ, cô nhi gây ra bởi chiến tranh—làm tất cả để chúng ta đạt được và trân quý công lý cũng như hòa bình lâu bền giữa chúng ta, và với tất cả các quốc gia”.
Marquis George N. Curzon (1859-1925), hiệu trưởng trường Đại học Oxford bình luận về lời kết này như sau: “được liệt vào sự vẻ vang và quý báu của loài người… tinh hoa tối thuần khiết trong ngôn từ của nhân loại; không, dường như nó thuộc về ngôn từ của thần thánh”.
Tất nhiên, Washington cũng từng nói qua: “Nước Mỹ quyết sẽ không kiến lập dựa trên các giáo điều của Cơ Đốc giáo”. Lincoln cũng từng biểu đạt rằng: “Kinh Thánh không phải cuốn sách của tôi, Cơ Đốc giáo không phải tín ngưỡng của tôi”.
Hai vị tổng thống đều ca tụng Thần, nhưng lại biểu thị như vậy về Cơ Đốc giáo. Người tu luyện đều rõ ràng, Washington và Lincoln đều không phủ định ai, nhưng nói lai lịch của họ là không giới hạn tại đó, việc họ làm đến từ an bài xa xưa trong vũ trụ cao hơn. Washington, Lincoln, hai vị vĩ nhân xuất thế, nước Mỹ độc lập, lớn mạnh, tự do, đều là chư Thần từ xa xưa đã vì cần thiết của Chính Pháp ngày nay mà an bài. Như hôm nay, Đoàn Nghệ thuật Thần Vận (Shen Yun Performing Arts) không chỉ sinh ra ở Mỹ, mà còn thông qua tuần diễn khắp các nơi trên thế giới, đem chân tướng của văn hóa Thần truyền truyền bá khắp nhân gian, khai mở ký ức bị bụi phủ đã lâu của con người, đánh thức chúng sinh theo Sáng Thế Chủ trở về trời.
Dịch từ:
http://www.zhengjian.org/node/116530
Tìm thấy Chính Pháp và học được cách đọc chữ
Bài viết do một học viên đến từ Đông Bắc Trung Quốc thuật lại
[MINH HUỆ 02-06-2014] Tôi là một học viên 60 tuổi. Khi tôi còn trẻ, những người lớn tuổi xung quanh tôi nói: “Thật khó để có thể gặp được một chính Pháp.” Trải nghiệm của riêng tôi xác thực điều này.
Trong những năm 1990, một số bạn bè trong Phật giáo của tôi đã bảo tôi đi cùng với họ đến Cáp Nhĩ Tân, đến một ngôi chùa vừa mới được xây dựng. Mỗi lần chúng tôi đến một ngôi chùa, chúng tôi đều quyên góp tiền. Chúng tôi đã ở lại trong ngôi chùa mới khoảng vài ngày. Bởi vì tôi không có tiền, tôi đã làm một số công việc tự nguyện như làm áo cà sa và áo khoác.
Vào buổi sáng chúng tôi rời đi, tôi đến để chào tạm biệt vị trụ trì. Tôi đã bị sốc khi nhìn thấy một chiếc giày cao gót của phụ nữ dưới một tấm rèm trong phòng của trụ trì. Trên đường về nhà, tôi nói với bạn bè của mình rằng tôi sẽ không bao giờ đi đến đó một lần nữa.
Sau một thời gian một vài người bạn của tôi bảo tôi đến Mẫu Đơn Giang. Họ nói rằng một ngôi chùa mới đã được xây dựng ở đó. Ngôi chùa là một kiến trúc hai tầng, và các ni cô sống trên tầng hai, ngay phía trên đầu của tượng Phật nằm ở tầng dưới.
Sau khi tôi về đến nhà, tôi bảo chồng mình đem tất cả tượng Phật của chúng tôi trả lại ngôi chùa địa phương. Tôi nói với anh rằng tôi không còn tin vào những điều đó nữa. Tôi đã học một số loại khí công, nhưng thấy rằng tất cả trong số chúng đều có động lực vì tiền bạc, danh vọng, và lợi ích cá nhân.
Tìm kiếm chính Pháp
Bạn tốt của tôi Tiểu Từ đến gặp tôi vào một ngày năm 1994. Cô nói: “Hôm nay chúng tôi sẽ chiếu video về Pháp Luân Công. Hãy đến và xem nhé.” Tôi nói với cô ấy rằng tôi sẽ không đi. Tuy nhiên, cô ấy đã bảo chồng của mình đón tôi bằng xe gắn máy của anh vào chiều hôm đó. Từ chối anh ấy là bất lịch sự, vì vậy tôi đã phải đi.
Khi đến đó, tôi thấy những điều mà mình chưa bao giờ thấy trước đây trên màn hình TV. Ánh sáng đầy màu sắc phát ra từ nó. Sư phụ phát hào quang ra thế giới bên ngoài khi Ngài thuyết giảng. Tôi đã hoàn toàn bị thu hút và nói với Tiểu Từ: “Ánh sáng đang nhấp nháy. Chúng rất đẹp. Hãy nhìn xem, chúng có màu đỏ, màu xanh lá cây và các tia sáng thật đẹp.” Tiểu Từ nói rằng cô không thể nhìn thấy bất cứ điều gì. Tôi hỏi những người khác, và tất cả họ đều nói rằng họ cũng không nhìn thấy bất cứ điều gì khác thường. Tiểu Từ nói với tôi: “Bạn thật có duyên.”
Sau khi một video kết thúc, tôi hỏi: “Chúng ta có thể xem một video khác nữa không? Bài giảng thật là tuyệt vời.” Vì vậy, Tiểu Từ mở băng video khác. Tôi vẫn muốn xem thêm một cái nữa.
Khi về nhà, tôi nhận ra rằng Pháp Luân Công không phải là một môn khí công bình thường. Nó không đòi hỏi chúng tôi tiền bạc, không có hình thức. Nó chỉ yêu cầu chúng tôi trở thành người tốt theo nguyên lý của vũ trụ Chân-Thiện-Nhẫn. Tôi đã không tìm thấy một Pháp chân chính mặc dù tôi đã dành rất nhiều tiền bạc và đi vòng quanh tìm kiếm điều đó trong những năm gần đây. Bây giờ cuối cùng tôi đã tìm thấy chính Pháp và chân Phật!
Tôi bị chứng đau tim nghiêm trọng và thường xuyên nhập viện. Khi tôi luyện bài công pháp thứ hai, tôi trở nên ướt đẫm mồ hôi. Sau khi luyện công một thời gian, các vấn đề tim mạch, viêm phế quản và hen suyễn của tôi đã được chữa khỏi.
Tôi đã ký hợp đồng với một trang trại để trồng cà chua, dưa chuột, bí xanh, cần tây vào năm đầu tiên sau khi tôi bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công. Mọi người nói rằng tôi đã rất can đảm để làm điều đó, bởi vì chồng tôi và tôi không có kinh nghiệm trồng trọt. Chồng tôi đã bị một chấn thương nơi làm việc và rời khỏi nhà máy của anh. Tôi phụ giúp anh ở đây. Chúng tôi không có bất kỳ kiến thức nào về cây trồng, và chúng tôi không sử dụng phân bón. Khi cây cà chua non của người khác vẫn còn màu xanh, của chúng tôi đã chuyển sang màu vàng và cà chua bắt đầu lớn lên.
Con trai tôi mới 16 tuổi và con gái tôi 18 tuổi. Chúng tôi đã hái cà chua, năm giỏ ngày đầu tiên, mười giỏ vào ngày hôm sau, và 15 giỏ ngày hôm sau nữa. Con gái tôi, con trai, và tôi đã bán chúng trong các đô thị và vùng quê. Có quá nhiều để cho chúng tôi bán. Nhiều nông dân và dân làng ghen tị với chúng tôi và nói: “Chúng tôi đã làm trong lĩnh vực này nhiều năm, nhưng cô mới đến đã làm việc tốt hơn so với chúng tôi từng làm.” Những người biết chúng tôi nói: “Cô thật may mắn vì tu luyện Pháp Luân Công.”
Học cách đọc một cách kỳ diệu
Tôi có ba anh em, và là con gái duy nhất trong gia đình. Anh trai thứ hai của tôi gia nhập quân đội sau khi anh trai cả của tôi kết hôn. Anh trai thứ hai của tôi nói với tôi phải nghỉ học và ở nhà để chăm sóc người mẹ bị bệnh trước khi anh rời quân ngũ. Tôi cũng lo lắng về mẹ của chúng tôi, vì vậy tôi đã ngừng đi học. Tôi làm các việc nấu ăn, giặt giũ, và công việc nội trợ khác. Tôi đã gần như mù chữ.
Khi tôi nhìn vào cuốn sách Chuyển Pháp Luân với các học viên khác, tôi không thể đọc được dù một từ. Con gái tôi ủng hộ tôi tu luyện Pháp Luân Công và dạy tôi đọc, nhưng cháu đã trở nên mất kiên nhẫn khi tôi học một cách chậm chạp. Ví dụ, khi cháu dạy tôi từ “thừa nhận” trong Luận Ngữ, tôi cứ quên. Vì vậy, cháu giải thích với tôi: “Khi con phạm sai lầm khi còn nhỏ, mẹ thường hỏi con: “Con có thừa nhận điều đó không?” Đó là từ “thừa nhận.” Cháu đã dạy đi dạy lại cho tôi từ này, và tôi lại quên các từ khác mà cháu đã dạy. Tôi rất chậm! Tôi nên làm gì đây?
Một ngày tại nhóm học Pháp, tôi đã không thể đọc khi đến lượt tôi. Tôi nói: “Hãy bỏ qua lượt tôi. Tôi sẽ chăm chỉ để học nhiều từ hơn ở nhà.” Tôi cảm thấy thật tồi tệ trong tâm. Tôi rất lo lắng về việc học các từ sau khi trở về nhà. Tôi ngủ thiếp đi, và nhìn thấy một ông già hiện lên từ góc phía tây bắc ngôi nhà của tôi. Ông nói: “Đừng sợ. Phải ngay chính, quyết tâm và kiên trì. Con sẽ học được các chữ. Ta sẽ không làm con thất vọng.” Ông sau đó vung cái phất trần của mình vào đầu tôi, và tôi thức dậy.
Tối hôm đó, khi tôi đang nghe các học viên khác đọc Chuyển Pháp Luân tại nhóm học Pháp, tôi cảm thấy có điều gì đó khác biệt. Tôi có thể đọc một số từ trong cuốn sách. Khi đến lượt tôi, tôi nói: “Vâng, tôi biết một vài từ. Xin vui lòng cho tôi đọc.” Quả thực tôi có thể đọc được. Tôi rất biết ơn Sư phụ.
Tôi lắng nghe các bài giảng của Sư phụ chăm chú. Chẳng bao lâu tôi có thể đọc các sách Pháp Luân Đại Pháp khác cũng như Chuyển Pháp Luân.
Khi Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu đàn áp Pháp Luân Công vào năm 1999, một quan chức của Ủy ban Dân cư nói với tôi: “Bà sẽ ổn thôi nếu bà nói rằng bà sẽ ngừng tu luyện Pháp Luân Công.” Tôi đập mạnh xuống bàn và nói: “Giờ này tôi có thể đã ở trong mồ nếu tôi không tu luyện Pháp Luân Công. Tại sao anh lại yêu cầu tôi ngưng? Anh có nghĩ rằng tôi sẽ quên đi tất cả nỗi đau một khi tôi đã hồi phục?”
Tôi tặng Tuần báo Minh Huệ trực tiếp cho mọi người mỗi ngày, và nói cho họ biết sự thật về Pháp Luân Công. Tôi hy vọng chúng sinh sẽ có một tương lai tốt đẹp.
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2014/6/2/找到正法-神奇识字-292885.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2014/8/1/2333.html
Đăng ngày 08-09-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
[MINH HUỆ 02-06-2014] Tôi là một học viên 60 tuổi. Khi tôi còn trẻ, những người lớn tuổi xung quanh tôi nói: “Thật khó để có thể gặp được một chính Pháp.” Trải nghiệm của riêng tôi xác thực điều này.
Trong những năm 1990, một số bạn bè trong Phật giáo của tôi đã bảo tôi đi cùng với họ đến Cáp Nhĩ Tân, đến một ngôi chùa vừa mới được xây dựng. Mỗi lần chúng tôi đến một ngôi chùa, chúng tôi đều quyên góp tiền. Chúng tôi đã ở lại trong ngôi chùa mới khoảng vài ngày. Bởi vì tôi không có tiền, tôi đã làm một số công việc tự nguyện như làm áo cà sa và áo khoác.
Vào buổi sáng chúng tôi rời đi, tôi đến để chào tạm biệt vị trụ trì. Tôi đã bị sốc khi nhìn thấy một chiếc giày cao gót của phụ nữ dưới một tấm rèm trong phòng của trụ trì. Trên đường về nhà, tôi nói với bạn bè của mình rằng tôi sẽ không bao giờ đi đến đó một lần nữa.
Sau một thời gian một vài người bạn của tôi bảo tôi đến Mẫu Đơn Giang. Họ nói rằng một ngôi chùa mới đã được xây dựng ở đó. Ngôi chùa là một kiến trúc hai tầng, và các ni cô sống trên tầng hai, ngay phía trên đầu của tượng Phật nằm ở tầng dưới.
Sau khi tôi về đến nhà, tôi bảo chồng mình đem tất cả tượng Phật của chúng tôi trả lại ngôi chùa địa phương. Tôi nói với anh rằng tôi không còn tin vào những điều đó nữa. Tôi đã học một số loại khí công, nhưng thấy rằng tất cả trong số chúng đều có động lực vì tiền bạc, danh vọng, và lợi ích cá nhân.
Tìm kiếm chính Pháp
Bạn tốt của tôi Tiểu Từ đến gặp tôi vào một ngày năm 1994. Cô nói: “Hôm nay chúng tôi sẽ chiếu video về Pháp Luân Công. Hãy đến và xem nhé.” Tôi nói với cô ấy rằng tôi sẽ không đi. Tuy nhiên, cô ấy đã bảo chồng của mình đón tôi bằng xe gắn máy của anh vào chiều hôm đó. Từ chối anh ấy là bất lịch sự, vì vậy tôi đã phải đi.
Khi đến đó, tôi thấy những điều mà mình chưa bao giờ thấy trước đây trên màn hình TV. Ánh sáng đầy màu sắc phát ra từ nó. Sư phụ phát hào quang ra thế giới bên ngoài khi Ngài thuyết giảng. Tôi đã hoàn toàn bị thu hút và nói với Tiểu Từ: “Ánh sáng đang nhấp nháy. Chúng rất đẹp. Hãy nhìn xem, chúng có màu đỏ, màu xanh lá cây và các tia sáng thật đẹp.” Tiểu Từ nói rằng cô không thể nhìn thấy bất cứ điều gì. Tôi hỏi những người khác, và tất cả họ đều nói rằng họ cũng không nhìn thấy bất cứ điều gì khác thường. Tiểu Từ nói với tôi: “Bạn thật có duyên.”
Sau khi một video kết thúc, tôi hỏi: “Chúng ta có thể xem một video khác nữa không? Bài giảng thật là tuyệt vời.” Vì vậy, Tiểu Từ mở băng video khác. Tôi vẫn muốn xem thêm một cái nữa.
Khi về nhà, tôi nhận ra rằng Pháp Luân Công không phải là một môn khí công bình thường. Nó không đòi hỏi chúng tôi tiền bạc, không có hình thức. Nó chỉ yêu cầu chúng tôi trở thành người tốt theo nguyên lý của vũ trụ Chân-Thiện-Nhẫn. Tôi đã không tìm thấy một Pháp chân chính mặc dù tôi đã dành rất nhiều tiền bạc và đi vòng quanh tìm kiếm điều đó trong những năm gần đây. Bây giờ cuối cùng tôi đã tìm thấy chính Pháp và chân Phật!
Tôi bị chứng đau tim nghiêm trọng và thường xuyên nhập viện. Khi tôi luyện bài công pháp thứ hai, tôi trở nên ướt đẫm mồ hôi. Sau khi luyện công một thời gian, các vấn đề tim mạch, viêm phế quản và hen suyễn của tôi đã được chữa khỏi.
Tôi đã ký hợp đồng với một trang trại để trồng cà chua, dưa chuột, bí xanh, cần tây vào năm đầu tiên sau khi tôi bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công. Mọi người nói rằng tôi đã rất can đảm để làm điều đó, bởi vì chồng tôi và tôi không có kinh nghiệm trồng trọt. Chồng tôi đã bị một chấn thương nơi làm việc và rời khỏi nhà máy của anh. Tôi phụ giúp anh ở đây. Chúng tôi không có bất kỳ kiến thức nào về cây trồng, và chúng tôi không sử dụng phân bón. Khi cây cà chua non của người khác vẫn còn màu xanh, của chúng tôi đã chuyển sang màu vàng và cà chua bắt đầu lớn lên.
Con trai tôi mới 16 tuổi và con gái tôi 18 tuổi. Chúng tôi đã hái cà chua, năm giỏ ngày đầu tiên, mười giỏ vào ngày hôm sau, và 15 giỏ ngày hôm sau nữa. Con gái tôi, con trai, và tôi đã bán chúng trong các đô thị và vùng quê. Có quá nhiều để cho chúng tôi bán. Nhiều nông dân và dân làng ghen tị với chúng tôi và nói: “Chúng tôi đã làm trong lĩnh vực này nhiều năm, nhưng cô mới đến đã làm việc tốt hơn so với chúng tôi từng làm.” Những người biết chúng tôi nói: “Cô thật may mắn vì tu luyện Pháp Luân Công.”
Học cách đọc một cách kỳ diệu
Tôi có ba anh em, và là con gái duy nhất trong gia đình. Anh trai thứ hai của tôi gia nhập quân đội sau khi anh trai cả của tôi kết hôn. Anh trai thứ hai của tôi nói với tôi phải nghỉ học và ở nhà để chăm sóc người mẹ bị bệnh trước khi anh rời quân ngũ. Tôi cũng lo lắng về mẹ của chúng tôi, vì vậy tôi đã ngừng đi học. Tôi làm các việc nấu ăn, giặt giũ, và công việc nội trợ khác. Tôi đã gần như mù chữ.
Khi tôi nhìn vào cuốn sách Chuyển Pháp Luân với các học viên khác, tôi không thể đọc được dù một từ. Con gái tôi ủng hộ tôi tu luyện Pháp Luân Công và dạy tôi đọc, nhưng cháu đã trở nên mất kiên nhẫn khi tôi học một cách chậm chạp. Ví dụ, khi cháu dạy tôi từ “thừa nhận” trong Luận Ngữ, tôi cứ quên. Vì vậy, cháu giải thích với tôi: “Khi con phạm sai lầm khi còn nhỏ, mẹ thường hỏi con: “Con có thừa nhận điều đó không?” Đó là từ “thừa nhận.” Cháu đã dạy đi dạy lại cho tôi từ này, và tôi lại quên các từ khác mà cháu đã dạy. Tôi rất chậm! Tôi nên làm gì đây?
Một ngày tại nhóm học Pháp, tôi đã không thể đọc khi đến lượt tôi. Tôi nói: “Hãy bỏ qua lượt tôi. Tôi sẽ chăm chỉ để học nhiều từ hơn ở nhà.” Tôi cảm thấy thật tồi tệ trong tâm. Tôi rất lo lắng về việc học các từ sau khi trở về nhà. Tôi ngủ thiếp đi, và nhìn thấy một ông già hiện lên từ góc phía tây bắc ngôi nhà của tôi. Ông nói: “Đừng sợ. Phải ngay chính, quyết tâm và kiên trì. Con sẽ học được các chữ. Ta sẽ không làm con thất vọng.” Ông sau đó vung cái phất trần của mình vào đầu tôi, và tôi thức dậy.
Tối hôm đó, khi tôi đang nghe các học viên khác đọc Chuyển Pháp Luân tại nhóm học Pháp, tôi cảm thấy có điều gì đó khác biệt. Tôi có thể đọc một số từ trong cuốn sách. Khi đến lượt tôi, tôi nói: “Vâng, tôi biết một vài từ. Xin vui lòng cho tôi đọc.” Quả thực tôi có thể đọc được. Tôi rất biết ơn Sư phụ.
Tôi lắng nghe các bài giảng của Sư phụ chăm chú. Chẳng bao lâu tôi có thể đọc các sách Pháp Luân Đại Pháp khác cũng như Chuyển Pháp Luân.
Khi Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu đàn áp Pháp Luân Công vào năm 1999, một quan chức của Ủy ban Dân cư nói với tôi: “Bà sẽ ổn thôi nếu bà nói rằng bà sẽ ngừng tu luyện Pháp Luân Công.” Tôi đập mạnh xuống bàn và nói: “Giờ này tôi có thể đã ở trong mồ nếu tôi không tu luyện Pháp Luân Công. Tại sao anh lại yêu cầu tôi ngưng? Anh có nghĩ rằng tôi sẽ quên đi tất cả nỗi đau một khi tôi đã hồi phục?”
Tôi tặng Tuần báo Minh Huệ trực tiếp cho mọi người mỗi ngày, và nói cho họ biết sự thật về Pháp Luân Công. Tôi hy vọng chúng sinh sẽ có một tương lai tốt đẹp.
Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2014/6/2/找到正法-神奇识字-292885.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2014/8/1/2333.html
Đăng ngày 08-09-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2014
Việt Nam Sản xuất tên lửa đạn đạo nào?
VN sản xuất tên lửa đạn đạo ?
5/4/12-Phunutoday trích dẫn từ Tiexue.net cho hay: Không phải là S-300PMU1, Yakhont, hay BrahMos… mà đây là một loại tên lửa được Liên Xô bán cho Việt Nam và nó đã tồn tại trong biên chế của quân đội nhân dân Việt Nam từ lâu.

Tên lửa Shaddock của Việt Nam là một loại tên lửa chống hạm khá mạnh và có sức công phá lớn, đặc biệt nó đạt đến tốc độ Mach 1,4 (gấp 1,4 lần tốc độ âm thanh và có khả năng chống tàu chiến hạng nặng" tờ Quân sự Tiexue cho biết.

Hình ảnh tên lửa chống hạm hạng nặng của Việt Nam được trang bị cho tàu chiến Molniya thuộc dự án 1241. Những chiếc tàu chiến này của Việt Nam có khả năng mang 4 tên lửa chống hạm loại này.

Trong khi tên lửa của Nga có thể trang bị cho tàu ngầm, tàu chiến thì tên lửa Shaddock của Việt Nam chỉ có thể phóng ở bệ phóng xe tải từ đất liền nhưng với tầm bắn là khoảng 550km thì có thể nói tên lửa Shaddock của Việt Nam có khả năng kiểm soát được toàn bộ chủ quyền biển đảo trên biển Đông.

Việt Nam là 1 trong 32 quốc gia/vùng lãnh thổ trên thế giới có trang bị tên lửa đạn đạo. Trong 32 quốc gia đó có 15 quốc gia dùng tên lửa đi mua, 17 quốc gia nghiên cứu chế tạo hoặc biên chế tên lửa do nước mình tự sản xuất, trong đó có Việt Nam (*)

Hiện nay Việt Nam đã tự mình sản xuất được loại tên lửa này chiều dài tên lửa 11,7 m; nặng 4,8 tấn; đường kính 880 mm; sải cánh dài 2,6 m; tốc độ gấp 2,5 tốc độ âm thanh; tầm bắn xa nhất là 550 kmTrong khi tên lửa Shaddock do Liên Xô nghiên cứu chế tạo, dài 10 mét, nặng 4,5 tấn, có tầm bắn 460 km, tốc độ 1,4 lần vận tốc âm thanh. Mục đích để chống các hạm đội tàu sân bay tiếp cận lãnh thổ Liên Xô. Đây là loại tên lửa mà Nga chỉ bán riêng cho Việt Nam

Tuy đã có trong biên chế của quân đội nhân dân Việt Nam từ rất lâu, nhưng loại tên lửa này vẫn giữ vai trò khá quan trọng trong lực lượng tên lửa của nước này. Tờ Tiexue cho biết

Hiện nay Việt Nam vẫn chưa sản xuất được tên lửa loại này dùng cho tàu chiến và tàu ngầm nhưng đã sản xuất được loại dùng chở bằng xe đặc chủng

Quân đội VN rất hy vọng vào loại vũ khí này cùng nhiều loại tên lửa chống hạm sắp mua và coi nó luôn “thuộc loại tiên tiến hàng đầu ở khu vực Đông Á”
http://phunutoday.vn/anh-nong/201204/anh-doc-ten-lua-bao-ve-toan-bo-bien-dao-Viet-Nam-2143908/?cp=05041309&page=11#album-photo

Tên lửa Shaddock của Việt Nam là một loại tên lửa chống hạm khá mạnh và có sức công phá lớn, đặc biệt nó đạt đến tốc độ Mach 1,4 (gấp 1,4 lần tốc độ âm thanh và có khả năng chống tàu chiến hạng nặng" tờ Quân sự Tiexue cho biết.

Hình ảnh tên lửa chống hạm hạng nặng của Việt Nam được trang bị cho tàu chiến Molniya thuộc dự án 1241. Những chiếc tàu chiến này của Việt Nam có khả năng mang 4 tên lửa chống hạm loại này.

Trong khi tên lửa của Nga có thể trang bị cho tàu ngầm, tàu chiến thì tên lửa Shaddock của Việt Nam chỉ có thể phóng ở bệ phóng xe tải từ đất liền nhưng với tầm bắn là khoảng 550km thì có thể nói tên lửa Shaddock của Việt Nam có khả năng kiểm soát được toàn bộ chủ quyền biển đảo trên biển Đông.

Việt Nam là 1 trong 32 quốc gia/vùng lãnh thổ trên thế giới có trang bị tên lửa đạn đạo. Trong 32 quốc gia đó có 15 quốc gia dùng tên lửa đi mua, 17 quốc gia nghiên cứu chế tạo hoặc biên chế tên lửa do nước mình tự sản xuất, trong đó có Việt Nam (*)

Hiện nay Việt Nam đã tự mình sản xuất được loại tên lửa này chiều dài tên lửa 11,7 m; nặng 4,8 tấn; đường kính 880 mm; sải cánh dài 2,6 m; tốc độ gấp 2,5 tốc độ âm thanh; tầm bắn xa nhất là 550 kmTrong khi tên lửa Shaddock do Liên Xô nghiên cứu chế tạo, dài 10 mét, nặng 4,5 tấn, có tầm bắn 460 km, tốc độ 1,4 lần vận tốc âm thanh. Mục đích để chống các hạm đội tàu sân bay tiếp cận lãnh thổ Liên Xô. Đây là loại tên lửa mà Nga chỉ bán riêng cho Việt Nam

Tuy đã có trong biên chế của quân đội nhân dân Việt Nam từ rất lâu, nhưng loại tên lửa này vẫn giữ vai trò khá quan trọng trong lực lượng tên lửa của nước này. Tờ Tiexue cho biết

Hiện nay Việt Nam vẫn chưa sản xuất được tên lửa loại này dùng cho tàu chiến và tàu ngầm nhưng đã sản xuất được loại dùng chở bằng xe đặc chủng

Quân đội VN rất hy vọng vào loại vũ khí này cùng nhiều loại tên lửa chống hạm sắp mua và coi nó luôn “thuộc loại tiên tiến hàng đầu ở khu vực Đông Á”
http://phunutoday.vn/anh-nong/201204/anh-doc-ten-lua-bao-ve-toan-bo-bien-dao-Viet-Nam-2143908/?cp=05041309&page=11#album-photo
Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014
Nhân duyên do Trời định
Nhân Duyên Do Trời Định, Sức Người Khó Truy Cầu
Tin Đa Chiều - Đăng ngày: 8:33 AM - 02/08/2014/ 0 Ý kiếnTại huyện Hoằng Nông thời Đường có một viên quan họ Lý, có một người con gái đã đến tuổi lấy chồng, muốn gả cho Lư Sinh. Lư Sinh có dung mạo uy nghiêm, râu để dài, phong lưu phóng khoáng. Cả gia đình Lý thị đều nói: “Thật đúng là một chàng rể tốt”.
Sau đó chọn được một ngày tốt để kén rể. Đương thời có một bà đồng cốt, chuyên nói về những chuyện trong tương lai, những điều bà nói ra đều rất ứng nghiệm. Bởi vì bà ta có quan hệ rất thân với Lý gia, trong lễ thành hôn của gia đình, bà ta cũng tới góp vui. Lý phu nhân thường ngày rất tin lời bà ta, bèn hỏi: “Bà xem giúp tôi con rể Lư lang, quan chức bổng lộc dày mỏng ra sao?” Bà đồng hỏi: “Lư lang có phải là người có bộ râu dài?” Lý phu nhân nói: “Chính xác”. Bà đồng nói: “Nếu là người này, có lẽ không phải là con rể của phu nhân. Con rể của phu nhân có dung mạo không giống như vậy”. Lý phu nhân hỏi: “Vậy dung mạo con rể tôi như thế nào?” Bà đồng đáp: “Đó là một người có ngoại hình bình thường, khuôn mặt trắng trẻo, trên mặt không có chút râu nào”. Lý phu nhân cảm thấy mười phần kinh ngạc nói: “Theo lời bà nói, thế thì con gái tôi hôm nay không gả đi được rồi!” Bà đồng nói: “Sao lại không gả đi được? Đêm nay chắc chắn là được gả đi!” Lý phu nhân nói: “Bà ăn nói thật hàm hồ, nếu như hôm nay được gả đi, lẽ nào không phải là Lư lang?” Bà đồng nói: “Ngay cả tôi cũng không biết là vì sao nữa kìa”. Lời nói vừa dứt, thì nghe thấy bên ngoài trống nhạc vang trời, Lư Sinh đã mang sính lễ tới, đang qùy bái ở ngoài sảnh đường. Lý phu nhân kéo tay bà đồng đi ra khe cửa phía sau sảnh đường, chỉ vào Lư Sinh mà nói: “Bà xem sính lễ kìa, đêm nay chúng sẽ thành hôn, làm sao mà nó không phải là con rể của tôi chứ? Thật nực cười! Thật quá nực cười!” Đám người hầu kẻ hạ nhìn thấy Lý phu nhân cười nhạo bà đồng cốt, cũng hùa theo mà nói: “Lão bà bà này quen nói khoác rồi, lần này không chuẩn rồi bà ơi”! Bà đồng chỉ lặng thinh, một câu cũng không nói.
Chẳng mấy chốc, bạn bè thân hữu đều đã tới đầy đủ để tham dự lễ thành hôn của hai người. Lư Sinh cùng hai người tùy tùng, sau khi hành lễ tại sảnh đường xong, liền đi vào phòng tân nương. Lư Sinh tiến tới gần Lý tiểu thư rồi hạ tấm vải che đầu của nàng xuống, bỗng anh ta giật mình thất kinh, toàn thân ớn lạnh, kêu lên “Trời ơi!” rồi chạy thục mạng ra ngoài. Bạn bè thân hữu hỏi anh ta điều gì anh ta cũng không nói, chạy thẳng ra khỏi cửa, lên ngựa, quất hai roi phi như bay đi mất. Trong số những người bạn có vài người cố gắng đuổi theo anh ta để hỏi rõ sự tình, Lư Sinh chẳng nói rõ duyên cớ, chỉ xua tay nói: “Không thành được! Không thành được đâu!”. Không có cách nào khác, mấy người bạn đành quay về kể lại sự tình cho mọi người nghe.
Lý quan huyện sau khi nghe tin, tức đến nỗi phồng má trợn mắt, hét lên: “Sự tình sao lại thành ra thế này! Sao lại thành ra thế này hả?!”: con gái ta dung mạo như hoa, tại sao lại có thể như thế chứ? Quyết phải gọi mọi người tới xem cho minh bạch! Bèn mời bằng hữu thân thích vào phòng trong, gọi con gái ra bái kiến. Lý quan huyện chỉ vào con gái nói: “Mọi người xem xem, tiểu nữ nhà ta có xứng với Lư lang không, con gái ta có phải xấu xí gì đâu đúng không? Hôm nay Lư lang vừa gặp đã chạy mất, nếu như không cho mọi người chứng kiến, mọi người có khi sẽ nghĩ rằng con ta là quái vật mất!” Mọi người ngầng đầu lên xem, con gái Lý quan huyện quả nhiên có phong thái yểu điệu thướt tha, tuyệt sắc vô song. Bạn bè thân hữu bàn tán xôn xao: “Đúng là Lư lang vô phúc”, “Lư Lang không có duyên phận”, “Ban ngày mà mắc sai lầm, gặp phải thần sát” v.v… bàn tán không ngừng. Lý quan huyện tức giận đùng đùng nói rằng: “Nghĩ tới Lư lang bây giờ cũng không giải quyết được gì nữa rồi, trong các vị quan khách ở đây có ai tình nguyện làm rể nhà ta, đêm nay có thể thành hôn luôn, thân bằng cố hữu tại đây có thể làm chứng, đều là người mai mối”. Có một người trong đám quan khách bước ra, tiến tới trước, thong thả điềm tĩnh nói: “Tiểu tử bất tài, xin nguyện được làm rể”. Mọi người nhìn kỹ, chàng trai này họ Trịnh, đã từng được phong làm quan, mặt trắng như phủ phấn, môi đỏ, hàm không có một sợi râu nào, nhìn rất anh tuấn. Mọi người vỗ tay đồng thanh nói: “Nếu là tiểu lang tử này, thì mới thật là Tài Lang, hai người tuổi tác diện mạo tương đồng, môn đăng hộ đối”. Lúc đó liền cử hai vị cao tuổi ra làm mai mối, chọn một người thiếu niên làm phù rể, mời tiểu thư ra làm lễ giao bái, đưa vào động phòng.
Bởi vì bà đồng sớm đã có dự ngôn trước, lúc này cả nhà Lý phu nhân đều đã tin cả, không còn dám cười nhạo bà nữa. Sau khi thành hôn, Trịnh sinh gặp Lư sinh, hai người họ vốn có quan hệ rất tốt, Trịnh sinh mới hỏi: “Đêm hôm ấy tại sao lại như thế?” Lư sinh nói: “Tiểu đệ vén tấm vải che đầu ra, nhìn thấy cô gái ấy có hai mắt đỏ ngầu, to như đọi đèn, răng mọc dài, lòi ra hai bên miệng, đâu có phải hình người đâu. So với bức họa ở bích điện thì khác hẳn, đệ sợ đến vỡ cả mật, không chạy thì còn làm gì được nữa đây?” Trịnh sinh cười nói: “Cô gái ấy đã được gả cho ta rồi”. Lư sinh nói: “Huynh không sợ sao?” Trịnh sinh nói: “Mời đệ tới nhà huynh, ta sẽ mời cô ấy ra cho đệ gặp”. Lư sinh theo Trịnh sinh về nhà, Lý tiểu thư trang điểm cẩn thận rồi ra đón tiếp, dung mạo xinh đẹp tự nhiên, hoàn toàn không giống với hôm trước Lư sinh thấy trong phòng, cảm thấy tiếc nuối vô cùng. Sau đó được nghe kể về dự ngôn của bà đồng cốt, anh đã hiểu được nhân duyên quả thực đều đã có định số, liền thở dài. Thật đúng là:
“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng”.
Theo vietdaikynguyen
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


