Thứ Ba, 15 tháng 7, 2014

Thị trưởng gốc Việt đầu tiên ở Mỹ

Thị trưởng Tạ Đức Trí thăm hỏi các cựu chiến binh Mỹ ở thành phố Westminster, California - DR
Thị trưởng Tạ Đức Trí thăm hỏi các cựu chiến binh Mỹ ở thành phố Westminster, California – DR
Một khuôn mặt đáng chú ý trong cộng đồng người Việt tại Mỹ : đó là ông Tạ Đức Trí, thường được gọi là Tri Ta, thị trưởng thành phố Westminster có 92 ngàn dân ở tiểu bang California. Điều bất ngờ là người thị trưởng gốc Việt đầu tiên tại Hoa Kỳ sử dụng tiếng Việt hết sức thành thạo, tuy đã sống lâu năm trên đất Mỹ.
Người thị trưởng trẻ tuổi đầy hoài bão đã thổ lộ tâm tư của một người dấn thân phục vụ cư dân, và những thử thách đối với một lãnh đạo địa phương gốc Việt trong một cộng đồng đa chủng tộc ở Hoa Kỳ. Theo ông, triết học Đông -Tây giúp người lãnh đạo hiểu được giá trị của con người và cuộc đời.
Trước hết trả lời câu hỏi có bao giờ nghĩ là có một ngày mình sẽ trở thành thị trưởng một thành phố ở Mỹ hay không, ông Tạ Đức Trí cho biết :
Thị trưởng Tạ Đức Trí: Lúc tôi đến Mỹ năm 1992 cũng 19 tuổi rồi. Với tuổi đó đến Mỹ vào thời điểm ấy thì việc đầu tiên, cũng như bao thanh niên khác, tôi chỉ nghĩ làm sao mình có thể đi học và tốt nghiệp đại học, sau đó ra đi làm, và nếu có cơ hội thì có thể tham gia sinh hoạt trong cộng đồng giúp đỡ xã hội. Chứ thật ra tôi không bao giờ nghĩ rằng có một ngày nào đó mình có cơ hội trở thành một thị trưởng.
Có nhiều cơ hội đã đến với tôi sau khi đến Mỹ và sau đó vào trường đại học. Năm 1997 tôi tốt nghiệp cử nhân chính trị học, rồi đi làm và có tham gia sinh hoạt trong Tổng hội Sinh viên Miền Nam California. Từ những sinh hoạt trong Hội Sinh viên, được sự khuyến khích của một số tổ chức hội đoàn cũng như các nhân sĩ trong cộng đồng, tôi tranh cử vào Ban đại diện cộng đồng vào năm 2002.
Rất may mắn, sau khi đắc cử với số phiếu cao nhất, tôi lại được các thành viên trong Ban đại diện cộng đồng bầu chọn làm Chủ tịch chấp hành tại miền Nam California, thường được gọi là Chủ tịch cộng đồng, phục vụ từ năm 2002 đến 2005. Trong ba năm phục vụ đồng hương tại miền nam California, tôi đã tạo ra nhiều điểm sinh hoạt về xã hội, chính trị, văn hóa
Năm 2006 lại có rất nhiều tổ chức hội đoàn cũng như các nhân sĩ trong cộng đồng đến khuyến khích ra tranh cử chức vụ nghị viên thành phố Westminster. Với sự khuyến khích và thương yêu của các nhân sĩ trong cộng đồng, một lần nữa tôi lại dấn thân để tranh cử vào Hội đồng thành phố Westminster. Và cũng rất may mắn, tôi đã đắc cử khi lần đầu tranh cử vào tháng 11/2006.
Thành phố Westminster thì cử tri gốc Việt chiếm khoảng 40% cư dân, 40% khác là cư dân bản xứ, khoảng 20% còn lại là những sắc dân thiểu số khác. Thành ra năm 2006 khi vận động vào chức vụ nghị viên, chúng tôi cũng phải vận động người bản xứ và người Mễ Tây Cơ – đã làm việc với một số đại biểu dân cử gốc Mễ Tây Cơ, đi bộ tới nhà các cử tri người bản xứ. Vận động tất cả cử tri chứ không riêng gì cộng đồng người Việt.
Từ hoạt động cộng đồng đến Tòa thị chính
Ông Tạ Đức Trí kể lại lý do khiến ông mạnh dạn ra tranh cử. Theo ông, những công việc hàng ngày của một thị trưởng ởTòa Thị chính Westminster nặng nề gấp năm lần công việc của một ủy viên Hội đồng thành phố.
Sau sáu năm, bà thị trưởng tiền nhiệm thấy khả năng làm việc của chúng tôi phục vụ cộng đồng, cư dân của toàn thành phố một cách rất có hiệu quả, nên bà ngỏ ý muốn ủng hộ chúng tôi ra tranh cử thị trưởng Westminster. Vào năm đó, bà cựu thị trưởng đã quyết định về hưu không tái tranh cử. Chúng tôi hân hạnh có được sự ủng hộ của bà, cũng như các đồng viện, các đại biểu dân cử địa phương từ cấp thành phố đến quận cho tới tiểu bang, nên đã may mắn đắc cử vào tháng 11/2012.
Sau khi đắc cử thị trưởng, chúng tôi bận rộn rất nhiều. Bởi vì công việc của một thị trưởng gấp năm lần công việc của một người ủy viên. Hội đồng thành phố Westminster gồm một thị trưởng và bốn nghị viên. Tuy bổn phận, trách nhiệm của các thành viên trên danh nghĩa chỉ là bán thời gian, nhưng công việc hầu như là toàn thời gian.
Ngày nào cá nhân tôi cũng vào văn phòng để đọc email, trả lời điện thoại, cũng như tiếp xúc dân chúng rất nhiều : các hội đoàn, tổ chức thiện nguyện, cư dân trong cộng đồng Việt, cộng đồng người Mỹ trắng, cộng đồng người Mễ Tây Cơ. Khi các cư dân của thành phố có những vấn đề liên quan đến thành phố hay gặp khó khăn về nhà cửa, việc làm… thường gọi điện thoại hay gởi email nhờ giúp đỡ, thì chúng tôi luôn tạo thuận lợi cho họ.
Thị trưởng gốc Việt đầu tiên : Phải công bằng với mọi cư dân
Thật ra trước đó cũng đã có một thị trưởng gốc Việt ở Mỹ, nhưng không qua tranh cử nên ông Tạ Đức Trí mới chính thức là người Việt đầu tiên được bầu vào chức thị trưởng một thành phố Mỹ. Ông cho rằng đây là một sự khuyến khích cho các thế hệ người gốc Việt tương lai. Bên cạnh đó là những thử thách như mong đợi rẩt lớn từ cộng đồng, và phải đối xử công bằng, không thiên vị một sắc dân nào cả.
Sau chiến thắng vào chức vụ thị trưởng Westminster tháng 11/2012, chúng tôi đã trở thành người thị trưởng gốc Việt đầu tiên tại nước Mỹ. Trước đó đã có một thị trưởng gốc Việt khác ở thành phố Rosemead, tuy nhiên không phải là được người dân bầu chọn ra, mà do Hội đồng thành phố tuyển chọn. Riêng thành phố Westminster, chức vụ thị trưởng do cư dân bỏ phiếu bầu chọn.
Thị trưởng người Mỹ gốc Việt đầu tiên có thuận lợi ở chỗ, sẽ là sự khuyến khích cho các thế hệ về sau trong cộng đồng Việt của chúng ta. Những thế hệ con em của chúng ta muốn tranh cử chức thị trưởng hay những chức vụ cao hơn, thì các em sẽ cảm thấy rất được khuyến khích khi cá nhân tôi hay các vị dân cử khác đã dấn thân phục vụ dân chúng. Chúng tôi tin tưởng rằng thế hệ tương lai sẽ có những động lực để dấn thân vào con đường phục vụ cộng đồng, qua guồng máy chính quyền tại Mỹ.
Tuy nhiên bên cạnh đó, là thị trưởng gốc Việt đầu tiên, chúng tôi cũng gặp một số thử thách. Có nghĩa là công việc mình bận rộn nhiều hơn, bởi vì sự mong đợi của cộng đồng người Việt sẽ nhiều hơn, cũng như cư dân bản xứ cũng mong muốn một người thị trưởng gốc Việt phải đối xử công bằng, không thiên vị bất cứ cộng đồng nào cả. Bởi vì thị trưởng Westminster phải phục vụ cho cư dân toàn thành phố.
Gần hai năm qua, chúng tôi có cơ hội tiếp xúc rất nhiều cư dân, những tổ chức bất vụ lợi trong cộng đồng và các thành phần khác. Chúng tôi cũng đã gặp phải những thử thách, nhưng cuối cùng có lẽ do may mắn nên đã vượt qua.
Chính trị học, Triết Đông và Triết Tây
Ông Tạ Đức Trí kế lại quá trình phấn đấu của một thanh niên qua Mỹ khi đã 19 tuổi. Chuyển từ ngành điện toán sang ngành chính trị học, ông say mê triết học Tây phương và Đông phương. Vượt qua những khó khăn về ngôn ngữ, ông phát hiện năng khiếu về chính trị, bên cạnh đó là hoài bão đóng góp cho cộng đồng, như từ ông hay dùng là « dấn thân ».
Như đã trình bày, khi qua Mỹ năm 1992 thì tôi đã 19 tuổi. Quý vị cũng hiểu rằng ở tuổi đó mà sang bên Mỹ cũng không còn nhỏ lắm, thành ra trước hết tôi ghi danh học thêm Anh văn ở những trường huấn nghệ. Sau vài tháng, tôi vào trường đại học.
Trong sáu tháng đầu học đại học, chúng tôi cũng gặp những trở ngại về ngôn ngữ. Đặc biệt lúc đầu tôi ghi danh học ngành computer science, tức ngành điện toán. Nhưng quý vị nào có học ngành này thì hiểu, ngành điện toán đòi hỏi phải học thật giỏi các môn toán và lý.Nhận thấy không còn khả năng học giỏi hai môn này nữa, nên tôi sang lớp học khác. Đó là lớp chính trị học căn bản cho sinh viên tất cả các ngành.

Sau khi học lớp căn bản xong, vị giáo sư dạy môn này cho tôi biết là tôi có khả năng, và khuyên nên đổi qua học ngành chính trị. Ông tin rằng có thể tôi sẽ thành công hơn. Và tôi cũng nhận thấy khi học lớp chính trị căn bảnthì cảm thấy rất dễ dàng, mặc dù tiếng Anh mình cũng chưa khá gì mấy nhưng tự nhiên học rất là thuận lợi. Rồi khi làm những bài kiểm tra trong lớp, cũng được điểm rất khá. Thành ra từ đó tôi quyết định đổi từ ngành điện toán sang ngành chính trị học.
Sau khi chuyển qua ngành chính trị, hầu như những lớp về văn chương, về xã hội, nhân văn tôi học rất dễ dàng. Khi chuyển lên chương trình cao học, những ngành học của chúng tôi một lớp như vậy chỉ còn có bảy, tám sinh viên mà thôi – ngồi xung quanh một cái bàn tròn và giáo sư ngồi đầu bàn giảng bài. Thông thường khi lên cao học, hầu như không có làm bài trong lớp, mà những vị giáo sư đều bắt chúng tôi về làm những bài nghiên cứu. Thành ra khi về nhà tôi phải đọc sách rất nhiều, đặc biệt là sách triết học, vì ngành chính trị bên Mỹ đòi hỏi phải học về triết học Tây phương rất nhiều.
Cùng thời điểm đó tôi đã có sự đam mê về triết học Đông phương rồi. Lúc mới qua Mỹ tôi đã bắt đầu mê, tự tìm hiểu nghiên cứu về triết học Đông phương, rồi vài năm sau khi lên đại học lại học về triết học Tây phương. Cho nên triết học Đông-Tây đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều. Tôi nhập học vào tháng Tám năm 1992, tốt nghiệp vào tháng Sáu năm 1997, như vậy trong thời gian bốn năm rưỡi tôi đã hoàn thành chương trình cử nhân môn chính trị học.
Triết học giúp người lãnh đạo hiểu được giá trị của cống hiến và phục vụ
Cha là kịch tác gia, mẹ là giáo sư Anh văn ở Hội Việt Mỹ trước năm 1975, ông Tạ Đức Trí vốn say mê đọc sách. Theo ông, triết học giúp hiểu được giá trị con người, cuộc đời, khiến người lãnh đạo hiểu được giá trị của sự cống hiến.
Có lẽ do có sự đam mê về văn chương, về triết học từ hồi bé, khi lớn lên, trưởng thành mình lại tự tìm hiểu, triết học đã giúp tôi rất nhiều trong vai trò một người lãnh đạo. Khi học triết, phải học đạo đức học. Một khi đào sâu triết lý từ Tây phương đến Đông phương, mình hiểu được giá trị của con người, hiểu được ý nghĩa của cuộc đời, hiểu được việc mình làm.
Tôi tin tưởng rằng bất cứ việc gì mình làm – nếu mình để tâm vào đó, mình nghĩ về người khác, mình nghĩ rằng sẽ cống hiến cho cộng đồng, cống hiến cho xã hội chứ không phải vì lợi ích riêng tư – thì sẽ gặp nhiều may mắn trong việc phục vụ. Sẽ được sự ủng hộ của cộng đồng, của xã hội. Đó là niềm tin của chúng tôi.
Thành ra khi đắc cử thị trưởng, những tờ báo bên Mỹ có viết về chúng tôi, và cũng có đề cập đến việc tôi đam mê triết học. Họ khá ngạc nhiên, vì rất ít khi một đại biểu dân cử đề cập đến khía cạnh này. Tuy nhiên tôi tin rằng hiểu biết về triết học vô cùng quan trọng, để giúp người lãnh đạo hiểu được giá trị của sự cống hiến, hiểu được giá trị của phục vụ.
Sau khi hiểu được giá trị của cống hiến và phục vụ, chắc chắn người lãnh đạo sẽ phải biết ơn cơ hội, biết ơn những cư dân đã bỏ phiếu cho mình !
Thụy My
Theo rfi

Báo Anh: Trung Quốc dối trá và bịa đặt khủng khiếp về Biển Đông

Bill Hayton tác giả cuốn sách “Biển Đông và cuộc chiến giành quyền lực ở châu Á” vừa có bài viết phản bác tất cả những luận điệu của Trung Quốc về cái gọi là “bằng chứng lịch sử” đối với Biển Đông.
Truong_sa
Chiến sĩ hải quân nhân dân Việt Nam đang đứng gác ở Trường Sa.
Trong bài viết đã đăng trên tạp chí “Prospect” của Anh hôm 10/7 vừa qua, tác giả Bill Hayton đã mở đầu: “Cả nước Trung Quốc đã bị tuyên truyền một cách rất sai trái rằng người Trung Quốc đã phát hiện và đặt tên các đảo ở Biển Đông”.
Theo Bill Hayton, Biển Đông là nơi Trung Quốc đang ra sức đẩy mạnh những tham vọng bá quyền của mình trong bối cảnh các nước châu Á đang hoang mang trước “sức mạnh Mỹ” và cam kết của Mỹ đối với những đồng minh trong khu vực.
Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã đột ngột từ bỏ chiêu bài giả vờ “trỗi dậy hòa bình” và quay sang ủng hộ “ngoại giao pháo hạm”. Tàu Hải cảnh và tàu vũ trang của Trung Quốc đã nhiều lần đâm va, tấn công các tàu của Việt Nam, phong tỏa tiền đồn của Philippines (bãi Scaborough), quấy rối và ngăn cản các tàu thăm dò dầu khí của Malaysia, đe dọa các tàu Indonesia đang làm nhiệm vụ bảo vệ nguồn thủy sản trên Biển Đông. Đáp lại, tất cả các quốc gia (ở Đông Nam Á) đang mua vũ khí nhiều hơn và cải thiện quan hệ quân sự với các chính phủ khác, chủ yếu là với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Australia…
Gốc gác của tất cả các rắc rối này là những gì Bắc Kinh gọi là “bằng chứng lịch sử không thể chối cãi” mà họ dùng để đòi chủ quyền đối với hơn 80% diện tích Biển Đông thông qua đường 9 đoạn (đường lưỡi bò).
Vấn đề quan trọng hơn là Bắc Kinh đã không hề có “bằng chứng đáng tin cậy” để hỗ trợ nó ngoài việc bịa ra những thứ rất “tầm phào và mơ hồ”. Tuy nhiên, điều này vẫn là động lực để họ đe dọa hòa bình và an ninh ở châu Á.
Theo bài viết của Bill Hayton, Biển Đông có hai nhóm đảo chính, trong đó chỉ có một số rất ít là những hòn đảo thực sự, phần lớn chỉ là các rạn san hô, bãi cát hoặc đá. Ở phía Bắc là quần đảo Hoàng Sa (của Việt Nam nhưng đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ năm 1974 –PV). Ở phía nam là quần đảo Trường Sa. Hầu hết các hòn đảo hoang vắng đều có tên tiếng Anh (trên các bản đồ do người phương Tây vẽ) được đặt theo tên các tàu hoặc thuyền trưởng đã từng đi qua đây trong quá khứ. Ví dụ như tên quần đảo Trường Sa trong tiếng Anh được đặt theo tên thuyền trưởng Richard Spartly – người đã đi qua quần đảo này năm 1843 hay tàu HMS Iroquois (của Anh) đã đặt tên cho bãi san hô Iroquois Reef trong công việc khảo sát trong năm 1920…
Năm 1935, lần đầu tiên Trung Quốc thể hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông và các hòn đảo ở đó bằng việc một Ủy ban của chính phủ Trung Quốc yêu cầu đặt tên bằng tiếng Trung Quốc cho tất cả các đảo. Trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Quốc đã cho đổi tên Antelope Reef trở thành bãi Linh Dương… Điểm đặc biệt là Trung Quốc khi đó không hề có bản đồ của khu vực này và Ủy ban của Trung Quốc chỉ đơn giản là sao chép các bản đồ của Anh, thậm chí sao chép nguyên xi tất cả các lỗi mà những nhà bản đồ phương Tây đã chú thích sai do không hiểu biết đầy đủ về khu vực.
Các tên gọi này sau đó cũng được sửa đổi hai lần. Ví dụ, bãi Scarborough được đặt theo tên một tàu của Anh vào năm 1748, ban đầu được phiên âm là Si-ge-ba-luo vào năm 1935, sau đó chính quyền Tưởng Giới Thạch đổi tên vào năm 1947 và cuối cùng, Trung Quốc đặt tên là bãi Hoàng Nham vào năm 1983.
truongsalon
Đảo Trường Sa lớn nằm trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam
Nhưng chính quyền Trung Quốc dường như đã dối trá hoàn toàn về điều này. Các tuyên bố “có chủ quyền không thể tranh cãi” của Trung Quốc trên Biển Đông thường bắt đầu bằng cụm từ “người Trung Quốc là những người đầu tiên phát hiện và đặt tên cho quần đảo Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam)” trong khi thực tế họ chỉ sao chép các tên từ tiếng Anh. Ngay cả từ “Nam Sa” (có nghĩa là “bãi cát phía Nam”) đã rất nhiều lần bị Trung Quốc “di chuyển” đến những địa điểm khác nhau trên bản đồ. Năm 1935, tên này được sử dụng để mô tả các khu vực biển nông được gọi bằng tiếng Anh là “Macclesfield Bank” (ở gần sát quần đảo Hoàng Sa). Năm 1947, cái tên Nam Sa đã được chuyển về phía nam trên bản đồ Trung Quốc để chỉ quần đảo Trường Sa. Điều này chứng tỏ Trung Quốc khi đó gần như không biết gì về Biển Đông.
Sẽ tốn khá nhiều trang giấy để phản bác một cách chi tiết mỗi “bằng chứng lịch sử” do phía Trung Quốc bịa đặt ra nhưng Trung Quốc và thế giới không thể phủ nhận rằng “không có bằng chứng khảo cổ học cho thấy có tàu nào của Trung Quốc di chuyển trên vùng biển này trước thế kỷ 10”. Cho đến thời điểm đó tất cả các giao dịch và thăm dò được thực hiện bởi tàu của người Malay, Ấn Độ và Ả Rập. Họ có thể, theo thời gian, đã tiến hành cập bến cảng của Trung Quốc để buôn bán.
Những chuyến đi còn nhiều tranh cãi của Trịnh Hòa – “đô đốc thái giám” của Trung Quốc cũng chỉ kéo dài trong khoảng 30 năm, cho đến những năm 1430. Sau đó, nhà nước phong kiến Trung Quốc không bao giờ đến vùng biển này một lần nữa cho đến tận cuối Chiến tranh thế giới thứ hai.
Lần đầu tiên, một quan chức chính phủ Trung Quốc đặt chân lên quần đảo Trường Sa là ngày 12/12/1946. Một phái đoàn cấp tỉnh của Trung Quốc đã đến quần đảo Hoàng Sa một vài thập kỷ trước đó, vào ngày 06/6/1909, trong một cuộc thám hiểm kéo dài chỉ một ngày bằng con tàu của một thuyền trưởng người Đức mượn từ công ty kinh doanh Carlowitz. Tất cả những lần “đặt chân” này đều chỉ là “đi ké” các tàu của phương Tây chứ người Trung Quốc không đủ khả năng.
Đây là những bằng chứng lịch sử được giới học giả quốc tế thừa nhận từ lâu. Nhưng bằng các chiến dịch tuyên truyền dối trá của mình, chính quyền Trung Quốc đã thuyết phục được người dân của họ tin là giới học giả quốc tế đang “âm mưu phá hoại và chia cắt Trung Quốc”.
Nhà địa lý William Callahan và những người khác đã chỉ ra rằng, việc tuyên bố lãnh thổ rộng lớn một cách bừa bãi là một phần của cuộc đấu tranh chống lại sự thống trị của nước ngoài của Bắc Kinh. Trung Quốc đã cố tình thổi phồng chủ nghĩa dân tộc và tạo ra “nỗi nhục vì bị xâm phạm lãnh thổ” để kích động người dân trong nước. Từ những năm 1900 trở đi, các nhà địa lý của Trung Quốc như Meichu, một trong những người sáng lập của Viện Địa lý Xã hội Trung Quốc đã bắt đầu vẽ bản đồ “láo” để công chúng nước này thấy bao nhiêu lãnh thổ của họ đã bị các đế quốc cướp mất.
Những “bản đồ về sự sỉ nhục quốc gia” cho rằng lãnh thổ hợp pháp của Trung Quốc bao gồm tất cả các chư hầu trước kia đã từng “quy phục” hoàng đế Trung Hoa. Họ cho rằng lãnh thổ của Trung Quốc bao gồm cả bán đảo Triều Tiên, một khu vực rộng lớn của Nga, Trung Á, Hymalaya và nước ở Đông Nam Á.
Những bản đồ bịa đặt này được vẽ để chứng minh sự tương phản với phần bị “teo lại” của đất nước Trung Quốc ngày nay. Đây cũng là một trong những lý do của sự ra đời đường “chữ U” hay “đường 9 đoạn” (đường lưỡi bò) bao trọn 80% diện tích Biển Đông và tất cả các đảo trong đó. Bắc Kinh còn tận dụng những sự hiểu biết sai lệch của các nhà bản đồ và hàng hải phương Tây do không hiểu biết về lịch sử Đông Nam Á, để coi đó là cơ sở để khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với vùng Biển Đông.
Không thể phủ nhận, trong lịch sử, Trung Quốc đã từng bị các đế quốc đô hộ và tàn phá nhưng việc cố tình tạo dựng lên một “quốc gia bị sỉ nhục” bằng cách diễn giải sai lịch sử là điều khó có thể chấp nhận. Chính điều này và mối đe dọa của chủ nghĩa dân tộc tự phát đã khiến cho các tranh chấp trên Biển Đông trở nên rất nguy hiểm. Nhưng ngày nay, chính phủ Trung Quốc không thể thừa nhận gian dối của nó vì ngay sau khi thừa nhận dối trá, chính quyền Bắc Kinh sẽ bị dân chúng nước này tẩy chay.

Bien_Dong_1
Có lẽ là một câu trả lời nằm ở Đài Loan. Các cơ hội của một cuộc tranh luận tự do hơn về lịch sử Trung Quốc ở Đài Loan lớn hơn nhiều so với đại lục. Đã có một số học giả “bất đồng chính kiến” xem xét lại các khía cạnh của lịch sử thế kỷ 20. Đài Loan cũng là nơi lưu trữ các tài liệu đầu tiên của quá trình “vẽ ra đường chữ U”. Một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng và cơi mở các tài liệu ở Đài Loan mới có thể thuyết phục dư luận phải xem lại “những huyền thoại dân tộc” bị xuyên tạc từ lâu nay.Không có sự lựa chọn thay thế dễ dàng để giải quyết xung đột trong Biển Đông. Không bên nào muốn kích động một cuộc chiến tranh nhưng không bên nào sẵn sàng giảm bớt căng thẳng bằng cách điều hòa chủ quyền lãnh thổ. Một số quan chức Trung Quốc đã nhận ra sự vô lý của tuyên bố “đường lưỡi bò”. Nhưng chính các quan chức này nói rằng, họ không thể kiến nghị sửa đổi bởi lý do là những lời chỉ trích trong nước nổi lên vô cùng mạnh. Làm thế nào để người dân Trung Quốc có thể có một cái nhìn khác về lịch sử của Biển Đông khi mà Trung Quốc vẫn tiếp tục dối trá như hiện nay?
“Chìa khóa cho một tương lai hòa bình ở châu Á là lịch sử phải được diễn giải một cách trung thực”, tác giả Bill Hayton kết luận.
Theo Infonet

Sydney, Úc : "Chân tướng Trường Thành"


Sydney, Úc: “Chân tướng Trường Thành” kêu gọi chấm dứt nạn mổ cướp nội tạng ở Trung Quốc (Ảnh)



Bài viết Hoa Thanh, phóng viên Minh Huệ tại Sydney
[MINH HUỆ 01-07-2014] Vào ngày 29 tháng 06, năm 2014, các học viên Pháp Luân Công tại Sydney đã tập hợp tại con phố chính ở trung tâm thành phố Hurstville. Họ đứng sát bên nhau cùng với băng rôn và biểu ngữ tạo thành một “Chân tướng Trường Thành”, nhằm nâng cao nhận thức về cuộc bức hại đang diễn ra tại Trung Quốc.
Họ giúp những người qua đường biết về tội ác dã man của nhà cầm quyền Trung Quốc khi tiến hành mổ cướp nội tạng từ các học viên còn sống, những người bị giam giữ chỉ vì không chịu từ bỏ niềm tin của mình. Nhiều người đã ký vào đơn thỉnh nguyện yêu cầu chấm dứt ngay tội ác này.
Người dân tìm hiểu về cuộc bức hại Pháp Luân Công thông qua các biểu ngữ
Một học viên Pháp Luân Công giải thích với người qua đường về Pháp Luân Công và về cuộc bức hại
Sau khi biết được cách thức chính quyền Trung Quốc mổ cướp nội tạng từ các học viên Pháp Luân Công còn sống, nhiều người qua đường đã kí vào đơn thỉnh nguyện yêu cầu chấm dứt tội ác dã man này.
Một người Trung Quốc đang đọc thông tin về cuộc bức hại Pháp Luân Công.
Khách qua đường: “Tôi muốn học Pháp Luân Công”
Một cặp vợ chồng trẻ người Úc đứng trước tấm bảng thông tin một hồi lâu. Người vợ, cô Viki Tori, đã chỉ vào các bức ảnh và đặt khá nhiều câu hỏi.
Cô chỉ vào tấm hình của một nữ học viên trước và sau khi bị tra tấn tàn bạo và thở dài: “Thật là tàn bạo một cách hiếm thấy! Thật quá sức tưởng tượng!” Sau khi nghe câu chuyện phía sau tấm hình đó từ một học viên, cô đã ký vào đơn thỉnh nguyện.
Khi biết được những lợi ích về sức khỏe và tinh thần mà Pháp Luân Công mang lại, cô nói : “Tôi muốn học Pháp Luân Công.” Trước khi rời đi, cô đã cầm theo rất nhiều tài liệu thông tin.
“Cuộc chiến giữa thiện và ác”
Một người đàn ông tới từ Hungary đã dừng lại để nói chuyện với các học viên. Ông cho biết ông từng kinh doanh ở Trung Quốc trước đây và ông biết về cuộc bức hại Pháp Luân Công đang diễn ra ở Trung Quốc. Ông đã ký vào đơn thỉnh nguyện phản đối nạn mổ cướp nội tạng. “Tôi hoàn toàn đồng ý với những gì các bạn đang làm. Đây là cuộc chiến lớn và khó khăn giữa thiện và ác”, ông nói.
“Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sẽ bị trừng phạt”
Hai người Trung Quốc tới từ Thượng Hải đã nói chuyện với một học viên. Họ tin rằng ĐCSTQ đang ngày càng hủ bại và Trung Quốc đã trở nên hỗn loạn vì “đó là một xã hội vô thần. Một xã hội có chính tín sẽ không trở nên suy đồi như thế. ĐCSTQ đã giết hại rất nhiều người và cuối cùng nó sẽ bị trừng trị.”

Bản tiếng Hán : http://www.minghui.org/mh/articles/2014/7/1/制止活摘-悉尼再次举办真相长城(图)-294146.html
Bản tiếng Anh : http://en.minghui.org/html/articles/2014/7/3/1891.html
Đăng ngày 14-07-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Đảo Jeju, Hàn Quốc

Đảo Jeju, Hàn Quốc: “Pháp Luân Công là hy vọng của tất cả mọi người ” (Phần 1/2)



Bài viết của Shan Guo, phóng viên Minh Huệ Hàn Quốc
[MINH HUỆ 25-06-2014] Đảo Jeju được bình chọn là một trong “7 kỳ quan thiên nhiên mới” là một điểm du lịch nổi tiếng ở Hàn Quốc. Vào năm 2013 hơn 10 triệu khách du lịch tới thăm hòn đảo này trong đó có 1,8 triệu người từ Trung Quốc. Chỉ trong tháng 4 năm 2014, trung bình 19.000 du khách Trung Quốc đến thăm đảo Jeju mỗi ngày. Dự kiến ​​số lượng du khách Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trong mùa du lịch từ tháng 5 đến tháng 10.
Các học viên Pháp Luân Công đang nắm lấy cơ hội này để chào đón các du khách Trung Quốc và giảng chân tướng về Pháp Luân Công, vạch trần các tuyên truyền thù hận đã đầu độc tâm trí họ gần 15 năm qua.
Khoảng hai triệu người Trung Quốc đến thăm đảo Jeju hàng năm.
Bà Liu, 71 tuổi, là một trong ba học viên thường xuyên tới đây. ”Có rất nhiều du khách Trung Quốc ở đây”, bà nói. ”Có khoảng 20 chuyến bay từ Trung Quốc mỗi ngày, cộng thêm một số chuyến bay từ các thành phố khác của Hàn Quốc. Ngoài ra, người Trung Quốc cũng tới đây bằng tàu biển.”
Du khách bao gồm từ sinh viên cho đến các quan chức chính phủ và những người đi công tác. Nhiều người trong số họ nhận các tài liệu Pháp Luân Công mà bà Liu và hai học viên khác đưa khi họ rời quầy hải quan. Sau đó, họ sẽ đọc các cuốn tài liệu này trong khi chờ xe buýt du lịch.
Du khách Trung Quốc đọc các tài liệu Pháp Luân Công trong khi chờ xe buýt du lịch.
“Thông tin này rất quan trọng với họ,” bà Liu nói. ”Người Trung Quốc đã bị lừa dối bởi những tuyên truyền thù hận của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) trong một thời gian dài, họ đã quay lưng lại với Pháp Luân Công và nguyên lý Chân-Thiện-Nhẫn. Khi mọi người hành động trái với lương tâm, họ đã đặt tương lai của mình vào hoàn cảnh nguy hiểm. Chúng ta cần phải giúp họ nhận thức được chân tướng,” bà giải thích.
Bà Liu làm việc rất chăm chỉ. Mỗi ngày bà dậy sớm vào buổi sáng luyện công và sau đó rời khỏi nhà vào khoảng 6 giờ sáng để bắt xe buýt. Việc này không hề dễ dàng, vì bà đã làm việc này trong nhiều năm, và không biết tiếng Hàn.
“Các hướng dẫn viên từng ngăn du khách nhận tài liệu của chúng tôi. Tuy nhiên, bây giờ họ nhận thức được những gì tôi đang làm là quan trọng và không can nhiễu nữa”, bà cười và nói.
Đằng sau công việc khó khăn của bà Liu là một câu chuyện cá nhân. ”Con gái tôi bơi rất giỏi, cháu từng đạt huy chương Olympic và cấp quốc gia.”Nhưng khi giải nghệ, cháu gần như bị tàn tật – con gái tôi không thể ngẩng đầu và chân của cháu bị liệt.
“Những ngày đó thật khủng khiếp,” bà Liu nhớ lại. ”Con gái tôi mới 25 tuổi, nhưng sức khỏe của cháu tệ hơn một người 70.”
Việc bà Liu và con gái bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công là một bước ngoặt lớn. Cả hai đều trải nghiệm sự cải biến to lớn về thể chất. Con gái bà không chỉ bình phục mà còn trở thành một huấn luyện viên bơi lội.
“Cháu thật may mắn so với đồng đội của mình. Pháp Luân Công đã ban cho chúng tôi một cuộc đời mới”, bà Liu nói.
Bên cạnh bà Liu là ông Park, người từng sống trong tu viện như một tu sĩ. ”Tôi biết đến Pháp Luân Công trên một chuyến xe buýt cách đây bảy năm. Tôi đọc một cuốn tài liệu nhỏ về Pháp Luân Công, và sau đó đọc Chuyển Pháp Luân. Các Pháp lý trong cuốn sách rất uyên thâm và tôi đã hoàn toàn kinh ngạc.”
Ông chuyển đến đảo Jeju vào năm ngoái để giảng chân tướng về Pháp Luân Công và cuộc bức hại cho du khách Trung Quốc.” Có lẽ tôi có tiền duyên với những người Trung Quốc”, ông Park nói.” Đây là điều tôi phải làm.”
Những nỗ lực của họ đã được báo đáp. Chỉ từ tháng 04 đến tháng 06, hơn 20.000 du khách Trung Quốc thoái ĐCSTQ và các tổ chức liên đới sau khi bà Liu giảng chân tướng cho họ.
Các du khách rất biết ơn. Bà Liu nhớ lại: “Một trong số họ nhìn vào mắt tôi và nói: ‘Cảm ơn bà đã chia sẻ với tôi điều này. Giờ đây tôi biết rằng Pháp Luân Công là niềm hy vọng của tất cả mọi người.’”

Bản tiếng Hán: http://en.minghui.org/html/articles/2014/6/22/济州岛的呼唤(1)-293819.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2014/6/25/1786.html
Đăng ngày 11-07-2014. Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2014

Những tầu ngầm đắt nhất thế giới

1. Siêu du thuyền tàu ngầm Migaloo: 2,3 tỷ USD Mang cả chức năng là tàu ngầm và du thuyền, Migaloo có boong tàu rộng lớn với sân đỗ trực thăng riêng, bể bơi, quán bar, khu vực tắm nắng và ngắm cảnh. Khi chìm trong nước, tất cả nội thất sẽ được đặt trong những kho rộng bên dưới ván sàn lát đá granite và hồ bơi sẽ được nâng lên cao bằng với sàn tàu. Boong trước hoàn toàn dành riêng cho chủ tàu với một phòng ngủ lung linh ánh sáng. Mức giá 2,3 tỷ USD được cho là cắt cổ, và chỉ giới siêu giàu mới có thể sở hữu siêu phẩm này.
 tn1
2. Tàu ngầm Phoenix 1000: 80 triệu USD Dài 65m, Phoenix1000 có thể lặn xuống độ sâu hơn 300m, đi xuyên qua đại dương kể cả thời tiết xấu như biển động. Nó được trang bị phòng ngủ sang trọng, hầm rượu vang… và phải mất 3,5 năm để hoàn thành.
tn2
3. Seattle 1000: 25 triệu USD Seattle 1000 do công ty Submarine Inc., Mỹ sản xuất với giá 25 triệu USD, dài 36 m, rộng 6,5 m. Trên tàu có 5 phòng ngủ riêng biệt ở 2 khoang tàu, 5 phòng tắm, hai nhà bếp, một phòng tập thể thao, hầm rượu và một trạm quan sát.
tn3
4. Tàu ngầm của tỷ phú Paul Allen: 12 triệu USD Siêu tàu ngầm của nhà đồng sáng lập Microsoft có sức chứa 10 người. Đây là sản phẩm hoàn hảo phục vụ những chuyến khám phá đại dương cùng gia đình.
tn4
5. Siêu tàu ngầm kiêm thuyền cao tốc Hyper-Sub: 9,5 triệu USD Hyper-Sub có khả năng di chuyển trên mặt nước với tốc độ 35 hải lý/giờ và dưới nước là 5 hải lý/giờ. Mức độ ngập sâu của thiết bị này là gần 200m.
tn5
6. Proteus: 8 triệu USD Tàu ngầm kiêm du thuyền mini Proteus được sáng tạo bởi nhà thiết kế nổi tiếng thế giới Herbe Jaubert. Sức chứa của con tàu này là 8 người.
tn6
7. Nomad1000: 6,5 triệu USD Tàu ngầm du lịch Nomad1000 có sức chứa từ 24 – 36 hành khách. Ngoài những phòng ngủ sang trọng, Nomad1000 còn được trang bị nhà bếp, quán bar phục vụ du khách giải trí.
tn7
Phong Lâm
Theo Therichest, zing

Sự kiện Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn được bầu chọn là những danh tướng vĩ đại nhất thế giới

Sự thật việc Võ Nguyên Giáp, Trần Hưng Đạo được bầu chọn là danh tướng kiệt xuất thế giới

(PetroTimes) - Vào khoảng đầu thập niên 90, tạp chí Kiến thức ngày nay đã đưa tin: Hai vị tướng nước ta là Hưng Đạo Vương Trần  Quốc Tuấn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vinh dự được bầu chọn là hai trong mười vị tướng soái kiệt xuất thế giới. Bản tin làm nức lòng mọi người từ Bắc chí Nam, từ thành thị đến nông thôn, từ trong nước đến nước ngoài.
Nhưng rồi qua một thời gian, có người đặt lại vấn đề: Nguồn tin xuất phát từ đâu? Việc lựa chọn nhằm mục đích gì? Người viết chỉ đưa tin mà không nói rõ và không đưa ra những tư liệu cụ thể. Cho đến nay chưa có ai giải đáp được những vấn đề nêu trên. Gần đây, trên đài Truyền hình trong mục KCT lại có khán thính giả đặt câu hỏi về vấn đề này và Giáo sư Nguyễn Lân Dũng cũng chưa có tài liệu để trả lời. Người ta cho rằng có lẽ vì “quá tự hào” dân tộc nên người viết đã tung ra một bản tin như vậy chăng? Có người còn gọi đó là “tin hành lang”.
Mục từ Võ Nguyên Giáp và Trần Hưng Đạo trong TNEB (The New Encyclopedia Britannia)
Mới đây, gia đình NSƯT Minh Hiến đã tìm được một di cảo của ông viết khoảng năm 1990 về việc này. Xin giới thiệu cùng bạn đọc để biết thêm về tấm lòng của NSƯT Minh Hiến đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Năm 1985 tôi cùng Đoàn Nghệ thuật Việt Nam sang biểu diễn tại Liên Xô (cũ) tại nhà hát Bônsôi Têat trong chương trình “Ngày Văn hóa Việt Nam tại Liên Xô”, một người bạn gái Nga mà tôi quen trong thời kỳ sang thực tập ở Liên Xô trước đây tên là Lêpêsinxkaia đã lên tặng một bó hoa rất đẹp và nói: “Mừng ngày Văn hóa Việt Nam tại Liên Xô thành công rực rỡ, mừng tin mới báo chí vừa đăng: Hai dân tộc chúng ta đã có những vị tướng soái kiệt xuất thế giới”. Tôi ngỡ ngàng không hiểu hết ý nhưng không tiện hỏi vì đang đứng giữa sân khấu chào khán giả.
Trong một cuộc trà đàm, Giáo sư TSKH Khái Vinh, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Văn hóa Hà Nội, người đã từng bảo vệ luận án Phó tiến sĩ rồi Tiến sĩ ở Đức đã nói: “Tôi cũng đã được đọc tin này trên báo Đức trong thời gian đó”.
Những năm gần đây, nhân tham gia trong Hội đồng biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, tôi có dịp tiếp xúc với nhiều tư liệu của Bách khoa toàn thư các nước: Pháp, Ý, Hoa Kỳ đặc biệt là Encyclopedia Britannia (Bách khoa toàn thư Anh Quốc) tôi đã thu thập được một số tài liệu, xin trình bày để bạn đọc tham khảo.
Encyclopedia Britannia (EB) là một trong những bách khoa thư đồ sộ nhất thế giới gồm 30 volumes (tập), trong khi Encyclopedico Italiano của Ý có 15 volumes, Grand dictionaire universel de Piere Larousmé của Pháp có 15 volumes + 2 volumes bổ sung, EB cũng là Bách khoa toàn thư xuất bản trọn bộ sớm nhất: 1768 -1771 (The Encyclopedia America của Hoa Kỳ 1829).
Trang bìa
EB không chỉ do những nhân vật nổi tiếng của Viện Hàn lâm London và Edinburg (Thủ đô của Scotland) biên soạn mà còn do các học giả tên tuổi ở các trường Đại học Chicago của Hoa Kỳ, Toronto của Canada, Tokyo của Nhật Bản và Đại học Quốc gia Úc tham gia biên soạn và hiệu đính, do đó rất có uy tín trên thế giới, đã được xuất bản ở London và cả ở Chicago, Auckland, Geneva, Milano, Paris, Roma, Seoul, Sydney, Tokyo, Toronto.
Đến năm 1973 EB được tái bản lần thứ 14. Trong lần tái bản này, tuy đã được biên soạn rất công phu nhưng vẫn còn có một số vấn đề cần khắc phục trong đó có vấn đề danh nhân quân sự. Cũng trong bản in lần thứ 14 này, nếu tra cứu mục từ Napoléon thì thấy viết quá kỹ luỡng ở volume XVI ( ký hiệu tại thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh: Z 238), từ trang 2 đến trang 10 gồm 1.400 dòng, 14.000 từ với 2 bức ảnh lớn chụp lại 2 bức tranh ở Bảo tàng Versailles và Bảo tàng Malmaison; trong lúc đó ở mục từ Kutuzov, tên vị thống soái tài năng Nga, người đã bẻ gãy mộng bá chủ thế giới của người hùng nước Pháp Napoléon lại chỉ vẻn vẹn chưa đầy 50 dòng, không có ảnh (volume XIII, trang 519).
Kết quả bình chọn 10 danh tướng
Như vậy là việc biên soạn chưa hoàn thiện, thiếu cân đối. Vì vậy hội đồng biên soạn EB đã bổ sung những khuyết nhược điểm để tái bản lần thứ 15 và lấy tên là The new Encyclopedia Britannica (TNEB) (Tân Bách khoa toàn thư Anh quốc). TNBE ra đời năm 1983 có thêm những vị tướng soái kiệt xuất trước đây chưa hề có, trong đó có Trần Hưng Đạo và Võ Nguyên Giáp.
Thiết nghĩ danh tướng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã 3 lần đại thắng quân Nguyên Mông (trong TNEB chỉ nêu có 2 lần), một đạo quân xâm lược hung hãn nhất của thời đại với đội kỵ binh hùng hậu có tài phi ngựa mã khoái (như tên bay) và tài bắn cung xuất quỷ nhập thần đã từng khuất phục Đại Trung Hoa và giày xéo trên khắp lục địa châu Âu, châu Á. Trần Hưng Đạo xứng đáng là một vị tướng kiệt xuất của thế giới. Mục từ Trần Hưng Đạo được in ở volumes X, trang 88, có 38 dòng, 270 từ (ký hiệu TVKHTH thành phố: Z 256) .
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh vá Bộ Chính trị, đã chỉ huy quân và dân Việt Nam đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ hùng mạnh Pháp, Mỹ, đập tan chiến tranh xâm lược của thực dân cũ và mới, làm bùng lên phong traò giải phóng dân tộc khắp thế giới; đã làm cho 7 vị tướng Pháp: Leclere, Valluy, Blaizot, Carpentier, De Lattre de Tassigny, Raoul Salan, Henri Navarre và 4 vị tướng Mỹ: Harkin, Westmorland, Abraham, Owen phải thất bại, cuốn cờ về nước. Tướng Giáp xứng đáng là vị tướng xuất sắc có một vị trí trong lịch sử thế giới”, như ký giả nổi tiếng người Mỹ D.S.Marshall viết (International Military and Defense Encyclopedia, 1993. volume 3. NXB Brasseys Mỹ).
Di cảo của NSƯT Minh Hiến
Mục từ Võ Nguyên Giáp được in ở volume X, trang 493 -494 có 70 dòng, 490 từ (ký hiệu tại TVKHTH thành phố: Z 256).
- Điều đáng chú ý, riêng khi viết về 2 vị tướng Việt Nam TNEB đã nhấn mạnh đến tính nhân dân trong các chiến công oanh liệt chống ngoại xâ.
- Trần Hưng Đạo đã được “sự ủng hộ của toàn thể các tầng lớp nhân dân” (support of all classes)
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp với những chiến tích lừng lẫy, có tác động lớn vượt ra ngoài phạm vi của một quốc gia, đã đươc chọn vào danh sách những vị tướng soái kiệt xuất thế giới in trong TNEB, một bách khoa toàn thư rất có uy tín, đã và đang được xuất bản ở 11 trung tâm văn hóa lớn của thế giới là niềm tự hào của dân tộc ta, niềm vinh quang cho Tổ quốc Việt Nam.
Xin dịch hai mục từ Võ Nguyên Giáp và Trần Hưng Đạo trong TNEB dưới đây để bạn đọc tham khảo
Là con của nhà nho có nhiệt tâm chống thực dân Pháp trở thành một thanh niên đấu tranh cho nền độc lập của Việt Nam Ông theo học ở trường Cao đẳng (TNEB nhầm đúng ra là Quốc học Huế) mà trước đó Hồ Chí Minh - lãnh tụ Cộng sản đã học. Cho tới năm 1926, ông tham gia Tân Việt Cách Mạng Đảng. Đảng cách mạng của thanh niên Việt Nam. Năm 1930, tích cực tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, ông bị mật thám Pháp bắt và kết án tù 3 năm, nhưng đã được trả tự do chỉ sau vài tháng.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Ông tiếp tục theo học trường Albert Sarraut ở Hà Nội và được nhận học vị cử nhân luật. Tiếp đó, ông dạy sử tại trường Thăng Long, nơi đây ông truyền bá cho nhiều giáo sư và học sinh quan điểm chính trị của mình. Năm 1938 ông kết hôn với Minh Thái và cùng nhau hoạt động trong Đảng Cộng sản Đông Dương. Đến năm 1939 Đảng bị cấm, ông chạy sang Trung Quốc còn vợ ông cùng với người chị bị cảnh sát Pháp bắt. Người chị vợ ông bị tử hình, còn vợ ông bị kết tù chung thân, sau giảm xuống 15 năm, nhưng bà đã chết trong ngục sau 3 năm bị giam cầm .
Năm 1941, liên kết với Chu Văn Tấn, một lãnh tụ du kích nguời Thổ (một dân tộc thiểu số ở Bắc Việt Nam), Võ Nguyên Giáp hy vọng xây dựng một đội quân chống Pháp và ủng hộ những mục tiêu chính trị của Việt Minh, chính phủ Việt Nam độc lập của Hồ Chí Minh. Cùng với Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 1945 Võ Nguyên Giáp tiến quân về Hà Nội và đến tháng 9 Hồ Chí Minh tuyên bố nền độc lập của Việt Nam với Võ Nguyên Giáp ở cương vị Bộ trưởng Nội vụ và Tổng chỉ huy quân đội…
Ông nổi lên như một nhà chiến lược và chiến thuật quân sự mang lại chiến thắng quyết định ở Điện Biên Phủ tháng 5 năm 1954 đưa đến sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân.
Khi đất nước bị chia cắt vào tháng 7, ông trở thành Phó thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang ở Bắc Việt Nam. Ông đã lãnh đạo các lực lượng quân sự của Bắc Việt Nam đánh thắng cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, đuổi quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam năm 1975. Năm 1976, hai miền nước Việt Nam thống nhất, ông lại là phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng. Ông còn là ủy viên chính thức Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, là tác giả sách “Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân”, một tác phẩm viết về chiến tranh du kích trên cơ sở kinh nghiệm bản thân ông.
* Trần Hưng Đạo, họ tên là Trần Quốc Tuấn, được phong là Hưng Đạo Vương (năm 1300), một gương mặt gần như huyền thoại của lịch sử Việt Nam, nhà chiến lược quân sự xuất sắc đã đánh thắng quân Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn, và là người anh hùng dân tộc trong nền văn hóa Việt Nam ngày nay.
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Vương triều Đại Việt bị quân Mông Cổ tiến công lần thứ nhất năm 1253. Khi Thành Cát Tư Hãn đòi tiến quân qua đồng bằng sông Hồng để đánh chiếm nước Trung Hoa từ hướng Nam, trong lời Hịch tướng sĩ đầy xúc động, tướng quân Trần Hưng Đạo đã kêu gọi quân đội đánh đuổi xâm lược vì sự thống nhất của Tổ quốc, ông ban bố cuốn Binh thư yếu lược, một cẩm nang về nghệ thuật quân sự. Trong lời tựa, ông phác ra tư tuởng Nho giáo về tinh thần trung quân, ái quốc và nghĩa vụ hy sinh chiến đấu thiêng liêng gần như là một bổn phận tín ngưỡng.
Sau một số trận thắng không quyết định, Hưng Đạo dụ hạm đội của quân Mông vào cửa sông Bạch Đằng năm 1288. Các chiến thuyền của Thành Cát Tư Hãn đã bị những cọc bịt sắt của quân nhà Trần cắm dưới mặt nước xé toạc và nhấn chìm, phỏng theo cách đánh của Ngô Quyền, một nhà quân sự lỗi lạc trước đó, năm 939.
Theo một số nguồn tư liệu, chiến dịch của Trần Hưng Đạo giành được thắng lợi là nhờ có sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân. Ông đã có công lớn trong việc truyền bá tư tưởng yêu nước trong nhân dân Việt Nam. Chính vì thế mà ông trở thành biểu tượng của Phong trào kháng chiến ở thế kỷ XX, bắt đầu từ cuộc kháng chiến chống Pháp.
(Dịch theo bản tiếng Anh trong TNEB Volume X, tái bản lần thứ 15)
Để kết thúc bài viết này, riêng về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ngoài việc khẳng định tên ông được ghi trong Tân Bách khoa toàn thư Anh, là một trong những vị tướng kiệt xuất trên thế giới, để bổ sung một số ý kiến trên, xin trích lời đánh giá vào cuối thế kỷ XX của nhà sử học quân sự Mỹ có tên tuổi Cecil B Currey, người đã viết ba tác phẩm về cuộc chiến tranh ở Việt Nam: Tự hủy diệt (1981), Người Mỹ không thầm lặng (1988), Chiến thắng bằng mọi giá (1997), người đã tiếp xúc với các nhà quân sự Mỹ lừng danh từng là đối thủ của Tướng Giáp:
“Bề ngoài lạnh lùng của ông (Võ Nguyên Giáp) che đậy một khí chất dữ dội khiến người Pháp mô tả ông là một ngọn núi lửa phủ tuyết.
… Ông không chỉ trở thành một huyền thoại mà còn là một trong những vị tướng tài năng nhất về chiến tranh nhân dân và là một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của tất cả các thời đại.
… Nếu Clausewits - chiến lược gia quân sự bậc thầy của nước Phổ - sống lại chắc hẳn phải kính cẩn cúi chào vị tướng này” (Sách: Chiến thắng bằng mọi giá. Chương 23: Đánh giá Cecil B Currey, NXB Brasseys Mỹ năm 1997.
Nghệ sĩ ưu tú Minh Hiến
Từ khi còn sinh thời, NSƯT Minh Hiến (Nguyễn Phước Bửu Hiến 1930-2004), nguyên giám đốc nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam, đã rất quan tâm đến những đánh giá đóng góp cùng như vị thế của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đặc biệt những ý kiến xung quanh việc “có hay không việc Võ Nguyên Giáp được có tên trong Tân Bách khoa thư của Anh quốc” là một trong những danh tướng kiệt xuất trên thế giới. Thậm chí có nguồn tin là hai vị tướng nước ta là Trần Hưng Đạo và Võ Nguyên Giáp đã được bầu chọn là hai trong mười vị tướng soái kiệt xuất thế giới đã không được quan tâm vì nhạy cảm.
Cho đến nay, dù đã muộn, sau đúng mười năm tác giả bài báo đã ra đi và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã mất, trên các phương tiện truyền thông cũng rất nhiều lần nhắc đến những đánh giá của các tướng soái, nhà sử học, nhà nghiên cứu về Đại tướng; thay mặt tác giả - là chồng tôi, tôi xin gửi đến bạn đọc những dòng, những trang tâm huyết của tác giả về Đại tướng Võ Nguyên Giáp để có thêm những tư liệu chứng cứ về sự đánh giá của thế giới về Đại tướng. Xin coi như một nén nhang thắp cùng tưởng nhớ đến Người anh hùng của dân tộc.
Nhà giáo Dương Bích Hồng

Khẩu chiến giữ Nga và Phương Tây


Những phát ngôn “bất hủ” trong trận chiến Nga - phương Tây

(Petrotimes) - Cùng với sức nóng của cuộc khủng hoảng Ukraine, cả giới ngoại giao, phân tích và truyền thông Nga - phương Tây đều có những phát ngôn có thể gọi là “kinh điển”, khá xa rời các chuẩn mực ngoại giao thông thường.
Đông đảo người dân theo dõi thông điệp gửi Quốc hội ngày 18/3 về tình hình Crimea của Tổng thống Putin qua truyền hình trực tiếp
“Trong vấn đề Crimea không có chỗ cho những cơn thần kinh”
Thông điệp gửi Quốc hội ngày 18/3 của Tổng thống Nga Vladimir Putin - câu trả lời của Nga cho cơn kích động của phương Tây nhân sự kiện bán đảo Crimea tham gia thành phần Liên bang Nga, cũng như vấn đề Crimea sẽ hội nhập vào nền kinh tế Nga như thế nào đã khiến truyền thông Nga nức lòng.
"Bài diễn văn Kremlin của ông Putin đã đặt dấu chấm cho cấu trúc thế giới hiện đại", báo Vedomosti nhận xét.
Tờ báo cũng trích dẫn ý kiến của nhà khoa học chính trị Dmitry Badovsky: Nhà lãnh đạo Nga đã “đề nghị cộng đồng quốc tế hãy bằng việc làm chứ không phải dùng lời nói chấm dứt giai đoạn đơn cực pha trộn chứng điếc cố hữu và những tham vọng của phương Tây, chấm dứt cơn cuồng loạn phát sinh vào thời điểm sụp đổ của Liên Xô do sự kết thúc không dứt khoát và thiếu sót của Chiến tranh Lạnh”.
Tờ Expert online thậm chí còn mỉa mai: “phương Tây vẫn còn có khả năng ngăn chặn cơn kích động thần kinh và thừa nhận rằng Nga đã, đang và sẽ có những quan tâm lợi ích quốc gia cần được tính đến. Vẫn còn cơ hội thỏa thuận với Moskva “và không sa vào cảnh tự tử trong cuộc xung đột với Nga vì không gian hậu Xô Viết”.
Bức ảnh chụp Đại sứ Mỹ tại LHQ Power tiến tới gần người đồng cấp Nga Churkin với điệu bộ sừng sổ, gay gắt trong khi đại diện Nga vẫn rất nhã nhặn. Không rõ ông Churkin đã nói gì nhưng theo bình phẩm của cư dân mạng, Đại sứ Nga đã nói: "Đồng chí Power, xin vui lòng không bắn nước bọt!"
“Đại sứ Mỹ tại LHQ đã tự hạ thấp mình đến cấp độ của một tờ báo rẻ tiền”
Tại cuộc họp Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (LHQ) hôm 19/3, về cuộc khủng hoảng Ukraine, sau khi Đại sứ Nga tại LHQ Vitaly Churkin bắt đầu cuộc họp của mình bằng cách ca ngợi hiệp ước Tổng thống Nga Vladimir Putin vừa ký, tuyên bố Crimea chính thức thuộc về Nga, một loạt Đại sứ của các nước phương Tây đã phản pháo.
Đại sứ Anh tại LHQ Mark Lyall Grant độp lại: “Đại diện thường trực của Nga đã nói quá trình này là phù hợp với luật pháp quốc tế , không có sự can thiệp bên ngoài và thông qua một tiến trình dân chủ. Thật khó để biết được trong ba khẳng định trên, đâu là lời nói dối lớn nhất.”
Trong khi đó, Đại sứ Mỹ tại LHQ Samantha Power gay gắt mỉa mai: “Nga được biết đến bởi nền văn học vĩ đại và những gì các bạn vừa nghe từ Đại sứ Nga cho thấy ông ta có trí tưởng tượng còn hơn cả Tolstoy hay Chekhov”.
Bà Power thậm chí còn đi xa hơn khi so sánh việc Nga quyết định sáp nhập Crimea vào Liên bang Nga giống với hành động ăn trộm: “Một tên trộm có thể ăn cắp tài sản nhưng hành động này không làm nên quyền sở hữu tài sản của hắn”.
Đại diện Mỹ tuyên bố: “Nga có vẻ như đã vẽ lại đường biên giới của mình nhưng sẽ không thể bịa đặt sự thật".
Đáp lại, Đại sứ Nga Churkin đã nhã nhặn nhắc nhở đại diện Mỹ về những gì ông gọi là nhận xét “quá mức”: “Bà Power đã bắt đầu với một tham chiếu đến Tolstoy và Chekhov nhưng sau đó lại kết thúc bằng cách hạ thấp mình đến cấp độ của một tờ báo rẻ tiền”.
Đại diện Nga cũng khẳng định: “Không thể chấp nhận được khi nghe những lời lăng mạ đến đất nước của chúng tôi”. Ông nói thêm: “Nếu các đoàn đại biểu Mỹ hy vọng vào sự hợp tác của chúng tôi về các vấn đề khác trong Hội đồng Bảo an thì bà Power phải hiểu điều này một cách rõ ràng”.
Linh Linh (tổng hợp)

Chính sách quốc phòng mới của Nhật Bản

Nhật sẽ bảo vệ châu Á trước Trung Quốc?

(PetroTimes) - Từ nay quân đội Nhật Bản được phép hành động quân sự để bảo vệ đồng minh và các nước bạn nào bị tấn công, dù chiến trường diễn ra ở nước ngoài, không nhất thiết phải là chiến tranh trên lãnh thổ, lãnh hải nước Nhật.
Năng lượng Mới số 338
Vì sao Nhật thay đổi học thuyết quân sự?
Ngày 1/7, Chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe đã thông qua dự thảo nghị quyết cho phép Nhật Bản sử dụng quyền “tự vệ tập thể”, tức là sửa Điều 9 bản Hiến pháp 1947 cấm Nhật Bản tham gia chiến dịch quân sự bên ngoài lãnh thổ. Sau quyết định của hành pháp, dự thảo sẽ đưa sang Quốc hội để biến thành luật. Theo đánh giá, với liên minh Tự do Dân chủ là đảng Komeito chiếm đa số tại Quốc hội, Thủ tướng Shinzo Abe sẽ không gặp khó khăn trong kế hoạch sửa đổi học thuyết quân sự.
Nghị quyết mới của nội các Nhật Bản nói rõ, Tokyo có thể sử dụng quân đội ở mức tối thiểu cần thiết trong các trường hợp khi một nước có mối quan hệ chặt chẽ với Nhật bị tấn công và phải đáp ứng 3 điều kiện cần và đủ bao gồm: có mối đe dọa thực sự với sự tồn tại của Nhà nước Nhật Bản, có mối nguy hiểm rõ ràng tới quyền sống, tự do, theo đuổi hạnh phúc của người dân Nhật và khi không còn một giải pháp thay thế nào khác.
Phát biểu tại cuộc họp báo sau đó, Thủ tướng Abe nói: “Hòa bình không phải là điều mà người ta mang lại cho mình mà chính là điều mà chúng ta phải tự tìm lấy” và nhấn mạnh rằng, sự chuyển hướng này là cần thiết để bảo vệ mạng sống của dân Nhật trong một môi trường an ninh đang ngày càng bị đe dọa trầm trọng. Ông Abe thêm rằng, tàu chiến Nhật cần phải có để bảo vệ tàu chiến Mỹ đang che chở cho nước Nhật.
Thủ tướng Nhật Shinjo Abe tại cuộc họp báo ở Tokyo ngày 1/7
Đây là một động thái đã được dự đoán từ lâu do những thách thức về an ninh trong khu vực thời kỳ mới mà Nhật Bản đang phải đương đầu. Quá trình bắt đầu từ hơn 20 năm trước, khi Nhật Bản đặt ra mục tiêu nâng cao vị thế quốc tế và trên hết, nâng cao vai trò chính trị của mình trong các tổ chức quốc tế, trong Liên Hiệp Quốc, trở thành không chỉ là một cường quốc kinh tế, mà còn có quyền lực chính trị lớn. 22 năm trước, một đạo luật về các tổ chức gìn giữ hòa bình được thông qua, cho phép các lực lượng vũ trang Nhật Bản tham gia nhiệm vụ quốc tế của Liên Hiệp Quốc. Không phải là ngẫu nhiên mà nghị quyết cho phép sử dụng lực lượng quân đội ở nước ngoài được thông qua ở thời điểm này. Hành động này phản ánh tính chất đặc thù của thời điểm hiện tại, khi Nhật Bản đang đối mặt với những thách thức và mối đe dọa an ninh. Điều đó có liên quan với các yếu tố quân sự - chính trị trong sự trỗi dậy của Trung Quốc và các tình tiết gia tăng căng thẳng trong tình hình trên bán đảo Triều Tiên.
Người ta có thể thấy chính Trung Quốc đã tiếp tay cho Thủ tướng Nhật thành công trong việc vận động diễn giải hiến pháp Nhật theo cách mới. Việc Trung Quốc gây hấn và có những hành động khiêu khích với Nhật đã khiến hầu hết dân chúng Nhật, tuy vẫn còn bị ám ảnh với hai quả bom nguyên tử, đều ý thức được rằng: Nếu Nhật không có biện pháp ngay từ bây giờ thì khi chiến tranh xảy ra Trung Quốc sẽ nắm phần chủ động trên mọi mặt.
Ngoài ra, sự sửa đổi học thuyết quân sự của Nhật lần này cũng một phần bắt nguồn từ Mỹ. Mặc dù Thủ tướng Abe vẫn ủng hộ cho việc tăng cường liên minh Nhật - Mỹ, nhưng đồng thời Tokyo không hài lòng với lời hứa đơn thuần từ phía Washington. Bởi, khi Bắc Kinh đơn phương tuyên bố thành lập vùng nhận diện phòng không trong vùng biển quốc tế ở biển Hoa Đông, bao gồm cả quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư), Washington rõ ràng không đứng về phía Nhật Bản, mà chỉ cố gắng giảm thiểu tình trạng này. Do đó, Nhật Bản muốn tự mình trở thành một đảm bảo nhất định cho sự ổn định trong khu vực và có thể dựa vào sức mạnh của chính mình.
Nhật Bản có thể làm được gì?
Mỹ, Philippines là hai nước đầu tiên lên tiếng ủng hộ việc Nhật Bản mở rộng vai trò của quân đội để bảo vệ đồng minh trong khu vực. Và không có gì khó hiểu khi Trung Quốc là nước phản đối gay gắt thay đổi này. Từ trước tới nay, Bắc Kinh vẫn luôn tin rằng Nhật không thể sửa đổi hiến pháp và Bắc Kinh muốn làm gì thì làm tại biển Hoa Đông và Biển Đông. Nhưng Trung Quốc không ngờ Nhật thay đổi được sự diễn giải hiến pháp, nên nếu Tokyo muốn hợp tác với Philippines hay với các nước ASEAN khác như một đồng minh giống như Mỹ, việc đó sẽ không bị trở ngại như trước.
Tại đối thoại Shangri-La vừa qua, Thủ tướng Abe xác định là sẽ ủng hộ tối đa nỗ lực bảo vệ vùng biển và vùng trời của những nước ASEAN đang có tranh chấp chủ quyền trên biển với Trung Quốc. Ông Abe cũng nói Nhật Bản sẽ nắm vai trò lớn hơn về an ninh quốc tế và nhấn mạnh với tất cả các nước dự hội nghị, trong đó có Trung Quốc, về sự cần thiết phải tôn trọng luật pháp quốc tế. Thủ tướng Nhật nói như vậy ngụ ý chỉ trích chính sách độc đoán của Trung Quốc. Ngay khi Tokyo được áp dụng chính sách quốc phòng mở rộng gọi là “quyền tự vệ tập thể” như vậy, liệu Nhật có lập liên minh quân sự với Philippines hay các thành viên khác của ASEAN và có thể can thiệp quân sự đối đầu với Trung Quốc một khi Bắc Kinh xâm lấn các đồng minh này hay không?
Trước hết, từ lúc còn vận động để thay đổi cách diễn giải hiến pháp, Thủ tướng Nhật đã xác định chính sách quốc phòng mới không có nghĩa là Nhật Bản sẽ lập tức đưa quân ra chiến trường. Nhưng chính sách mới nói về quyền tự vệ tập thể, tức quyền phòng thủ chung với các nước ngoài, cho phép Nhật Bản hành động quân sự để giúp một nước có hiệp ước đồng minh quân sự với Nhật và đó chính là hành động mở rộng phạm vi quốc phòng với quyền tự vệ tập thể.
Quân đội phòng vệ Nhật Bản từ nay có thể được gửi đi tham chiến, bảo vệ đồng minh
Một số quan chức cao cấp của Nhật có đề cập đến triển vọng Nhật có thể sẽ thực hiện quyền tự vệ tập thể với các nước khác ngoài Mỹ, bao gồm Philippines, Việt Nam, Malaysia và Indonesia. Tuy nhiên, quân đội Nhật chỉ được phép thực hiện quyền tự vệ tập thể với một quốc gia đồng minh mà Nhật có hiệp ước liên minh quân sự. Philippines thì chắc chắn sẵn sàng ký kết với Nhật, nhưng với các nước ASEAN khác còn chưa thể biết được.
Người ta cũng không dự kiến Trung Quốc sẽ có hành động quân sự đối với Philippines hay nước khác ở Biển Đông. Mục đích của Trung Quốc rõ ràng là xâm lấn chiếm lãnh hải, nhưng chiến thuật là một chiến thuật mềm hơn là gây chiến. Họ cứ giả bộ thăm dò, nghiên cứu để đem các giàn khoan đi cắm trong lãnh hải đặc quyền kinh tế của nước khác, kéo lê đi hết chỗ này đến chỗ kia, từ xa đến gần, rồi lại vừa đi vừa dặm quanh lãnh hải của người ta, như đang làm với 4 giàn khoan khác bên cạnh Hải Dương 981. Nhưng khi Trung Quốc không gây chiến bằng quân sự, Nhật hay Philippines cũng không có lý do gì để phản ứng bằng biện pháp quân sự.
Ở biển Hoa Đông thì Trung Quốc đe dọa bằng quân sự nặng nề hơn. Đây chính là điều quan tâm của Nhật khi mở rộng sự hiện diện quân sự và hoạt động quân sự ra các nước ngoài.
Trong khi đó thì Tokyo lại hòa hoãn với Bình Nhưỡng. Vậy chính sách quốc phòng “tự vệ tập thể” nhắm mục tiêu ở đâu, vào ai?
Thủ tướng Nhật từ trước đến trong và sau hội nghị Đối thoại Shangri-La đã nhấn mạnh nhiều lần vào tình hình tranh chấp ở Biển Đông với sự hiếu chiến và chính sách gây hấn của Trung Quốc. Nhật còn lập tức thỏa mãn yêu cầu của một số nước đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông bằng cách cung cấp những tàu tuần duyên đủ sức đương đầu với lực lượng hải cảnh, hải giám của Bắc Kinh.
Theo giới quan sát, việc thay đổi học thuyết quân sự làm tăng khả năng mở rộng hợp tác quốc phòng an ninh của Nhật với các nước trong khu vực vì nó chỉ có lợi cho Nhật trong việc đối phó với những thách thức từ Trung Quốc.
Từ nay quân đội Nhật Bản được phép hành động quân sự để bảo vệ đồng minh và các nước bạn nào bị tấn công, dù chiến trường diễn ra ở nước ngoài, không nhất thiết phải là chiến tranh trên lãnh thổ, lãnh hải nước Nhật.
Nhan Thạch