Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014

Thành Cổ Hồi Sinh, nhờ tu luyện nhớ lại quá khứ xa xôi

Thành cổ hồi sinh


Tác giả: Khải Hàng
[Chanhkien.org] Mùa hè tháng 7 năm 2011, tôi cùng chồng và con gái đi Đại Liên một chuyến, và lưu lại ở đó trong hai ngày rưỡi. Trong phút chốc nhìn ra biển lớn, bất giác trong lòng tôi gợi lên một cảm giác vui vẻ và tràn đầy thoải mái. Trong tâm tôi phát ra âm thanh: Ta đến rồi! Cảm giác đó vừa tinh xảo tế nhị lại vừa thân thiết, nhưng tôi lại không lý giải được vì sao lại thế.
Khi đến Đại Liên là buổi chiều, sáng sớm hôm sau trong khi phát chính niệm, tôi nhìn thấy một con nhện to, tôi biết rõ tên của nó là “Phong Đỉnh Vương”, tôi đã nhanh chóng tiêu diệt nó. Sáng hôm sau nữa, khi phát chính niệm, tôi thấy hai binh sĩ mặc áo giáp đang trao đổi công việc, và nhìn thấy Cổ Bảo (thành cổ). Tôi chứng kiến cảnh lớp băng chấn động vỡ ra, rồng cổ ngàn năm từ trong băng vụt nhảy ra, nói: “Cuối cùng ngài cũng đã đến! Ta đợi ngài rất lâu rồi!” Mấy lần phát chính niệm trong ngày hôm đó, tôi nhiều lần nhìn thấy thành cổ, thành nhỏ rất cổ rất cổ, có kiến trúc hình chữ nhật, đỉnh nhọn cao cao, màu vàng với phong cách cổ xưa. Tôi biết rằng nơi Đại Liên này trong quá khứ xa xôi đã từng xây dựng thành cổ nhỏ.
Một đoạn ký ức xa xôi mà xót xa trong lòng được mở ra từ đây.
Từ tầng giữa của đại khung vũ trụ trở xuống (đây là điều nhìn thấy trong tầng thứ cá nhân), có một thế giới thiên quốc gọi là Kính Tâm thế giới, là một thế giới thiên quốc do Phật Chủ trong khi lưu lại ở tầng thứ này đã khai sáng ra. Hình tượng mà Phật Chủ thể hiện tại tầng thứ này là Kính Tâm Pháp Vương. Kính Tâm Pháp Vương có pháp tướng trang nghiêm, trên thân phát ra hào quang nhu hòa, màu vải không ngừng biến ảo, trên đỉnh đầu ngài có một viên bảo châu to tròn cứng và long lanh. Bảo châu này và Pháp Vương tâm ý tương thông, nó được gọi là Cảm Tri Bảo Châu.
Khi Kính Tâm thế giới mới được khai sáng, Pháp Vương tuyên giảng Pháp lý cho chúng sinh trong thế giới của ngài. Ngài làm thủ ấn nhu hòa và huyền diệu, khi làm thủ ấn, thế tay đại liên hoa vừa xuất hiện, bảo châu trên đầu liền cảm nhận được sự huyền diệu của Pháp lý, phóng ra ánh hào quang tuyệt đẹp, bao nhiêu thứ tinh hoa trong ánh hào quang rời khỏi bảo châu, hình thành một tấm gương dựng đứng trong không trung, có thể hiện ra cảnh đẹp của đại khung vũ trụ, triển hiện ra vô hạn những huyền cơ. Khi chúng sinh nhìn vào tấm gương này, những cảnh quan nhìn thấy đều không giống nhau, trong tâm có những niềm vui khác nhau. Pháp Vương dùng thủ ấn nói với chúng sinh: “Gương này gọi là Dưỡng Tâm Thần Kính, tâm động thì gương động, gương tùy theo tâm mà biến hóa, có thể chiếu thấy tâm của người xem.” Chúng sinh biết được điều này đều hết sức ngạc nhiên, Pháp Vương lại tiếp tục làm thủ ấn, trên không trung xuất hiện Lưu Ly Bảo Trản (chén lưu ly), Gương Thần di chuyển lên trên Bảo Trản, Gương Thần và Bảo Trản cùng phát ra ánh sáng, chúng sinh lại có thêm niềm vui vô hạn.
Gương Thần do hai đồng tử ngồi phía dưới Pháp Vương trông coi. Hai đồng tử này là nam đồng tử và nữ đồng tử khoảng 11 – 12 tuổi, nam đồng tử tên là Mộc Đồng, nữ đồng tử tên là Mã Đồng, trên người mặc quần áo phát ra ánh sáng màu xanh lam, tâm thái vui tươi và thuần khiết. Hai đồng tử thường hay lau chùi Bảo Trản và Gương Thần, Gương Kính thỉnh thoảng cũng chơi đùa với hai đồng tử.
Rồi một hôm, Kính Tâm Pháp Vương tuyên giảng Phật Pháp, ngài làm thủ ấn rất lâu, thủ ấn cuối cùng có nghĩa là: “Ta sẽ đích thân hạ thế để chính Pháp, cứu độ vô lượng chúng sinh khỏi hoại diệt…” Hai đồng tử và chúng Thần quỳ bái trước Pháp Vương, chuẩn bị cùng ngài đi xuống.
Lúc đó Gương Thần hiển hiện điều dị thường, còn phát ra âm thanh. Chúng Thần chăm chú nhìn Gương Thần, chỉ thấy trên Gương Thần xuất hiện một giọt nước mắt. Pháp Vương hiểu được ý của Gương Thần cũng muốn đi xuống, nhưng ở Pháp giới, Gương Thần cũng có chức trách của mình, nên không nằm trong số các Thần đi xuống. Pháp Vương lặng người, Ngài vừa nhấc ngón tay, nước mắt rời khỏi Gương Thần nhanh chóng chuyển động, đến khi dừng lại, giọt nước mắt đã biến thành một chiếc gương nhỏ giống hệt Gương Thần, Pháp Vương nói với Gương Thần (bằng thủ ấn): “Gương này là do một niệm của ngươi mà sinh ra, nhờ Pháp lực của ta mà thành, nó tương thông với tâm ý của người, hãy để nó thay ngươi đi xuống, ngươi cũng có thể tăng thêm uy đức.” Gương Thần trong tâm vui mừng tạm biệt tiểu Gương Thần và hai đồng tử.
Kính Tâm Pháp Vương dẫn hai đồng tử, tiểu Gương Thần và chúng Thần đi xuống.
Khi xuống đến một tầng thứ, hai đồng tử biến thành hai người trang phục giống nhau, nhưng màu y phục lại phân thành màu vàng của hình tượng nam thần và màu tím của hình tượng nữ thần. Tên của họ lần lượt là Diệu Đồng và Tử Anh. Trong tầng thứ này, hai vị thần tâm ý tương thông, thủ ấn tương hợp, cùng sáng tạo ra một thế giới thiên quốc, gọi là Tử Thiên thế giới. Hai vị Thần cùng nhìn nhau mỉm cười, cùng ngồi lên đài hoa sen, dùng thủ ấn tuyên giảng Pháp lý cho chúng sinh tại đó. Kiến trúc trong thế giới thiên quốc này là hình thức của Thành Bảo, trong đó có vô lượng chúng sinh. Hai vị thần này được gọi là Tử Diệu Song Tôn. Trong tầng thứ này, họ vẫn cần tiếp tục đi xuống và đã nhận sự an bài của cựu thế lực.
Tầng tầng đi xuống, tầng tầng xóa sạch ký ức; tầng tầng đi xuống, tầng tầng giảm đi ánh sáng rực rỡ; tầng tầng đi xuống, lại tầng tầng an bài, cứ như vậy trải qua thời gian dài đằng đẵng, họ tiến nhập vào tam giới.
Trong lịch sử lâu dài trước đó, trong 33 tầng trời của tam giới, có hai nơi tiên cảnh. Một chỗ gọi là Phụng Nguyệt Cung, cung chủ là Phụng Nguyệt tiên tử, trang sức của tiên tử vô cùng trang nhã, y phục màu trắng của ánh sáng mặt trăng, trước trán có ký hiệu hình trăng khuyết, khi bay lượn trong không trung thường hay biến ảo thành Ngọc Phụng trong vắt.
Một chỗ khác gọi là Tử Tiên Các, chủ nhân là Tử Nguyệt Tiên Tử, tiên tử mặc y phục màu tím, trước trán có trang sức hình chữ V, đằng sau thân có trang sức hình nửa cái quạt, trên mặt quạt là màu vàng kim chạm trổ 12 con rồng song song tạo thành gân quạt, những con rồng này có thể lớn có thể nhỏ, tùy theo tâm ý của tiên tử mà động theo, hơn nữa có thể biến thành vô số những hình dạng khác nhau. Thỉnh thoảng Tử Nguyệt Tiên Tử gảy đàn ngọc, đọc Kim Kinh, và trải qua những tháng ngày tiêu dao tự tại. Hai vị tiên tử này thường hay qua lại thăm nhau. Hai vị này chính là hai đồng tử Mộc Đồng và Mã Đồng trong Kính Tâm thế giới được nhắc đến ở trên, cũng chính là người khai sáng Tử Thiên thế giới – Diệu Đồng và Tử Anh.
Một hôm, Phụng Linh sứ giả của Quần Thần điện đến, mời Phụng Nguyệt Tiên Tử và Tử Nguyệt Tiên Tử đến dự hội thần tiên. Phụng Linh sứ giả giống như đôi cánh mỹ lệ của phượng hoàng, bay lên giống như phượng hoàng giương cánh màu sắc rực rỡ. giống như khoác lên vũ y của tiên nữ, đoan trang cao quý.
Phụng Nguyệt Tiên Tử và Tử Nguyệt Tiên Tử chấp nhận lời mời, đi đến hội thần tiên. Trong hội thần tiên, hội trường trang nghiêm, các thần tiên đang thương lượng việc an bài các vị thần tiên đi xuống, trong đó có Phụng Nguyệt Tiên Tử và Tử Nguyệt Tiên Tử. Sau khi an bài xong, các vị thần tiên trong tốp đầu đi xuống cần trở về thu xếp ổn thỏa mọi việc, rồi mới chuẩn bị đi xuống. Tử Nguyệt Tiên Tử không muốn mang theo đồ trang sức sau lưng, 12 con rồng lại thỉnh cầu được đi xuống cùng tiên tử, tiên tử do dự, nói: “Hạ thế sẽ rất khổ, Pháp lực sẽ mất, trong mê còn phạm sai lầm.” 12 con rồng nhiều lần thỉnh cầu, tiên tử đã nhận lời.
Khoảng 70 triệu năm trước, ở thành phố miền bắc Trung Quốc, chính là ở vị trí Đại Liên ngày nay, có non có nước, phong cảnh vô cùng đẹp, nhà cửa đông đúc, lòng người chất phác thật thà. Người dân ở đó có tóc màu vàng kim, mắt xanh, da trắng, mũi xinh xắn có chút giống búp bê. Và những người sống ở đây đều hy vọng xây dựng một thành phố nhỏ, nên họ muốn chọn một người đức cao vọng trọng làm vương.
Khi đó trong tâm người ta đều có khuynh hướng chọn thương nhân Hạo Nhiên. Hạo Nhiên trắng trẻo, cao lớn khôi ngô, mắt to có thần thái, trước trán có vết tích hình trăng khuyết mờ mờ, đối xử với người khác nhã nhặn khiêm tốn, nhiệt tình. Hạo Nhiên rất biết buôn bán, tiền kiếm được phần lớn dùng cho việc cứu giúp người nghèo. Khi dùng hết tiền rồi, anh lại đi kiếm, và anh lại tiếp tục dùng tiền kiếm được để cứu giúp người nghèo. Thời đó thịnh hành bài đồng dao: “Đắc tận giả vi vương” (Người đắc được tất cả thì làm vương). Mọi người đều cho rằng Hạo Nhiên làm buôn bán, có được tiền thì lại dùng hết để giúp đỡ người nghèo khó, tích đức hành thiện, nên anh đáng được tôn làm vua.
Có rất nhiều người bày tỏ suy nghĩ của mình về Hạo Nhiên. Nhưng Hạo Nhiên không muốn làm vua nên đã cố ý khước từ: “Có lẽ mọi người hiều sai rồi, có thể là “đắc kính giả vi vương” chăng? Có thể là người có được chiếc gương mới là người làm vua.” Những lời này vừa nói ra được vài hôm, Hạo Nhiên mộng thấy một ông lão râu trắng, ông lão bảo anh lên núi, đi tìm Dưỡng Tâm Thần Kính, để có thể giúp đỡ người khác một cách tốt hơn. Sau khi Hạo Nhiên tỉnh lại, trong lòng nghĩ, nếu như lời ông lão nói là thật, có thể giúp đỡ người khác một cách tốt hơn thì chẳng phải là chuyện tốt hay sao. Thế là anh chuẩn bị lương khô, rồi đi lên núi. Ở trên núi, anh tìm chín chín tám mươi mốt ngày, cuối cùng đã phát hiện được một tấm gương. Anh mừng rỡ đi đến phía trước để lấy chiếc gương, nhưng không cầm được. Anh nghĩ nên phải khấu bái thần linh, khấu bái xong, anh đã cầm được chiếc gương lên. Chiếc gương to như bàn tay, rất nhẹ, cạnh gương có một khe hở nhỏ, cầm trong tay có cảm giác ấm áp, chất liệu giống ngọc, so với ngọc còn tốt hơn. Lúc này tấm gương lóe lên ánh sáng, trong ánh sáng xuất hiện một ông lão râu trắng, giống với ông lão đã xuất hiện trong giấc mộng của anh, ông lão tự xưng là Chưởng Kính sứ giả (sứ giả nắm giữ gương), rồi nói với Hạo Nhiên: “Chiếc gương này gọi là Dưỡng Tâm Thần Kính, chỉ người có đạo đức cao thượng mới có được nó, người có được nó sẽ tăng thêm phúc phận. Hãy đi làm quốc vương, và xây dựng Thành Bảo đi! Gương Thần sẽ bảo vệ Thành Bảo.” Nói xong, ông lão biến mất, và ánh sáng cũng không lóe lên nữa.
Hạo Nhiên mang Gương Thần xuống núi, mọi người sau khi nghe về những gì anh trải qua, đột nhiên tỉnh ngộ: “Thì ra chúng ta đã lý giải sai bài đồng dao rồi, phải là “đắc kính giả vi vương.” Vậy là mọi người không chờ đợi gì nữa nhanh chóng ủng hộ Hạo Nhiên làm vua. Hạo Nhiên cũng cảm thấy đây là thiên ý, không thể làm trái thiên ý, nên không từ chối nữa.
Hạo Nhiên bắt đầu chỉ huy mọi người xây dựng Thành Bảo ở nơi bằng phẳng. Khi đào móng xuống lòng đất khoảng 12m thì đào được một con rùa, mai rùa màu xanh lá cây có lẫn màu vàng nhạt. Hạo Nhiên muốn thả nó đi, đột nhiên cảm thấy Gương Thần đeo trên cổ động đậy, anh cầm ra xem, mặt gương hiện ra văn tự: “Giết rùa, rồi đem bốn chân của nó chôn ở bốn vị trí của Thành Bảo, có thể làm cho Thành Bảo vững chắc.” Hạo Nhiên đã nghe theo chỉ thị của Gương Thần.
Khi Thành Bảo được xây xong, Hạo Nhiên phát hiện Gương Thần tỏa ra khí màu tím, nên trong đầu đã nhanh chóng lóe lên ý nghĩ đặt tên Thành Bảo là “Tử Thiên Bảo”.
Tử Thiên Bảo dưới sự cai trị của vua Hạo Nhiên, là một thành phố phồn vinh.
Vua Hạo Nhiên sống được 84 tuổi, sau khi ông qua đời, con trai tiếp tục kế vị. Thành Bảo đời này tiếp đời kia, đến đời vua thứ 24, tên là Tử Tế, vương hậu là Lưu Hương hạ sinh một người con gái đặt tên là Tử Vi. Công chúa Tử Vi rất thích màu tím, lanh lợi hoạt bát, nhan sắc mỹ lệ. Hai vợ chồng quốc vương vô cùng yêu mến công chúa, quốc vương còn cố ý chọn ra 12 hộ vệ trong cung để bảo vệ công chúa, hai người hộ vệ đứng đầu tên là Cổ Long và Ứng Long.
Năm công chúa được 11 tuổi, từ trên lầu trong thành cô phát hiện ở trên ngọn núi xa có một đốm sáng, cảm thấy kỳ quái, cô liền dẫn theo hộ vệ lên núi đi tìm. Sau khi tìm đến nơi, cô phát hiện một thứ giống như pha lê, to khoảng nửa bàn tay của người trưởng thành, giống như một tấm gương dựng đứng trên một tảng đá nhô lên, trong gương có hiện ra hình ảnh. Công chúa loanh quanh xem xét một cách hiếu kỳ, ở một góc nào đó, cô bất ngờ nhìn được toàn cảnh của Thành Bảo, có thể nhìn thấy rõ ràng người trong thành, công chúa rất kinh ngạc. Thị vệ cũng luân phiên quan sát, họ đều kinh ngạc không ngớt.
Tối hôm ấy, công chúa có một giấc mơ, trong mơ cô gặp một người rất nhã nhặn ôn hòa, trên trán có dấu vết hình trăng khuyết, dựa vào cảm giác cô biết đây là vị vua đời thứ nhất – Hạo Nhiên. Vua Hạo Nhiên cho cô cảm giác không phải là uy nghiêm, mà là một cảm giác quen thuộc và thân thiết. Sau đó cảnh tượng trong mộng thay đổi, cô thấy cảnh tượng vua Hạo Nhiên trải qua khi tìm kiếm Gương Thần; nhìn thấy năm cô sinh ra, nơi mà vua Hạo Nhiên tìm thấy Gương Thần bỗng nhiên sinh ra một thứ tròn tròn, dần dần lớn lên giống như thứ mà lúc trời sáng cô dẫn theo thị vệ nhìn thấy trên núi; lại nhìn thấy một chú bé chăn trâu, đi lại quanh thứ này một cách hiếu kỳ, tập trung tinh thần nhìn, bỗng nhiên, cậu bé kinh ngạc há tròn mồm, mắt không chuyển động nhìn chăm chăm vào thứ đó. Tiếp đó, trong mộng lại xuất hiện Gương Thần, trong Gương Thần có chữ đang chuyển động nhanh, cuối cùng xuất hiện một hàng chữ: “Lưỡng vương tương ngộ, hoàn mỹ vô khuyết.” (Hai vua gặp nhau, hoàn mỹ không khiếm khuyết)
Sau khi công chúa tỉnh lại, cô cảm thấy giấc mộng này rất kỳ lạ, sau bữa ăn sáng, cô kể lại cho cha mẹ nghe. Quốc vương và vương hậu nghe xong vô cùng vui mừng. Quốc vương nói: “Theo ghi chép trong Thành Bảo, vẫn chưa có ai mộng thấy tiên vương, uy đức của vua Hạo Nhiên làm hậu nhân phải kính ngưỡng, con mộng thấy ngài, thật là may mắn”. Quốc vương muốn con gái dẫn mình lên núi đi xem vật kỳ dị kia, nhưng lại có một sức mạnh nào đó ngăn cản ông, làm ông từ bỏ ý nghĩ đó.
Sau này công chúa lại lên núi tìm đến chỗ đó, không biết vì sao, có làm thế nào cũng không tìm thấy.
Năm công chúa 12 tuổi, có hai người ca hát tạp kỹ đến Thành Bảo biểu diễn trên quảng trường, rất nhiều người vây quanh xem. Trong lòng quốc vương thấy mơ hồ bất an, cảm thấy sắp có tai nạn giáng xuống, vương hậu cũng có điều phiền muộn không thể tả nổi. Nhưng công chúa lại rất thích thú, cô muốn đi xem biểu diễn, quốc vương không cho, cả ngày cô buồn bã trong lòng. Thỉnh thoảng tiếng vỗ tay lại vang lên ngoài quảng trường, mọi người đều bàn tán sôi nổi về sự thần bí của trò ca hát tạp kỹ kia. Đến ngày thứ ba, cuối cùng quốc vương cũng cho phép công chúa ra ngoài, còn đeo cho cô Gương Thần, và bảo cô không được bỏ nó ra, 12 thị vệ hộ tống công chúa đi ra ngoài.
Hai người biểu diễn tạp kỹ biết được công chúa đến, lại càng dốc sức biểu diễn. Trong đó một người có dáng người cao nói với công chúa: “Công chúa tôn quý, tôi biết cô có một tấm gương, tôi có thể làm nó biến thành một thứ khác, không tin cô hãy lấy ra”. Công chúa đang vui, vừa muốn lấy Gương Thần ra thì nghĩ ngay tới lời dặn của phụ vương, vội nói: “Không được”. Người biểu diễn tạp kỹ dáng người thấp hơn nói: “Dùng cây trâm bằng vàng trên đầu cũng được”. Công chúa lấy cây Kim Phụng Trâm trên đầu mình xuống, đưa cho người biểu diễn tạp kỹ. Người biểu diễn tạp kỹ biến cây trâm thành rất nhiều thứ, ở một phạm vi nhỏ trong không trung diễn hóa ra thiên quân vạn mã, yêu ma quỷ quái, v.v. Bỗng nhiên công chúa cảm thấy rất sợ hãi. Khi người biểu diễn tạp kỹ trả lại cô cây trâm, cô nói không muốn gì cả, rồi dẫn thị vệ bỏ đi. Người biểu diễn tạp kỹ tỏ ra vô cùng thất vọng, người cao nói với người thấp: “Chúng ta biến cây trâm thành cửa thành, dựng trên quảng trường đi!” Vậy là hai người họ miệng niệm vài câu, biến cây trâm thành một cánh cửa dựng trên quảng trường. Rồi họ rời đi.
Sau khi quốc vương và vương hậu biết được việc này, trong lòng thấy bất an, sau nhiều lần do dự, đã quyết định đi xem cái cửa kia. Lúc xem cái cửa đó, quốc vương cảm thấy miệng tê, vương hậu cảm thấy mắt không động đậy. Quốc vương hạ lệnh phá cái cửa đó đi, nhưng không phá được, ngược lại chân tay của những người phá cửa không cử động được. Cả đêm quốc vương và vương hậu không ngủ. Sáng sớm hôm sau, miệng của quốc vương bị méo, mắt của vương hậu đã bị mù. Người dân trong Thành Bảo sau khi biết tin, cho rằng Thành Bảo sắp gặp tai ương rồi, một số người đã rời đi nơi khác. Quốc vương sai người không được ngăn cản họ, mặt khác khẩn trương khấu bái Gương Thần.
Gương Thần hiển thị: “Con rùa mà vua Hạo Nhiên đã giết, đã có 12 nghìn năm tu hành, rất có linh tính. Trong khi nó ngủ một giấc dài, nguyên thần xuất ra đi chơi, còn thân thì bị bắt. Rùa tinh trở về đã không có chỗ ở, nên muốn báo thù Thành Bảo, liền nhập vào thầy mo, báo thù từng đời từng đời. Lúc khí số của Thành Bảo đang rất thịnh, thầy mo không thể làm gì được. Đến đời vua thứ 24, rùa tinh cảm thấy chân rùa chôn dưới đất truyền tin đến, biết được khí số Thành Bảo đã suy yếu, nên vội vã đến báo thù. Thầy mo bị rùa tinh phụ thể biến thành người biểu diễn tạp kỹ, chỉ cần một đồ vật trên thân của bất kỳ thành viên vương thất nào rơi vào tay thầy mo, ông ta sẽ lưu lại các nhân tố tà ác trong Thành Bảo, làm cho Thành Bảo phát sinh biến hóa đáng sợ”.
Cuối cùng Gương Thần hiển thị: “Thành Bảo sẽ tồn tại rất lâu, cuối cùng biến thành màu trắng”.
Khấu bái Gương Thần xong, quốc vương và vương hậu trở lại bình thường. Quốc vương kể lại những điều Gương Thần hiển thị cho người dân, mọi người đều yên tâm, người chuyển đi cũng lần lượt quay trở lại. Cánh cửa trên quảng trường cũng biến càng ngày càng nhỏ, dần dần biến mất. Nhưng công chúa lại có thay đổi to lớn, một người đáng yêu hoạt bát nay lại tràn đầy tâm sự, u sầu buồn bã.
11 năm sau, quốc vương và vương hậu lần lượt qua đời, Tử Vi công chúa trở thành nữ vương của Tử Thiên Bảo.
Nữ vương rất thích xem các sách cổ. Có một lần, trong một nơi tĩnh mịch ở Thành Bảo, cô vô tình phát hiện một cuốn sách phủ dày một lớp bụi, cuốn sách hơi mỏng, trang sách đã ố vàng, câu chữ bị khuyết thiếu. Nữ vương phải mất thời gian dài để phục chế cuốn sách, phát hiện đời vua thứ 10, có người đã dự ngôn về tương lai của Thành Bảo, lưu lại những lời tiên tri: “Vu vu lai lâm, Thành Bảo cự biến” (thầy mo đến, Thành Bảo sẽ có biến đổi to lớn). Nữ vương gấp sách lại và trầm tư: cuốn sách này nguồn gốc từ đâu, do ai viết? Tại sao trong những ghi chép về Thành Bảo lại không có? Chân rùa đã có thể mang lại sự bền vững cho Thành Bảo, lại còn mang đến tai nạn, lẽ nào những điều này đều là thiên ý, số mệnh định rằng sẽ phát sinh? Hay vẫn còn có huyền cơ nào khác? Sau thời gian dài tận lực suy nghĩ cũng không có kết quả. Hai bên tóc mai của nữ vương đã xuất hiện tóc trắng. Thị vệ khuyên nữ vương không nên tiếp tục suy nghĩ nữa, nhưng nữ vương không chặn đứng được dòng suy nghĩ này.
Hai năm nữa trôi qua, Thành Bảo có hai người lạ đến. Dựa vào cảm giác, nữ vương nhận định đây là hai người biểu diễn tạp kỹ 30 năm trước. Thế là nữ vương phái 20 thị vệ trong cung ra đuổi họ đi. Hai người lạ đó biến thành hình dáng thầy mo, cười điên cuồng và biến Cổ Long, Ứng Long thành rồng, rồi nói ra những lời vu tội, nói nữ vương là yêu quái. 10 người thị vệ khác xông lên, lại bị hắn biến thành rồng. Nhưng rồng không khuất phục, vẫn tấn công thầy mo, thầy mo hô to “Đóng băng! Đóng băng!” Làm cho 12 con rồng bị đóng băng lại. Những binh sĩ xông vào cũng bị đóng băng. Tiếp theo, toàn bộ Thành Bảo dần dần bị đóng băng. Nữ vương nhanh chóng khấu bái Gương Thần, chỉ thấy Gương Thần hiện lên một khung cảnh đầy băng. Nữ vương biết rằng đó là kết cục mà Thành Bảo sắp đối mặt, đau đớn vô cùng, muốn khóc mà không còn nước mắt. Nữ vương chạy đến nơi cao nhất ngoài Thành Bảo, đứng tại đó quan sát Thành Bảo, cô tận mắt chứng kiến bách tính của Thành Bảo nhốn nháo chạy khắp nơi, cuối cùng không ai có thể may mắn thoát khỏi, ngay cả con chim bay trên bầu trời vừa đậu lại trên công trình kiến trúc của Thành Bảo cũng không thoát được vận hạn. Nữ vương cảm thấy bi thương, không biết làm thế nào, nhắm mắt lại lặng lẽ chờ đợi kết cục cuối cùng. Trong thời khắc đó, dù ngắn ngủi nhưng cô lại thấy vô cùng dài. Được một lúc, nữ vương mở mắt ra, bất ngờ phát hiện chỉ có những thứ dưới chân mình là không bị đóng băng, toàn bộ Thành Bảo đã biến thành màu trắng.
Hai người thầy mo vẫn đang cuồng vọng kêu gào. Lúc này, trong không trung vươn ra một cánh tay lớn, tóm lấy hai thầy mo mang đi. Nữ vương vội vã khấu bái và thỉnh cầu, hy vọng kỳ tích xuất hiện, làm cho tất cả phục hồi nguyên trạng, nhưng trên bầu trời không có dấu hiệu nào đáp lại. Gương Thần trên người nữ vương phát ra ánh sáng, ông lão râu trắng xuất hiện, ông dùng lời nói thương tâm bảo nữ vương: “Đây đều là an bài của trời cao, đã định như thế, không ai có thể thay đổi, tất cả mọi thứ bị đóng băng trong khoảng một nghìn năm sau, chỉ có con mới có thể hóa giải. Khi trên người con đeo thứ bên trong có chín bức hình, và khi bánh xe lớn có thể chuyển động xuất hiện, có Pháp lực và uy đức vô biên, tất cả đều có thể sống lại. Nếu không tất cả sẽ bị hủy diệt.”Nói xong, ông lão biến mất, ánh sáng cũng không còn nữa, thần kính hóa thành áng mây, chở nữ vương bay lên, nữ vương cảm thấy thoải mái vô cùng. Cô nghĩ, có phải là thân thể ta đã lưu lại ở Thành Bảo rồi, và linh hồn của ta bay ra? Từ trên cao nhìn xuống, cô thấy thân thể mình đứng trên Thành Bảo đã bị đóng băng rồi, nữ vương cảm thấy ngạc nhiên. Áng mây chở nữ vương bay đi càng ngày càng xa, và dừng lại ở một nơi. Nữ vương nhìn xuống, thấy một hộ gia đình đang sinh con, muốn nhìn chi tiết, bỗng nhiên trượt chân ngã xuống, và chuyển sinh vào hộ gia đình này.
Trong khi áng mây chở nữ vương đi, Thành Bảo cũng biến mất trong nháy mắt và bị phong bế toàn bộ trong không gian khác. Vị trí sở tại của Thành Bảo biến thành một vùng đất trũng hoang vu.
Ba hôm trước khi Thành Bảo bị đóng băng, một mục đồng (cậu bé chăn trâu) khoảng 11 tuổi của Thành Bảo, đang thả trâu trên núi, bỗng nhiên phát hiện thứ thứ kỳ dị giống như tấm gương mà công chúa từng nhìn thấy ở trên núi, ở một góc, cậu bé nhìn thấy được toàn bộ diện mạo của Thành Bảo, nên cảm thấy vô cùng hiếu kỳ. Thế là mỗi ngày thả trâu, cậu đều quan sát tấm gương này để cho khoảng thời gian nhàm chán trôi đi. Khi Thành Bảo phát sinh thay đổi to lớn, cậu đang nhìn Thành Bảo qua tấm gương đó, cậu đã tận mắt chứng kiến toàn bộ quá trình Thành Bảo bị đóng băng, lại còn nhìn thấy Thành Bảo biến mất, cậu kinh ngạc đến nỗi há tròn mồm không biết nói gì, vội vã cưỡi trâu xuống núi. Đi trên con đường quen thuộc trở về nhà, cậu đã phát hiện Thành Bảo thật sự biến mất, vị trí hiện giờ của Thành Bảo chỉ là một vùng đất trũng hoang vu. Cậu không dám tin vào mắt của mình nữa, trong lòng sợ hãi cực độ, ngay cả con trâu cậu cưỡi cũng sợ hãi lùi lại phía sau. Cậu bé sợ hãi, không xử lý biết thế nào.
Thành Bảo đã không còn nữa, nhà cũng không còn nữa, người thân cũng không còn. Cậu bé vừa sợ hãi vừa không có chỗ nương tựa nên cưỡi trâu đi về nơi xa xôi. Đến chỗ có người, cậu nói với mọi người về sự việc này. Mới đầu mọi người không tin, người hiếu kỳ đi xem Tử Thiên Bảo, nhưng lại không thấy. Còn có thương nhân hay tới lui cũng phát hiện Thành Bảo đã không còn nữa, lại còn cho rằng mình lạc đường. Cứ như vậy, ngày càng có nhiều người biết được Thành Bảo đã biến mất.
Vậy rốt cuộc thì Thành Bảo đã biến đi đâu, nữ vương và thần dân đã xảy ra chuyện gì? Không ai biết, không ai hiểu. Về sau nhiều người căn cứ vào lời kể của cậu bé chăn trâu, đã viết thành cuốn sách, tên là “Truyền kỳ Thành Bảo”. Câu chuyện này được truyền từ đời này qua đời khác, rồi cùng theo thời gian, dần dần người đời sau cho rằng đây là truyền thuyết tràn đầy trí tưởng tượng.
Ngày nay, vị vua Hạo Nhiên, công chúa Tử Vi, cậu bé chăn trâu năm xưa đều đã trở thành đệ tử của Phật Chủ, đều đang tu luyện trong Đại Pháp. Công chúa Tử Vi chính là tôi, khi còn trên thượng giới từng là Tử Nguyệt Tiên Tử; 12 người thị vệ chính là 12 con rồng theo Tử Nguyệt Tiên Tử đi xuống; cậu bé chăn trâu là con gái của tôi. Còn vua Hạo Nhiên? Từng là Phụng Nguyệt Tiên Tử, là đồng tu bên cạnh tôi, hai người chúng tôi thường ở cùng nhau, giúp đỡ lẫn nhau, bù đắp những thiếu sót cho nhau. Đồng tu ấy lại còn giúp đỡ tôi viết bài, đúng với điều Gương Thần hiển hiện trong giấc mộng năm xưa: “Lưỡng vương tương ngộ, hoàn mỹ vô khuyết.
Thành Bảo vẫn bị phong bế trong băng giá ở không gian khác, có một trường không gian độc lập của nó, Thành Bảo bị phong kín sáu nghìn năm ở không gian đó, mà ở thế gian đã trải qua bao cuộc bể dâu, khi thịnh vượng, lúc suy tàn, đã qua 70 triệu năm rồi.
Ngày thứ ba tôi ở Đại Liên, Thành Bảo bị phong bế trong không gian khác toàn bộ đã được giải khai, 12 con rồng từng bị đóng băng cũng được giải khai toàn bộ. Tất cả những sinh mệnh bị đóng băng, giống như đã tỉnh lại sau giấc ngủ đông vậy, toàn bộ đều sống trở lại. Thân thể nữ vương sau khi được giải băng không động đậy, giống như tượng điêu khắc, chỉ nhìn thấy phần tu thành của tôi, giống như bức tượng nữ Phật. Một luồng sáng trắng từ phía đỉnh đầu của nữ vương đi vào trong cơ thể, trong luồng sáng này có hình tượng hoàn chỉnh của tôi khi làm Tử Vi nữ vương, mang theo tư duy, lại còn ngáp giống như một đứa bé vừa mới tỉnh dậy, dưới sự bảo vệ của ánh sáng trắng mà đi vào cơ thể của nữ vương, tương hợp với thân thể của nữ vương. Trong chốc lát, mắt của nữ vương chuyển động, nét mặt hồng hào, cao quý trang nhã nhìn dân chúng của Thành Bảo mà vui mừng.
Thành Bảo đã rất cổ rất cổ, ngày nay ở trong không gian kia, rạng rỡ ánh sáng, sức sống bừng bừng, một cảnh tượng phồn hoa, phảng phất thánh cảnh ở thiên quốc.
Lời cuối:
Hôm mà Thành Bảo bị đóng băng được giải trừ, tôi vẫn còn ở Đại Liên, có bốn con rồng đến nhà tôi, biến thành rất nhỏ, nằm trên mặt bàn trong phòng khách và phòng bếp. Tám con khác thì luôn đi theo tôi. Lúc đó, rồng trên núi và dưới biển đều xuất hiện gọi chào tôi, chúng thấy tám con rồng này thì cảm thấy rất kỳ lạ, cảm thấy dường như trước đây chưa từng gặp qua con rồng nào cổ xưa như vậy, chúng cũng rất tôn kính tám con rồng này. Khi tôi trở về, tám con rồng này cũng theo tôi trở về.
Sau khi trở về, tôi nói với chúng (12 con rồng): “Đại Liên cạnh núi lại gần sông, là một chỗ tốt, còn ở đây không có núi không có nước, có thể không thích hợp với bọn ngươi, ta cho các ngươi thứ tốt nhất, bọn ngươi hãy quay về đi”. Lúc này, mây đen đầy trời, trời đã mưa. 6 giờ tối khi phát chính niệm, 12 con rồng xếp song song thành hàng ngang cáo biệt tôi, chúng không muốn rời đi, khóc nước mắt đầm đìa. Bất giác tôi cũng rơi lệ. Phát chính niệm xong, tôi hợp thập trước Pháp tượng của Sư tôn cảm tạ Ngài, cảm tạ Sư tôn đã cứu Cổ Bảo, hóa giải được kiếp nạn này.
Sáng sớm ngày thứ sáu khi tôi đã trở về, một trận mưa như trút nước, tôi lại nhìn thấy rồng đến, chúng quỳ phục, dùng ánh mắt cảm phục nhìn tôi, Ứng Long nói: “Thật sự muốn chở ngài bay, nhưng không được, vì ngài ngồi trên tòa sen nên tôi không thể làm càn.” Tôi biết, hôm đó khi tôi trở về nhà, chúng đều muốn đến, nên đã bàn bạc xem nên là từng con một đến, hay là mấy con một đến, hay là cùng đến cả, nhưng lại sợ tôi bảo chúng đi, không nghĩ được cách nào, cuối cùng chúng cùng nhau đến. Tôi nói với chúng: “Các ngươi hãy nhớ ‘Pháp Luân Đại Pháp hảo, Chân Thiện Nhẫn hảo’, ta cấp năng lực cho các ngươi, các ngươi cũng tham gia vào cùng ta trợ Sư chính Pháp nhé! Tiêu diệt tà ác ở không gian khác.” Nghe thấy tôi nói vậy, chúng vừa vui mừng vừa cảm động, giống như người nhảy dựng lên vậy, chúng vây thành vòng tròn mà khóc mãi không thôi. Từ đó về sau, chúng chưa từng rời khỏi tôi.
http://chanhkien.org/2014/12/thanh-co-hoi-sinh.html

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

Giấc mơ của Thần chết


Mơ với tử vong ngoài ý muốn

Trong Tam quốc diễn nghĩa có chép giấc mơ hung dữ của Ngụy Diên. Lúa bây giờ Gia Cát Lượng đang nhận chức Đại tướng quân chinh tây, đi dẹp Tào Tháo, bổ nhiệm Ngụy Diên làm tướng tiên phong đem quân ra Kỳ Sơn. Có một người nghiên cứu mơ nổi tiếng là Triệu Trực cũng theo đi và cùng ở trong doanh trại. Ngụy Diên hạ trại cách Gia Cát Khổng Minh hơn 10 dặm. Từ đó Ngụy Diên mơ thấy mình mọc một cái sừng trên đầu, bèn mời Triệu Trực đến giải thích.
Triệu Trực biết Ngụy Diên là người tiểu nhân phản phúc, không dám nói thẳng bèn nói thác rằng ngày xưa kỳ lân có sừng mà không dùng, chẳng khác gì có giặc mà không đánh thì sẽ chuốc lấy bại. Ngụy Diên nghe rất khoái chí. Triệu Trực nói với mọi người: Chữ “giác”, trên có chữ “dao” dưới có chữ “dụng” là điều cực kỳ xấu.
Về sau Gia Cát Lượng lúc sắp qua đời đã để lại cho Tham quân Dương Nghi cẩm nang, trong đó có diệu kế. Khi Gia Cát Lượng thu phục Ngụy Diên đã thấy sau gáy của Ngụy Diên có xương phản phúc, muốn giết đi trừ hậu họa. Do Lưu Bị thu hàng dùng người nên Ngụy Diên được làm tướng trong quân Lưu – Thục. Lần này Gia Cát Lượng biết mình chết, trong quân không có chủ soái, Ngụy Diên thế nào cũng làm phản liền bảo Dương Nghi mở cẩm nang ra, cứ theo kế mà làm.
Quả nhiên Gia Cát Lượng vừa chết, Ngụy Diên mưu phản, dẫn quân quay giáo. Dương Nghi theo diệu kế của Gia Cát Lượng cố ý làm cho Ngụy Diên nổi giận, khích cho Ngụy Diên giữa trận tiền hô ba lần: “Ai dám giết ta”. Ngụy Diên không biết bị lừa, bèn đứng giữa ba quân hô to, câu thứ hai vừa cất lên thì sau lưng có Mã Đại quát to: “Tao dám giết mày” rồi vung dao chém Ngụy Diên ngã xuôrig chân ngựa.
Mã Đại đã theo kế của Gia Cát Lượng theo sát Ngụy Diên, chờ thời cơ giết Ngụy Diên, giữ được giang sơn cho nước Thục được mấy chục năm.

Trong Tả truyện cũng có chuyện thế này:
Thành công được mười năm, Tấn Hầu nằm mơ thấy bầy quỷ không đầu, con cháu Đại Lịch nhảy nhót quanh giường ông, nạt nộ:
- Nhà ngươi giết con cháu của ta, làm việc bất nghĩa. Ngọc hoàng Thượng đế cho phép ta báo thù.
Tấn Hầu tỉnh giấc, hết sức lo sợ, cho mời Tang Điền đến đoán mơ. Tang Điền nói là có chuyện chết chóc, tháng 6 năm đó khi thu hoạch lúa mới sẽ không còn ai trông thấy Tấn Hầu nữa.
Sau đó Tấn Hầu nhờ danh y nước Tần đến xem bệnh cũng được báo là bệnh không có thuôc nào chữa được.
Tấn Hầu nghe phán chẳng khác gì bị xử tử hình, quyết tâm chống lại sô” mệnh. Đến tháng 6, khi gặt lúa mới, Tâ”n Hầu bắt chém đầu các thầy bói để thị uy. Nhưng lúc đang ăn cơm mới đột nhiên bụng Tấn Hầu trương to, chết ngay.
Ngày nay quan điểm khoa học có thể giải thích rằng: Tấn Hầu nằm mơ thấy Đại Lịch, thấy có quỷ là do đã giết quá nhiều con cháu của Đại Lịch, lòng lo sợ, giấc mơ phản ánh tâm lý này.
Tục ngữ có câu:
“Bệnh từ tâm không có thuốc chữa”
Người bói toán đã mượn thường thức y học để giải nghĩa các giấc mơ, không phải là không có lý.
Về cái chết của Tần Thủy Hoàng cũng có điềm báo trước trong giấc mơ. Trong tác phẩm nổi tiếng Luận Hành của nhà triết học Vương Sung đời Đông Hán có chép:
“Cuộc đời ba mươi sáu năm ngồi trên ngai vàng của Tần Thủy Hoàng luôn luôn thủ thế, năm thứ 36 có một ngôi sao rơi xuống thành đá, có khắc rõ:
Tần Thủy Hoàng chết là báo điềm tan rã của nhà Tần.
Tần Thủy Hoàng xem tấm đá có khắc chữ, trầm ngâm suy nghĩ.
Năm sau, Tần Thủy Hoàng nằm mơ thấy Thần biển bắn chết cá lớn, năm đó ông chết ở Sa Khâu.
Giấc mơ đã báo trước cái chết của con người, con cá lớn là Tần Thủy Hoàng (người ta ví Tần Thủy Hoàng như tổ tiên của Rồng).
Vào giữa năm Đồng Trị, triều Mãn Thanh có Thái giám An Đức Hải lộng hành, dựa vào thế Từ Hy bày việc ca vũ trong thuyền mua vui, còn trang hoàng trần thiết theo kiểu nhà vua như áo rồng, thuyền rồng. Trước khi dời kinh thành, An Đức Hải nằm mơ thấy hắn biến thành một cây to, cành lá xum xuê. Rồi đột nhiên cái cây bị chặt thành từng đoạn gỗ, đầu đuôi không thấy. Tỉnh giấc, hắn cho rằng mình lớn như cây lá, có người che chở, những đoạn gỗ trong giấc mơ báo rằng mình có thể đi lại tự do, không ai gò bó.
An Đức Hải tổ chức yến ẩm ca hát, lại còn sai người xin chữ phê của Hoàng đế. Hoàng đế viết một chữ “nữ” đưa cho hắn. Lúc bấy giờ có người nói chữ vua cho như thế là không tốt. Bởi vì chữ “nữ” là chữ “an” mất đầu, làm việc cần giữ gìn. Cũng phải nhớ rằng từ lâu Hoàng đế Đồng Trị muốn trừ bỏ An Đức Hải nhưng chưa có dịp, giờ là thời điểm rất tốt để diệt trừ tên tâm phúc của Từ Hy.
Quả nhiên, An Đức Hải chưa về đến kinh sư đã bị Bảo Trinh lấy khuôn phép của tổ tiên buộc hắn vào tội “người trong cung không được phép ra ngoài”.

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

Bí mật người khổng lồ xây dựng kim tự tháp

Vén màn bí ẩn người khổng lồ xây dựng Kim Tự Tháp

- Bằng cách nào người khổng lồ có thể xây dựng những kim tự tháp vĩ đại mà chúng ta vẫn lầm tưởng người Ai Cập đã dựng nên từ hàng ngàn năm trước. 

Bằng chứng khảo cổ về người Atlantis

Vén màn bí ẩn người khổng lồ xây dựng Kim Tự Tháp - ảnh 1
Chân dung người Atlantis và người hiện đại
Bằng một lý do thuyết phục nào đó, giới khoa học bằng mọi cách giấu giếm sự thật này. Có lẽ bởi vì nó hoàn toàn không phù hợp với những nguyên tắc, quan niệm chung của thế giới, mà các sách giáo khoa đã mô tả cho chúng ta từ thời thơ ấu. 
Nhưng từ lâu họ đã tìm thấy những nơi chôn cất, và thường là hài cốt của người khổng lồ. Chúng được đào xới trên khắp thế giới, cả trên cạn và cũng như dưới biển và đại dương. 
Vén màn bí ẩn người khổng lồ xây dựng Kim Tự Tháp - ảnh 2
Bằng chứng khảo cổ được phát hiện ở Yakutia.
Vén màn bí ẩn người khổng lồ xây dựng Kim Tự Tháp - ảnh 3
Cặp đôi người khổng lồ tìm thấy ở Nam Phi
Một nhóm các nhà khoa học độc lập nghiên cứu vấn đề này đã nhiều năm và dựng lên một bức tranh chân thực về những gì từng tồn tại trên Trái Đất 12.000-20.000 năm trước. Chiều cao của họ - những người khổng lồ khi còn sống từ 4 đến 12 mét, ngoài sức mạnh thể chất họ sở hữu khả năng tinh thần phi thường. Phải chăng đó là nền văn minh bí ẩn của Atlantis huyền thoại, trong khi những người khác cho rằng nó đã từng thực sự tồn tại và đã biến mất.
Vén màn bí ẩn người khổng lồ xây dựng Kim Tự Tháp - ảnh 4

Người Ai Cập đã xây kim tự tháp?

Các nhà nghiên cứu cho rằng nền văn minh của những người khổng lồ đã xây dựng những kim tự tháp không chỉ ở Ai Cập, mà còn trên toàn hành tinh, tổng số các kim tự tháp được họ xây dựng là hơn 600 cái. 
Vén màn bí ẩn người khổng lồ xây dựng Kim Tự Tháp - ảnh 5

Vén màn bí ẩn người khổng lồ xây dựng Kim Tự Tháp 

Các kim tự tháp được dựng lên mà không cần sử dụng bất kỳ lực lượng nô lệ nào mà với công nghệ đơn giản được sử dụng ngày nay, với những tấm ván copha đặc biệt. Những khối đá lớn không hề phải dịch chuyển qua những khoảng cách xa, mà đã được tạo nên giống như cách chúng ta đúc bê tông. Các tảng đá nhỏ được vận chuyển và đun nóng chảy hoặc được nhào trộn với công thức của người Atlantis để sau đó khô cứng thành những khối đá hàng trăm tấn. 
Còn mục đích sử dụng của kim tự tháp để tạo ra năng lượng vũ trụ, và việc sử dụng năng lượng này thế nào thì chúng ta vẫn còn chưa biết. Từ khi loài người hiện đại biết đến người Atlantic, nhất là những người Ai Cập đã bắt đầu thờ các vị thần tối cao, những người đã xây dựng các kim tự tháp và biến chúng thành những lăng mộ cho các pharaon. Người Ai Cập đã không xây dựng các kim tự tháp.
Tại sao những người khổng lồ đã có thể tồn tại và tại sao bị mất?
Các nhà khoa học đưa ra giả thiết trong quá khứ Trái Đất tồn tại bốn mặt trăng, và lực hấp dẫn trên hành tinh hoàn toàn khác và áp suất khí quyển cũng khác. Trong những điều kiện vật lý như vậy, người khổng lồ về thể chất có thể cảm thấy tuyệt vời và sống lâu dài. Sau đó vì một biến cố va chạm, ba mặt trăng rơi xuống bề mặt của Trái Đất tạo ra cơn đại hồng thủy nhấn chìm nền văn minh Trái Đất cổ đại
Vén màn bí ẩn người khổng lồ xây dựng Kim Tự Tháp - ảnh 6
Bão sao băng tàn phá Trái Đất
Vén màn bí ẩn người khổng lồ xây dựng Kim Tự Tháp - ảnh 7
Đại Hồng Thủy đã nhấn chìm mọi nền văn minh thời cổ đại
Nhưng các nhà nghiên cứu bác bỏ lý thuyết này và thay bằng gải thuyết: Trên thực tế lực hấp dẫn Trái Đất đã khác, và xung quanh được bao bởi một vành đai tiểu hành tinh băng như các vành đai xung quanh sao Thổ.
Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào thực sự thuyết phục về vấn đề này cho đến khi Tiến sĩ Simone Marchi và các đồng nghiệp ở Viện Nghiên cứu Tây Nam, thành phố Boulder (Colorado, Mỹ) công bố công trình khoa học của mình.
Nhóm nhà khoa học này vừa đăng tải đề tài nghiên cứu: Sự dịch chuyển của các hành tinh khí khổng lồ như sao Mộc đã tạo nên những cơn bão sao băng lớn nhất trong lịch sử hệ Mặt trời. Công trình được công bố trên tạp chí Nature Geoscience. Cụ thể: Sao Mộc và sao Thổ tiến gần về phía Mặt trời trong khi sao Hải vương và sao Thiên vương di chuyển ra xa nơi chúng hình thành. Sự dịch chuyển tạo ra lực hấp dẫn hút một lượng lớn thiên thạch vào trong hệ Mặt trời.
Bên cạnh đó, hành tinh Trái Đất đang ở giai đoạn rất giàu oxy, nó mang lại một ưu thế mạnh cho sự phát triển không chỉ của người khổng lồ, mà còn cả thế giới động vật. Nhưng do sự thay đổi của các cực và những biến đổi vũ trụ khác, vành đai băng đã đổ nước xuống trái đất dữ dội dẫn đến sự tiêu vong, dẫn đến sự tiêu vong của nền văn minh này, tương ứng dẫn tới cả sự biến đổi khí hậu giống như hiện nay. 
Vén màn bí ẩn người khổng lồ xây dựng Kim Tự Tháp - ảnh 8
Vén màn bí ẩn người khổng lồ xây dựng Kim Tự Tháp - ảnh 9
Khu mộ người khổng lồ tại thành phố Hy Lạp 
Vén màn bí ẩn người khổng lồ xây dựng Kim Tự Tháp - ảnh 10
Hình ảnh xác người khổng lồ được các nhà khảo cổ tìm thấy tại Châu Phi
Vén màn bí ẩn người khổng lồ xây dựng Kim Tự Tháp - ảnh 11
Những người khổng lồ tóc đỏ Si-Te-Cah ở Bắc Mỹ

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Một Góc Nhìn về Thuyết Những Hộp Sọ Kéo Dài ở Peru, Châu Âu, Hy Lạp Cổ Đại



Vũ trụ đầy ắp những bí ẩn thách thức hiểu biết hiện tại của chúng ta. Trong “Vượt qua giới hạn của khoa học” , Thời báo Đại Kỷ Nguyên đã sưu tập những câu chuyện về những hiện tượng kỳ lạ nhằm khơi gợi trí tưởng tượng và mở ra những khả năng chưa từng nghĩ đến trước đây. Liệu chúng có đúng hay không? Bạn hãy tự suy ngẫm.
Những hộp sọ kéo dài được tìm thấy ở các khu vực chôn cất trên khắp thế giới. Nhiều hộp sọ là kết quả của sự tác động có chủ đích bằng cách bó buộc từ khi còn bé. Một số có thể được giải thích là dị dạng bẩm sinh. Thế nhưng, đối với một số hộp sọ, lại khá bí ẩn vì có những giả thuyết khác nhau. Có thể những hộp sọ kéo dài ở Paracas, Peru là của những chủng loài giống như con người nhưng chưa từng được nghiên cứu?

Paracas, Peru


Một trường hợp các hộp sọ của nền văn hóa Andean Paracas, như được thấy tại bảo tàng Lịch sử, Khảo cổ và Nhân chủng học của Peru. (Wikimedia Commons)
Trong số những hộp sọ kéo dài nổi tiếng nhất, có một số là được tìm thấy ở Paracas bên bờ biển Peru. Những hộp sọ này được cho là từ 2000 đến 3000 năm tuổi.
Vào tháng Hai, ông Brien Foerster, trợ lý giám đốc của Bảo tàng Lịch sử Paracas ở Paracas, thông báo rằng một nhà di truyền học đã phân tích mẫu thịt đầu tiên từ các hộp sọ và thấy rằng các đoạn DNA của nó không phù hợp với bất kỳ chủng người nào đã được biết đến hay những chủng loài tương tự như con người trong quá khứ.
Đó chỉ là kết quả sơ bộ, và Foerster nói ông đã thông báo để nhận được sự quan tâm của công chúng, và như vậy có được nguồn vốn để tiếp tục phân tích trên nhiều mẫu hơn.
Mặc dù Foerster không nói tên nhà di truyền học, ông nói rằng người này ở Mỹ, có tất cả mọi giấy tờ ủy nhiệm, và hợp đồng làm vệc cho chính phủ Mỹ.
Foerester rất say mê những hộp sọ kéo dài và đã thực hiện nhiều nghiên cứu độc lập trong nhiều năm. Ông nói với Nguồn gốc Cổ đại (Ancient Origins) trong một đoạn băng ghi âm cuộc phỏng vấn (xem bên dưới) vào tháng Hai rằng: Trong số hàng trăm hộp sọ kéo dài mà ông đã nhìn thấy trên thế giới có khoảng 5% đến 10% dường như không phải là kết quả của quá trình làm biến dạng có chủ ý. Kỹ thuật bó thường để lại một bề mặt được làm phẳng trên phần hộp sọ, nhưng một số hộp sọ ông nhìn thấy có vẻ như khá tự nhiên.
Một số người đã hoài nghi về mức độ tin cậy của Foerster. Dường như ông không có một bằng cấp về khảo cổ học bài bản. Mặc dù là trợ lý giám đốc của Bảo tàng Lịch sử Paracas, nhưng đây lại là một bảo tàng tư nhân, và một số đã chỉ ra rằng nó có mục đích thu hút công chúng.
Thời báo Đại Kỷ Nguyên sẽ đợi để tìm hiểu thêm, và có lẽ những cuộc kiểm tra DNA sau này và những giấy chứng nhận công khai từ các nhà di truyền học sẽ đưa vấn đề ra ánh sáng.
Interview with Brien Foerster — Unravelling the Genetics of Elongated Skulls
Watch this video on YouTube.

Pharaoh Akhenaten của Hy Lạp


Tấm thẻ Wilbour, ca 1352-1336 tr.CN., mô tả Akhenaten và Nefertiti trong triều đại của họ (Wikimedia Commons)
Hộp sọ của một trong những vị vua bí ẩn nhất của Hy Lạp cổ đại, vua Akhenaten, được mô tả là kéo dài. Điều này là dị thường, không phải từ tục lệ.
Trường Y thuộc Đại học Maryland đồng tài trợ một hội thảo vào năm 2008 đặc biệt nhắm đến những giả thuyết về khám phá sinh lý học của Akhenaten.
Một bản tin của trường đại học tóm tắt lại một số câu hỏi đã được nêu ra: “Người thợ thủ công của ông có theo lệnh ông làm một tác phẩm nghệ thuật vì mục đích tôn giáo không? Hay nhà vua thật sự trông rất khác thường và nếu vậy thì đâu là lý do?”
Akhenaten không những có một hộp sọ được kéo dài mà ông còn có một chiếc cổ dài, những ngón tay dài và cặp đùi to, những thuộc tính của phụ nữ, và những đặc điểm kỳ lạ khác.
Ông Irwin M.Braverman, bác sỹ Y khoa thuộc Trường Y của Đại học Yale, phát biểu tại hội thảo rằng vị Pharaoh có thể cùng lúc có hai chứng rối loạn. Một là, rối loạn về hộp sọ (craniosynostosis), có thể giải thích cho một hộp sọ dài. Không có những bằng chứng ghi nhận việc tạo hình hộp sọ có chủ ý của người Hy Lạp, thế nhưng con cái của Akhenaten lại được miêu tả có hộp sọ được tạo hình. Với craniosynostosis, các thớ thịt trên đầu được hợp nhất lại từ khi còn trẻ và can nhiễu đến sự thành hình hộp sọ.
Tiến sỹ Braveman giải thích rằng một vài trong số những sự biến dạng là kết quả của triệu chứng quá nhiều chất thơm. Theo bản tin được công bố, triệu chứng này cản trở cơ chế cân bằng hooc môn, tạo ra nhiều estrogen, “dẫn đến thiên hướng nữ tính ở nam, dậy thì sớm ở nữ”. Con gái của vị Pharaoh này được mô tả là có ngực từ khi còn nhỏ, một lần nữa cho thấy triệu chứng đã được di truyền qua thế hệ.
Nhà Ai- Cập học và khảo cổ học nổi tiếng người Canada, tiến sỹ Donald B.Redford, nói rằng, với các đặc điểm sinh lý của Pharaoh rất có thể liên quan đến sự thay đổi phong cách nghệ thuật sau năm thứ ba trị vì, khi mà ông bắt đầu thờ cúng thần mặt trời Aten

Người Đông Âu noi theo người Huns

Có lẽ những người Huns đã truyền bá thói quen tạo hình hộp sọ ở Châu Âu. Có thể những người có địa vị muốn khẳng định vị trí thống trị của họ, vì hộp sọ kéo dài thường liên quan tới địa vị xã hội.
Trong một bài báo về phẫu thuật thần kinh vào tháng Tư, các nhà nghiên cứu tại Đại học Debrecen và Cao đẳng Nyiregyhaza ở Hungary đã xuất bản một nghiên cứu tóm tắt về các hộp sọ kéo dài từ Carpathian Basin ở Trung Đông.
Họ nói rằng những người Huns đã học được cách này từ những người Thổ Nhĩ Kì Alan và “Vì vậy người Huns chỉ có thể được xem là người truyền bá chứ không phải là người phát triển truyền thống này.”
Họ viết: “Có vẻ như đây là phong tục, có liên quan tới những phát hiện ở Carpathian Basin, đầu tiên xuất hiện ở Kalmykia steppe, sau đó ở Crimea, từ đó lan tới Trung và Tây Âu theo những người Huns nhập cư. Không phải sự phát hiện về những hộp sọ được mô tả ngày nay hay những tài liệu đặc biệt về đề tài này đã cung cấp những bằng chứng thuyết phục rằng việc biến dạng hộp sọ là nguyên nhân của sự rối loạn thần kinh kinh niên.”

Đội quân bất khả chiến bại của Đế quốc Ba Tư


Bốn chiến binh trong bộ phim “The Immortals”(chiến binh bất tử), khắc họa trên hàng trụ gạch tráng men nổi tiếng được phát hiện ở Apadana (Cung điện của Đại đế Darius) ở Susa, hiện đang được đặt tại bảo tàng Louvre ở Pháp. (Dynamosquito từ Wicơkimedia Commons)
Bốn chiến binh thuộc về “The Immortals”(chiến binh bất tử), khắc họa trên hàng trụ gạch tráng men nổi tiếng được phát hiện ở Apadana (Cung điện của Đại đế Darius) ở Susa, hiện đang được đặt tại bảo tàng Louvre ở Pháp. (Dynamosquito từ Wikimedia Commons)
Đế quốc Ba Tư đầu tiên (550 TCN-330 TCN), cũng được gọi là Đế quốc Achaemenid, đã rất nổi tiếng vì có một đội quân tinh nhuệ. Được nhà sử học Herodotus gọi là “những chiến binh bất tử” (Immortals), đội quân này gồm có 10.000 lính bộ binh hạng nặng với đặc điểm là chưa từng giảm thiểu về số lượng hay sức chiến đấu. Đội quân chiến binh bất tử đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử đế quốc Ba Tư, khi vừa là Cấm Vệ Quân vừa là quân đội thường trực trong thời kỳ mở rộng lãnh thổ của đế chế Ba Tư cũng như trong các cuộc chiến tranh Hy Lạp-Ba Tư.
Những chiến binh bất tử được đặt tên theo cách đội quân này được hình thành. Khi một thành viên của đội quân gồm 10.000 lính tinh nhuệ bị giết chết hoặc bị thương, anh ta sẽ ngay lập tức được thế chỗ bởi một người khác. Điều này cho phép đội quân trở nên gắn kết và nhất quán về số lượng, bất kể chuyện gì đã xảy ra. Vì vậy, dưới con mắt của một người ngoài cuộc, có vẻ như mỗi thành viên của đội quân đều là “bất tử”, và việc thế chỗ thành viên của nó có lẽ biểu thị một dạng thức của sự phục sinh.
Những thanh niên trong trang phục “Những chiến binh bất tử” tại lễ hội được tổ chức vào tháng 10/1971 để kỷ niệm 2.500 năm từ khi Cyrus Đại Đế thành lập lên Đế chế Ba Tư (nền quân chủ người Iran). (Wikimedia Commons)
Họ vô cùng thiện chiến, được trang bị đầy đủ khí giới và áo giáp của họ lấp lánh ánh vàng. Trong miêu tả của nhà sử học Herodotus, vũ khí của họ gồm có khiên chắn bằng liễu gai, giáo ngắn, gươm hay dao găm lớn, cùng với cung tên. Họ mang một loại khăn trùm đầu đặc biệt, được cho là mũ phớt Ba Tư. Loại mũ này thường được miêu tả là một loại mũ có thể che kín mặt để bảo vệ mặt khỏi bụi bẩn. Nhiều người cho rằng, so với quân đội Hy Lạp, những chiến binh bất tử được “trang bị vũ khí nặng hơn”. Và khi thiếu vũ khí, họ sẽ dùng chiến tranh tâm lý, vì khí thế của một đội quân được thiết lập và huấn luyện chuyên nghiệp cũng đủ để reo rắc nỗi sợ hãi cho kẻ thù.
Khi di chuyển, họ mang theo những chiếc xe ngựa, trong đó chở phụ nữ và người hầu, cũng như nhu yếu phẩm. Để trở thành một phần của đội quân này là vô cùng khó khăn. Đàn ông phải đăng ký để gia nhập, và nếu được chọn thì đây sẽ là một vinh dự lớn lao.
Đội quân chiến binh bất tử đóng một vai trò quan trọng trong một số cuộc chiến. Thứ nhất, họ là lực lượng chủ chốt khi Cyrus Đại đế xâm chiếm thành Babylon vào năm 539 trước Công Nguyên (TCN). Đội quân này cũng đóng vai trò trong cuộc chiến với vua Cambyses đệ nhị ở Ai cập vào năm 525 TCN, và trong cuộc chiếm đóng miền tây Punjab, Sindh, và Scythia vào những năm 520 TCN và 513 TCN. Đội quân chiến binh bất tử cũng tham gia trận Thermopylae vào năm 480 TCN.  Trong trận này, quân đội Hy Lạp đã ngăn chặn một cuộc xâm chiếm của quân Ba Tư bằng cách chặn đứng một con đường hẹp. Đội quân chiến binh bất tử đã đi theo một con đường khác, và tấn công quân đội Hy Lạp từ phía sau. Họ cực kỳ mạnh, và được rất nhiều người nể sợ vì sức mạnh, khả năng bổ sung lực lượng nhanh, chiến thuật sắc xảo và kỹ thuật chiến đấu tuyệt vời.
Không may, các kiến thức sử học về đội quân chiến binh bất tử lại bị giới hạn trong tài liệu của nhà sử học Herodotis, và rất khó để kiểm chứng nhiều chi tiết trong đó. Các nhà sử học của Alexander Đại Đế đã kể về một đội quân thiện chiến được biết đến với cái tên Những người mang Táo. Họ được gọi như vậy bởi vật đối trọng hình táo trên thanh giáo của họ. Một số học giả tin rằng, họ chính là đội quân chiến binh bất tử.
Trong khi đó, hiện tồn tại không nhiều xác nhận về các chi tiết của đội quân chiến binh bất tử, họ vẫn là một biểu tượng của sức mạnh quân sự vào thời cổ đại. Bên cạnh đó, đội quân này thường được miêu tả trong các tác phẩm đương đại, như bộ phim năm 1963 “300 chiến binh (The 300 Spartans),” cuốn truyện tranh năm 1998 “300”, và bộ phim chuyển thể của nó, cùng với một bộ phim tài liệu trên kênh History Channel có tựa đề Chốt Chặn Cuối Cùng (Last Stand of the 300). Thông qua những bộ phim ấy, di sản của đội quân chiến binh bất tử sẽ sống trong lòng công chúng thêm rất nhiều năm nữa.
Tái bản với sự cho phép từ trang Ancient Origins. Đọc bản gốc tiếng Anh ở đây.

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2014

Tôi được lợi ích rất nhiều nhờ vợ mình tu luyện Pháp Luan Đại Pháp

Tôi được lợi ích rất nhiều nhờ vợ mình tu luyện Pháp Luân Công


Bài viết của người nhà một học viên Pháp Luân Đại Pháp ở tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc
[MINH HUỆ 05-09-2014] Vợ tôi đã tu luyện Pháp Luân Công trong nhiều năm. Ban đầu, tôi dường như không để ý tới. Sau đó cô ấy đã khỏi bệnh và có thể trở lại làm việc, điều này đã khiến tôi rất tò mò.
Trước khi bắt đầu tu luyện, cô ấy gặp nhiều vấn đề về cánh tay của mình và không thể nhấc bất cứ vật nặng nào. Thậm chí cô ấy còn không thể giặt quần áo. Cô ấy đã làm mọi thứ để cố gắng khắc phục tình trạng này, nhưng không cách nào hiệu quả. Những người sống ở nông thôn như chúng tôi phải làm việc nặng nhọc để kiếm sống. Cô ấy chỉ mới 30 tuổi. Làm thế nào cô ấy có thể tồn tại được đây?
Tôi đã ngạc nhiên khi cô ấy không còn phải tốn kém nữa, nhưng đã khỏe mạnh hơn. Mỗi ngày cô ấy chỉ đọc vài cuốn sách và luyện một vài động tác với đôi mắt nhắm khẽ. Điều gì đã xảy ra vậy? Tôi bắt đầu quan sát cô ấy.
Khi cô ấy bật băng ghi âm lên, tôi đã lắng nghe. Tôi cũng đọc các tài liệu mà cô ấy mang về nhà. Sau một thời gian, tôi hiểu rằng Pháp Luân Công là thực sự tốt và Chân – Thiện – Nhẫn là tốt. Những gì họ nói về Pháp Luân Công tất cả đều là sự thật và rất có lý. Sau khi chứng kiến vợ tôi được hồi phục, làm sao mà tôi có thể không tin rằng Pháp Luân Công thật tuyệt vời đây?
Tin tức này lan đi nhanh chóng trong ngôi làng nhỏ của chúng tôi. Mọi người sớm biết rằng vợ tôi tu luyện Pháp Luân Công và họ bắt đầu nói về điều đó. Tôi nói: “Ai nói rằng Pháp Luân Công là không tốt chứ? Vợ tôi đã cải thiện đáng kể. Cô ấy không còn một tính xấu nào nữa. Cô ấy không hề đấu tranh cho lợi ích của riêng mình. Cô ấy thậm chí không còn chơi bài hay đánh bạc nữa. Cô ấy luôn luôn làm việc tốt. Tại sao bạn có thể nói rằng Pháp Luân Công là không tốt kia chứ?” Sau khi tôi đọc các tài liệu sự thật, tôi truyền lại cho những người khác và nói với họ: “Tất cả mọi thứ viết ở đây đều là sự thật đấy! Hãy đọc chúng một cách cẩn thận! Đừng để bị lừa!”
Khi một người tu luyện Pháp Luân Công, toàn bộ gia đình được hưởng lợi ích. Thực tế, tôi là người được hưởng nhiều lợi ích nhất. Trong nhiều năm qua, tôi đã cố gắng để kiếm nhiều tiền hơn. Tôi đã mua một chiếc xe tải và bắt đầu việc kinh doanh vận tải, và vợ tôi đã giúp tôi. Tôi đã gặp phải một sự cố nguy hiểm, nhưng tất cả mọi thứ đều ổn. Tôi biết rằng chính Pháp Luân Đại Pháp đã bảo hộ tôi!
Một ngày nọ chúng tôi cần vận chuyển ống thép. Khi chúng tôi đang chất hàng lên xe tải, tôi đang đứng trong xe để chỉ đạo cần cẩu thả các ống lên thùng xe tải và sau đó chồng chúng lên gọn gàng. Cần cẩu đã nhấc một loạt đường ống và xoay về phía xe tải.
Vì một số lý do, tôi phải leo lên đỉnh của buồng lái. Khi các ống quay đến thùng xe tải, những sợi dây thừng đột nhiên bị đứt ra và tất cả các ống rơi xuống xe và sau đó tung ra. Nếu tôi vẫn còn ở trên xe, tôi đã bị nghiền nát rồi. Nhưng tôi đã rời khỏi đó, chính điều này đã cứu tôi. Tôi biết rằng Sư phụ Lý Hồng Chí đã bảo vệ tôi
Sau đó, tôi nghe nói rằng một người lái xe khác đang vận chuyển ống và việc tương tự xảy ra với anh ấy, nhưng anh đã không may mắn như vậy và đã chết. Bây giờ, tôi luôn luôn mang theo một tấm bùa hộ mệnh Pháp Luân Đại Pháp trong túi của mình. Bất cứ khi nào nhìn thấy một người lái xe, tôi gỡ xuống những gì họ đang treo trong xe và đưa cho họ một tấm bùa hộ mệnh Đại Pháp. Tôi nói với họ: “Không có gì hiệu quả như cái này! Chỉ có Đại Pháp mới có thể bảo vệ bạn. Hãy nhớ điều này.” Tôi cũng kể với mọi người về tất cả những điều kỳ diệu mà tôi đã trải qua. Bởi vì tôi được biết đến là một người tốt bụng và trung thực, mọi người sẵn sàng lắng nghe và tin những gì tôi nói.
Vợ tôi có một máy nghe nhạc nhỏ và tôi nghe nó mỗi khi trở về nhà. Theo thời gian, tôi đã lắng nghe tất cả những gì Sư phụ Lý Hồng Chí đã giảng dạy. Năm ngoái, tôi đặt một máy nghe trong xe tải của mình và lắng nghe các bài giảng của Sư phụ khi đang chạy trên đường. Trợ lý lái xe của tôi cùng nghe với tôi. Cậu ấy nói: “Chúng ta sẽ còn gì để nghe nữa không!” Bây giờ, cậu ấy cũng hiểu Pháp Luân Đại Pháp tuyệt vời và uyên thâm như thế nào, và rằng Đại Pháp là tốt.
Một lần, chiếc xe tải không thể leo lên đồi và dừng lại ở lưng đèo. Chúng tôi đã tìm kiếm sự giúp đỡ trong làng, nhưng không ai sẵn sàng giúp cả. Chiếc xe tải đã bị mắc kẹt ở đó suốt đêm. Ngay cả nếu chúng tôi có đợi ở đó trong vài ngày nữa, chúng tôi vẫn sẽ không thể di chuyển. Chúng tôi nên làm gì đây?
Tôi nghĩ đến việc cầu xin Sư phụ và Đại Pháp để được giúp đỡ. Vào buổi sáng, sau khi tỉnh dậy, tôi hô to: “Pháp Luân Đại Pháp hảo!” rồi ấn vào bàn đạp ga và chiếc xe tải đột nhiên di chuyển rồi chạy lên đồi! Khi người trợ lý lái xe tỉnh dậy, cậu ta không thể tìm thấy chiếc xe tải đâu. Sau đó, cậu nhìn lên đỉnh đồi, và nhìn thấy chiếc xe tải! Cậu ấy hỏi tôi đã làm được điều đó như thế nào. Tôi nói: “Tôi đã làm điều mà đáng ra đầu tiên tôi nên làm. Tôi chỉ hô to: “Pháp Luân Đại Pháp hảo!” Chỉ một tiếng hô đó, và chiếc xe tải đã bắt đầu di chuyển. Trợ lý của tôi nói: “Thật kỳ diệu! Làm sao anh có thể không tin điều đó?”
Chiếc xe tải là tôi mua lại và không còn ở trong tình trạng tốt, vì vậy ngay khi tôi đi trên đường đến thành phố để giao hàng, nó đã bị hỏng. Tôi đã phải chi hơn 2.000 nhân dân tệ để sửa chữa. Dường như tất cả thời gian và tiền bạc của tôi phải dành vào việc sửa chữa. Tôi muốn mua một chiếc xe mới, nhưng tôi không có nhiều tiền. Mỗi lần tôi phải đối mặt với một vấn đề, tôi luôn luôn nhớ xin Sư phụ giúp đỡ, và Sư phụ luôn luôn chăm sóc cho tôi. Tôi đã có thể mua một chiếc xe tải mới vào mùa thu năm ngoái. Tôi đã vận chuyển và bán lúa thóc sau khi thu hoạch. Mỗi ngày, tôi đã có thể làm ra hàng ngàn nhân dân tệ. Điều đó rất thành công. Tôi biết rằng tất cả những điều này là do Sư phụ đã ban cho tôi.
Tôi biết Pháp Luân Đại Pháp là tốt, vì vậy tôi cũng giúp làm việc Đại Pháp. Bởi vì tôi chạy xe trên đường thường xuyên, tôi đã giúp vợ tôi bằng cách phân phát các tài liệu sự thật. Khi Sư phụ xuất bản một bài giảng mới, tôi nhận được nó ngay. Bất cứ khi nào tôi nhận được các tờ tiền có những thông điệp Pháp Luân Đại Pháp trên đó, tôi liền trao đổi chúng để những người khác có thể nhìn thấy được. Tôi rất hạnh phúc khi làm những việc để chứng thực Pháp.
Tôi đã thật sự nhận được lợi ích nhờ vợ mình tu luyện Pháp Luân Đại Pháp.

Đăng ngày 21-11-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2014

Pháp Luân Đại Pháp giúp nữ doanh nhân thành đạt vượt qua chứng trầm cảm

Pháp Luân Công giúp nữ doanh nhân thành đạt vượt qua chứng trầm cảm (Ảnh)



Bài viết của Tử Vân, phóng viên báo Minh Huệ
[MINH HUỆ 04-09-2014] Barbro Plogander là một nữ doanh nhân Thụy Điển thành đạt, nhưng bà lại bị mắc bệnh trầm cảm. Khi chứng trầm cảm biểu hiện mạnh mẽ là lúc bà cảm thấy cuộc sống này thật vô vọng. Bà được chỉ định dùng thuốc chống trầm cảm liều cao, nhưng không bác sỹ nào dám chắc nó sẽ giúp bà khá hơn. Đó là vào năm 2005 và khi ấy Barbro đang ở tuổi 60.
May mắn thay, bà đã gặp được môn tu luyện Pháp Luân Công với các bài công pháp nhẹ nhàng, ôn hòa và các bài giảng về Chân – Thiện – Nhẫn. Sau khi Barbro bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công, bệnh trầm cảm của bà đã hoàn toàn biến mất. Hiện nay cuộc sống của bà tràn đầy niềm vui.
c32d8283f06a3e3d4a627c4e6ceaf3df.jpg
Bà Barbro Plogander khi còn trẻ
Barbro từng là giám đốc trong một doanh nghiệp cỡ vừa ở Thụy Điển. Bà thành công trong nghề nghiệp của mình và có mọi thứ mà một phụ nữ mong muốn có được.
Tuy nhiên, khát vọng thành công hơn nữa trong giới kinh doanh đã khiến bà phải làm việc ngày đêm và không có thời gian để nghỉ ngơi. Tới một ngày, bà đã ngã gục vì suy nhược.
Bác sỹ cho bà biết bà không có lựa chọn nào khác ngoài việc nghỉ ngơi. Lúc nào bà cũng cảm thấy chóng mặt và buồn ngủ, nhưng vẫn phải dùng thuốc ngủ mới có thể ngủ được. Áp lực từ công việc và đời sống riêng tư luôn đè nặng lên bà và cuối cùng dẫn bà đến trầm cảm.
Barbro nhớ lại: “Khi ấy, sức khỏe của tôi rất xấu, trí nhớ kém, không thể tập trung vào bất cứ việc gì. Tôi không thể cân bằng bản thân và thấy rất khổ sở.”
Bà tự nhốt mình trong bóng tối cả ngày lẫn đêm. Sự duyên dáng và lãng mạn trước kia của Barbro đã biến mất, thay thế bằng một phụ nữ đáng thương, đau khổ và không còn chút hy vọng nào cho tương lai.
Một ngày kia, bà thấy trên tờ báo địa phương có thông báo về việc mở lớp dạy Pháp Luân Công tại trung tâm cộng đồng địa phương. Bài viết này giới thiệu về các bài công pháp của Pháp Luân Công, nó có khả năng giúp giảm căng thẳng, cải thiện chất lượng cuộc sống, và đem lại lợi ích cho con người cả về thể chất lẫn tinh thần. Barbro muốn thử. Suy nghĩ đó mang đến cho bà tia hy vọng và háo hức mong được sớm bắt đầu.
Trung tâm cộng đồng nằm ở một khu vực nhỏ gần Gothenburg và mất khoảng 20 phút để đi tàu đến đó từ Lerum, nơi Barbro sinh sống. Bà nhớ rất rõ ngày đầu tiên khi bà mới biết đến Pháp Luân Công. Khi ấy, bà vừa ngạc nhiên vừa vui sướng.
Barbro nhớ lại: “Có khoảng 26 người tham gia lớp học. Tất cả đều là người Thụy Điển và đã có tuổi. Lớp học được các tình nguyện viên Pháp Luân Công hướng dẫn miễn phí. Đến nay tôi vẫn còn nhớ họ – Mari-Brit, Steffan và Mike Lee, một người Anh gốc Hoa đến từ Luân Đôn. Tất cả họ đều tốt bụng và thân thiện.”
Các bài công pháp của Pháp Luân Công có chuyển động nhẹ nhàng, mềm mại và rất đơn giản. Chúng tốt cho tất cả mọi người, cả già lẫn trẻ. Barbro hăng hái học các bài công pháp. Tuy nhiên do tình trạng bệnh tật, bà không thể kiểm soát được suy nghĩ của mình, do vậy bà không thể nhớ được bất kỳ động tác nào.
Một trong các hướng dẫn viên đã đưa cho bà tấm hình mô tả chi tiết các bài công pháp để giúp bà nhớ các động tác. Barbro cũng mua một cuốn Pháp Luân Công, trong đó có hình ảnh mô tả và hướng dẫn luyện các động tác.
Cuốn Pháp Luân Công là dành cho người mới bắt đầu. Nó giới thiệu văn hóa tu luyện và môn tu luyện Pháp Luân Công bằng ngôn ngữ đơn giản và dễ hiểu. Tuy nhiên khi Barbro đọc nó, bà không thể nhớ những gì bà đã đọc nên không hiểu được tác giả đang nói về điều gì.
Bà nhận ra rằng trí nhớ của mình là một vấn đề lớn. Tuy nhiên, bà quyết định học các bài công pháp, vì thế bà không ngừng lặp đi lặp lại từ “kiên trì” trong đầu của mình.
Tuần sau đó, bà quay lại trung tâm cộng đồng và phát hiện một cuốn sách khác nằm trên kệ trưng bày. Bà nói với các tình nguyện viên: “Tôi muốn cuốn sách này – Chuyển Pháp Luân!’
Chuyển Pháp Luân là cuốn sách chính của các học viên Pháp Luân Công. Nó mô tả một cách có hệ thống về tu luyện. Nội dung của cuốn sách này bao hàm toàn diện hơn cuốn Pháp Luân Công.
Nếu ai đó thấy nội dung của cuốn Pháp Luân Công khó hiểu, họ sẽ thấy rằng cuốn Chuyển Pháp Luân thậm chí còn khó hiểu hơn. Bất chấp điều đó, Barbro đã mua cuốn Chuyển Pháp Luân và bắt đầu đọc nó. Nhưng bà vẫn không thể nhớ được bất cứ điều gì mà bà đã đọc.
Mãi cho đến một ngày, khi bà đọc:
“Chư vị thấy rằng sau khi nó xuất ra, sư phụ liền đưa nó đi tu luyện tại một không gian mà sư phụ diễn hoá ra; cũng có thể là hình thức xã hội quá khứ, cũng có thể là hình thức xã hội hiện tại, cũng có thể là hình thức xã hội không gian khác.” (Bài giảng thứ Tám, Chuyển Pháp Luân)
Vào lúc đó, bà nhớ lại một giấc mơ kỳ lạ trước đây. Bà từng nhớ lại giấc mơ và cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của nó. Bây giờ, giấc mơ đó lại quay lại với bà và nó nói cho bà biết một thiên cơ mà hiếm khi người thường được phép biết đến.
Bà cảm thấy phấn khích, nhưng cũng đồng thời cảm thấy kinh ngạc. “Tôi phải đọc cuốn sách này một lần nữa,” bà nghĩ.
Vì vậy, Barbro bắt đầu đọc Chuyển Pháp Luân một lần nữa và sau đó lại đọc lại một lần nữa. Bà cẩn thận mở cuốn sách ra để đọc và cẩn thận khép nó lại khi đọc xong, vì bà tin rằng cuốn sách này rất đặc biệt.
Barbro bắt đầu suy nghĩ và không ngừng tự hỏi bản thân: “Tu luyện là gì? Tôi có phải là một người tu luyện chân chính không?” Bà cố gắng hiểu ý nghĩa của từ “tu luyện”.
Khái niệm về tu luyện bắt nguồn từ văn hóa châu Á, và là một khái niệm mới đối với Barbro. Hoàn toàn không hiểu tu luyện có nghĩa là gì, và trong đầu chứa rất nhiều câu hỏi, bà lặng lẽ nhìn vào bức ảnh chân dung của Sư phụ Lý Hồng Chí nằm ở trang đầu của cuốn sách.
Barbro dẫn giải: “Nhìn vào bức ảnh của Sư phụ trong cuốn sách, tôi cảm thấy như tôi đang nói chuyện với Ngài. Tôi đã hỏi một vài câu hỏi, và tự nghĩ ra một số câu trả lời. Tôi có thể cảm nhận rằng đôi mắt của Ngài có thể đọc được suy nghĩ của tôi. Tôi hỏi, và Sư phụ đã trả lời. Sư phụ biết tất cả mọi thứ mà tôi không biết. Tôi cảm thấy rằng tôi không thể giấu Ngài điều gì. Tôi cẩn thận đóng cuốn sách lại.”
Ngộ ra rằng tu luyện là uyên thâm và thiêng liêng, Barbro cảm thấy rằng mình thật nhỏ bé, và một cảm giác tôn kính dành cho Sư phụ trào dâng trong tâm bà. Nó là một loại cảm giác mà không thể diễn tả thành lời.
Nhờ tiếp tục đọc Chuyển Pháp Luân, bà có thể cảm nhận rằng trí nhớ của mình đang hồi phục. Tuy nhiên, nó vẫn chưa hoàn toàn ổn định. Bà tự hỏi bản thân một câu hỏi quyết định: “Mình đã là một người tu luyện Pháp Luân Công chân chính chưa?”
Sư phụ giảng trong Chuyển Pháp Luân:
“Ở đây tôi không giảng trị bệnh; chúng tôi cũng không trị bệnh. Nhưng là người tu luyện chân chính, chư vị mang theo thân thể có bệnh, [thì] chư vị tu luyện không được. Tôi phải giúp chư vị tịnh hoá thân thể. Tịnh hoá thân thể chỉ hạn cuộc cho những ai đến học công chân chính, những ai đến học Pháp chân chính.”
Barbro nhớ lại việc bà đã từng nói với bản thân: “Nếu ‘chân chính học công và học Pháp’ nghĩa là đang tu luyện chân chính, vậy thì tôi muốn trở thành một học viên chân chính.”
Cuối cùng vào năm 2005, bà đã quyết định ngừng sử dụng tất cả các loại thuốc chống trầm cảm và chân chính tu luyện Pháp Luân Công. Niệm muốn “tu luyện” đó đã làm cho thân thể của bà cảm thấy nhẹ nhàng và chứng trầm cảm giảm xuống. Bà không ngừng học các bài giảng của Pháp Luân Công và luyện 5 bài công pháp mỗi ngày.
Giờ đây nụ cười đã xuất hiện lại trên gương mặt của bà. Barbro hào hứng dẫn giải: “Bạn có tin nổi không, đối với tôi, để luyện được cái bài công pháp là vô cùng khó vì tôi không thể nhớ bất cứ điều gì. Nhưng giờ đây tôi đã có thể dễ dàng luyện các bài công pháp theo nhạc. Tôi hiểu điều Sư phụ truyền tải khi Ngài nói bằng tiếng Trung Quốc mặc dù tôi không hiểu các từ ngữ đó. Bạn có thể tin nổi rằng tôi đã tu luyện Pháp Luân Công được 9 năm rồi không?”
ef0bd766fc7a69bf02112af01aecf5e7.jpg
Barbro Plogander đang luyện tĩnh công
Barbro đã đến Washington DC để tham dự Pháp hội chia sẻ kinh nghiệm tu luyện Pháp Luân Đại Pháp vào ngày 22 tháng 07 năm 2007. Hơn 5.000 học viên Pháp Luân Công từ khắp nơi trên thế giới đã đến tham dự.
Các học viên đến từ châu Âu ngồi ở khu vực phía trước và giữa hội trường. Barbro cảm thấy vô cùng may mắn và biết ơn vì bà có thể tham dự Pháp hội trong tình trạng sức khỏe tốt và được lắng nghe các học viên khác chia sẻ kinh nghiệm của họ.
Không lâu sau khi Pháp hội bắt đầu, bà có thể cảm nhận được rằng mình đang được bao phủ bởi một trường năng lượng mạnh mẽ. Bà biết rằng Sư phụ Lý đã đến. Khi Sư phụ bước lên sân khấu, bà có thể nhìn thấy khuôn mặt của Ngài rất rõ ràng.
Các học viên người Thụy Điển được gặp Sư phụ một lần nữa vào ngày hôm sau. “Sư phụ đã nói chuyện với chúng tôi như thể chúng tôi là những người bạn lâu năm. Ngài thậm chí còn đề nghị chúng tôi cùng nhau chụp một bức ảnh.”
Tất cả các học viên vui mừng đứng quanh Sư phụ, và khi Barbro di chuyển gần hơn về phía Sư phụ, vừa lúc máy ảnh bấm máy, trí óc của bà ấy cũng chuyển biến.
Barbro nói: “Tôi có thể lập tức cảm nhận rằng phần trí nhớ bị lỗi của tôi đã được kết nối. Sư phụ đã chỉnh nó lại cho tôi.”
“Hiện nay, tôi không còn cảm thấy chán nản và buồn bã nữa vì tôi đã tu luyện Pháp Luân Công. Bây giờ tôi đã tích cực và lạc quan về tương lai hơn. Cả tâm lẫn thân của tôi tràn đầy niềm vui,” Barbro nói.
Bà đã bán căn nhà của mình, và hiện đang sống ở một vùng nông thôn giữa những ngọn đồi, hồ nước và cánh đồng. Bà cũng đã bỏ đi những mối hận thù dai dẳng và vui vẻ chia sẻ vẻ đẹp của Pháp Luân Công với những người khác.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2014/9/4/296888.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2014/9/14/3239.html
Đăng ngày 26-10-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.