Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2017

Năm 2016-2017 trong “Thôi Bối Đồ” (2): Hé lộ về Tập Cận Bình


Tác giả: Lưu Hương Liên
[ChanhKien.org]
Tiếp theo phần 1
III. Quẻ tượng 53 trong Thôi Bối Đồ: Tập Cận Bình thay đổi triều đại?

Sấm viết:
Quan trung thiên tử
Lễ hiền hạ sĩ
Thuận thiên hưu mệnh
Bán lão hữu tử
Tạm dịch:
Vua ở Quan Trung (ở nơi giữa cửa)
Lấy lễ hiền với kẻ sĩ ở dưới
Thuận lòng trời sai khiến mệnh lệnh
Đến gần già mới có con.

Tụng viết:
Nhất cá hiếu tử tự tây lai
Thủ ác càn cương thiên hạ an
Vực trung lưỡng kiến tinh kì mĩ
Tiền nhân bất cập hậu nhân tài
Tạm dịch:
Có một đứa con hiếu nghĩa đến từ phía Tây
Cầm nắm lấy kỷ cương thiên hạ yên lành
Bờ cõi cờ quạt cả hai thấy đẹp đẽ
Người thời trước chẳng theo kịp được sự tài giỏi của người thời sau.
“Quan trung thiên tử”: Chỉ vùng đất Quan Trung xưa của nước Tần sinh ra thiên tử, tương đương với nguyên thủ của Trung Quốc hiện nay. Tập Cận Bình là người huyện Phú Bình, tỉnh Thiểm Tây, chính là người Quan Trung.
“Lễ hiền hạ sĩ” (hạ mình cầu hiền): Bình dị cận nhân – cận, bình, tức chỉ ra tên của Tập Cận Bình, lại nói rõ đặc điểm hạ mình cầu hiền của ông, kết hợp với “song vũ” trong “song vũ tứ túc” (双羽四足) ám chỉ chữ Tập “习” trong quẻ tượng trước đó, tên của Tập Cận Bình đã hoàn toàn xuất hiện trong Thôi Bối Đồ.
“Thuận thiên hưu mệnh”: Hàm nghĩa cực kỳ sâu sắc! Ý tứ của tầng thứ nhất: “hưu” có nghĩa là dừng, ngừng, thuận theo thiên tượng, thuận theo lẽ trời, khiến ai thôi mệnh? Cùng xem tiếp dưới đây.
“Thuận thiên hưu mệnh” còn có một tầng ý nghĩa sâu hơn: Chữ “hưu” (休) trong Thôi Bối Đồ là câu đố chữ hài âm (âm đọc gần giống hoặc giống nhau), ý chỉ chữ “tu” (修). Câu “Bất như thôi bối khứ quy hưu” trong tượng thứ 60 của Thôi Bối Đồ, thực tế là ý “Bất như thôi bối khứ quy tu”, sau khi xem giải thích toàn diện phía sau, mọi người sẽ có thể nhìn được nội hàm của tầng này.
“Bán lão hữu tử” (半老有子): Câu đố chữ, một nửa trên của chữ “lão” (老) cộng với chữ “tử” (子), là chữ “hiếu” (孝). Tập Cận Bình rất hiếu thuận, gia phong rất nghiêm. Nhưng đây chỉ là ý bề mặt, còn có hàm nghĩ sâu hơn nữa.
Một tượng này chính là nói Thiên tử, đứa con của Trời, lấy trời làm cha, hiếu tử phải hiếu thuận với Trời – thuận thiên ý, là ám chỉ Tập Cận Bình cần phải hành xử thuận theo thiên ý, hành động thuận theo thiên tượng.
Thuận theo thiên ý là làm gì? “Thuận thiên hưu mệnh”, kết thúc mệnh của ai đây?
“Nhất cá hiếu tử tự tây lai, thủ ác càn cương thiên hạ an” (có một đứa con hiếu nghĩa đến từ phía Tây, cầm nắm lấy kỷ cương thiên hạ yên lành): Hiếu tử là người Quan Trung, tỉnh Thiểm Tây, trong tay ông nắm giữ “càn khôn thiên đạo”, có thể an định thiên hạ – vẫn là điểm hóa nhắc nhở thiên tử cần phải hiếu thuận với Trời, thuận theo đạo Trời mà hành xử. Tập Cận Bình bẩm sinh tay nắm Càn Cương (phần chính của quẻ Càn), mang theo sứ mệnh mà đến, trong tiềm ý thức mới có giấc mộng thịnh thế của Trung Quốc.
“Vực trung lưỡng kiến tinh kì mĩ, tiền nhân bất cập hậu nhân tài”: Vùng Quan Trung đã xuất hiện hai lần lá cờ thiên tử, một lần đã thành tựu triều đại đỏ ĐCSTQ hôm nay ở Diên An, một lần nữa chính là thiên tử Quan Trung khai sáng triều đại mới, nhưng triều đại đỏ sẽ không bao giờ sánh được với triều đại mới.
Ở đây chính là đã có thể nhìn ra được hàm nghĩa “thuận thiên hưu mệnh” ở phía trên rồi, kết thúc mệnh của ai đây? Mệnh của triều đại đỏ – đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).
Đây thật là khiến cho những người đứng đầu ĐCSTQ phải giật mình run sợ! Chính là giống như người thống trị qua các triều đại, từ trong Thôi Bối Đồ đã nhìn thấy được sự diệt vong của triều đại này giống như vậy!
Liệu có phải là có sai sót ở chỗ nào hay không?
1. “Quan Trung thiên tử” nếu như không phải là chỉ Tập Cận Bình, vậy thì ai còn có thể “tay nắm Càn Cương” đây? “Lễ hiền hạ sĩ – “bình dị cận nhân”, rõ ràng đã hiển ra hai chữ “Cận”, “Bình”, nếu không phải ông ấy, thì còn có thể là ai đây?
2. “Thuận thiên hưu mệnh” nếu như không phải là thôi mệnh của ĐCSTQ, nhưng mà “lưỡng kiến kinh kỳ”, rõ ràng là đại biểu cho thay đổi triều đại, sao lại có thể nói đây không phải là thay triều đổi đại đây?
Đối diện với dự ngôn đạo Trời triển hiện, tập đoàn lợi ích của triều đại cũ chính là sẽ phản kháng theo bản năng. Nhưng thử hỏi ai có thể ngăn cản bánh xe xoay vần của lịch sử đi về phía trước đây?
Quẻ của tượng này: Đại Tráng, trên là quẻ Chấn, đại biểu cho Lôi; dưới là quẻ Càn, đại biểu cho Thiên (Trời), vậy nên quẻ Đại Tráng lại được gọi là “Lôi Thiên Đại Tráng”. Quẻ Đại Tráng này có nhiều tầng hàm nghĩa, một tầng ý nghĩa, ngụ ý chỉ Trung Hoa lúc này giống như sấm ở trên trời, thanh thế lớn mạnh. Còn dự ngôn sẽ mở ra thịnh thế Trung Hoa.
Liệu “giấc mộng Trung Hoa” của Tập Cận Bình có thực sự trở thành hiện thực?
Điều này có thể thực hiện hay không? Cần phải xem Tập Cận Bình có thể thuận theo thiên ý mà hành xử hay không? Nhưng dù thế nào, thì thịnh thế trong tương lai của Trung Quốc cũng không thể do ĐCSTQ thực hiện.
Sau đây chúng tôi sẽ lần lượt đưa ra 13 lần thịnh thế trong lịch sử Trung Quốc, mọi người có thể nhìn ra: Quy luật chung trong việc khai sáng nên một triều đại hưng thịnh. Thiên cơ đó đã vượt xa khỏi nhận thức và hiểu biết xưa nay:
  1. Văn Cảnh chi trị thời Tây Hán (lấy Đạo trị quốc, tôn sùng Đạo gia).
  2. Quang Vũ trung hưng thời Đông Hán (lấy Đạo trị quốc, tôn sùng Đạo gia).
  3. Hiếu Văn Đế trung hưng thời Bắc Ngụy (Thái Vũ Đế diệt Phật, Văn Thành Đế Thác Bạt Tuấn lập lại trật tự, phục hưng Phật Pháp, lập được công đức lớn mang lại hạnh phúc thái bình).
  4. Khai Hoàng chi trị thời nhà Tùy (Vũ Đế triều đại Bắc Chu diệt Phật, Dương Kiên dẹp loạn lập lại trật tự, công đức nhà Tùy chấn hưng Phật Pháp).
  5. Trinh Quán chi trị thời Trinh Quán, triều đại nhà Đường (Lý Uyên hạ chỉ diệt Phật diệt Đạo, Đường Thái Tông Lý Thế Dân lập lại trật tự, gây dựng công đức to lớn trong việc chấn hưng Phật Pháp).
  6. Thịnh Thế Khai Nguyên triều đại nhà Đường (Đường Thái Tông chấn hưng Phật Pháp khai sáng nên thịnh thế thiên triều, Đường Huyền Tông họa loạn Phật Đạo, thời đại hưng thịnh cuối cùng đã trở thành thời đại loạn lạc).
  7. Đại Trung chi trị, triều đại nhà Đường (Đường Vũ Tông diệt Phật, Đường Tuyên Tông kế nhiệm lập lại trật tự, phục hưng Phật Pháp, gây dựng công đức lớn).
  8. Cảnh Tông trung hưng nhà Liêu và Đại Liêu thịnh thế (công đức to lớn của Tiêu thái hậu thúc đẩy Phật Pháp hưng thịnh).
  9. Hàm Bình chi trị thời Bắc Tống (Sài Vinh nhà Hậu Chu diệt Phật, Triệu Khuông Dẫn lập lại trật tự, kết quả của công lao và ân đức của Bắc Tống trong việc đại hưng Phật Pháp).
  10. Hồng Vũ chi trị triều đại nhà Minh (Chu Nguyên Chương chỉnh đốn Phật giáo, công lao và ân đức to lớn trong việc đại hưng Phật Pháp).
  11. Vĩnh Lạc thịnh thế triều đại nhà Minh (công lao to lớn của Vĩnh Lạc đế Chu Đệ trong việc thúc đẩy chấn hưng Đạo Pháp)
  12. Nhân Tuyên chi trị triều đại nhà Minh (Đạo Pháp tiền triều hưng thịnh, công đức tạo phúc muôn dân).
  13. Khang Càn thịnh thế triều đại nhà Thanh (công lao và ân đức to lớn của vua Khang Hy trong việc đại hưng Phật Pháp)
Nếu như Trời không ban phúc, không có mưa thuận gió hòa, mà là thiên tai nhân họa không ngừng, mệt nhọc đối phó, dẫu cho có văn trị võ công cũng không gây dựng được thịnh thế thiên triều. Nhân gian có công đức to lớn, được Trời ban phúc phận, là căn bản của triều đại hưng thịnh, nhân tài đông đúc, văn trị võ công, cũng là Thiên thượng ban phúc, biểu hiện của thiện báo.
Từ những triều đại hưng thịnh được đề cập đến, chúng ta còn có thể thấy được rằng: Những triều đại hưng thịnh đó, trước tiên là triều đại mà nền tảng đạo đức hưng thịnh, Phật Pháp, Đạo Pháp đại hưng, khiến cho trong tâm của mỗi người đều tín Thần hướng thiện, ước thúc bản thân không làm chuyện xấu ngay từ trong tâm, đồng thời tích cực hành thiện. Toàn bộ xã hội đều ở trong trạng thái tốt đẹp như vậy, người người tuân theo pháp luật, thậm chí nhà ngục trống không. Đây là nền tảng đạo đức cơ bản của một triều đại hưng thịnh.
Còn ĐCSTQ hiện nay, đạo đức đã băng hoại đến mức độ nào? Chốn quan trường tham ô hủ bại khắp nơi, cứ như vậy đã đẩy xã hội Trung Quốc mất đi tín ngưỡng, chỉ còn biết chạy theo vật chất, dâm loạn, bất chấp cả luân thường đạo lý. Đạo đức bại hoại, án oan khắp nơi, thiên tai nhân họa không ngừng, Trời giận người oán, một chính quyền như vậy thử hỏi có thể đưa Trung Quốc đi đến hưng thịnh hay không? Tuyệt đối là không thể.
Cũng chính là nói, dẫu cho Trung Hoa xuất hiện triều đại hưng thịnh, thì nhất định phải có cơ chế lãnh đạo hoàn toàn mới, từ bỏ ĐCSTQ, cũng chính là “thuận thiên thôi mệnh” mà Thôi Bối Đồ triển hiện cho người đời.
“Thiên Lôi” trong quẻ tượng Đại Tráng này còn có một tầng ý nghĩa nữa. Theo cách nói trong quá khứ, ĐCSTQ hiện nay là “thiên lôi ở trên đỉnh đầu”. Chính là giống như những triều đại diệt Phật nói đến trong lịch sử Trung Quốc, “thiên lôi ở trên đỉnh đầu” lại “hồi quang phản chiếu”, nhất thời trông rất “cường thế”, nhưng thiên lôi đã sắp giáng xuống rồi.
Vì vậy, quẻ tượng 53 của Thôi Bối Đồ có lời phê của Kim Thánh Thán: “Lôi Thiên Đại Tráng”, điều được triển hiện chính là sấm sét đã vang lên, giáng xuống rồi, nhưng không làm bị thương Thiên tử. Thiên tử kim thiền thoát xác, thuận theo mệnh trời vứt bỏ ĐCSTQ, tay nắm Càn Cương, sẽ dẫn dắt Trung Hoa tiến nhập vào thời đại hưng thịnh. Cũng chính là nói, thiên số của một quẻ tượng này là điều ứng nghiệm trong tương lai.
Vậy thì hiện nay trước sau năm 2016, trong Thôi Bối Đồ có nhắc đến Tập Cận Bình là người nắm quyền của Trung Quốc hay không?
Câu trả lời là có! Nhưng chúng ta cần phải dựa theo Thôi Bối Đồ sau khi được quy chính trật tự, theo thứ tự triển hiện nội dung có liên quan với Tập Cận Bình, mới có thể nhìn được chân tướng rõ ràng. Chúng ta trước tiên hãy bắt đầu phân tích từ một quẻ tượng dự ngôn ĐCSTQ suy vong trước đã.
IV. Quẻ tượng 52 trong Thôi Bối Đồ: Trung Cộng suy vong (1986 – 2017) 
Quẻ tượng 52 trong quyển “Thôi Bối Đồ” có lời bình chú của Kim Thánh Thán, đến nay cơ bản đều đã được phá giải. Tuy nhiên trong các bài phân tích, một câu “Càn Khôn tái tạo tại Giác Cang”, mãi đều không được giải được, bởi ngày nay, thiên tượng học trong văn hóa truyền thống Trung Quốc trên cơ bản đã thất truyền.
Dưới đây, hãy đọc hiểu hoàn chỉnh của một quẻ tượng này:
Sấm viết:
Tuệ tinh sạ kiến
Bất lợi Đông Bắc
Củ củ hà chi
Chiêm bỉ lạc quốc
Tạm dịch:
Chợt thấy sao Tuệ
Chẳng lợi (ích nơi) Đông Bắc
Lủi thủi một mình làm chi
Nhìn xem nước bên cạnh vui thích

Tụng viết:
Sàm Thương nhất điểm hiện Đông phương
Ngô Sở y nhiên hữu đế vương
Môn ngoại khách lai chung bất cửu
Kiền Khôn tái tạo tại Giác Cang
Tạm dịch:
Một ngôi sao chổi nhỏ bé hiện ra ở phương Đông
Ngô Sở vẫn cứ như cũ có được đế vương
Khách đến ngoài cửa chẳng lâu sau
Kiền Khôn tạo lại (nơi ngôi sao)
Giác (Giốc) Kháng (Cang).

Bình chú của Kim Thánh Thán:
Thử tượng chủ Đông Bắc bị di nhân sở nhiễu, hữu thiên đô Nam phương chi triệu, Giác Kháng Nam cực dã, kì hậu hữu minh quân xuất, khu trục ngoại nhân, tái độ thăng bình
Tạm dịch:
Tượng này chủ nơi Đông Bắc bị người (nước) bên cạnh quấy rối, có triệu chứng dời kinh đô về phương Nam, sao Giác Cang ở cực Nam. Về sau có vua sáng xuất hiện, xua đuổi người ngoài, tái tạo yên bình.
1.Thiên tượng nhân gian
“Tuệ tinh sạ kiến, bất lợi Đông Bắc”: Chợt thấy sao Tuệ, chẳng lợi (ích nơi) Đông Bắc
Tuệ tinh (sao Tuệ), chỉ sao chổi Halley. Bài “Lỗ Văn Công 14 năm (năm 613 TCN)” trong Xuân Thu do Khổng Tử biên soạn cũng đã từng ghi chép qua nó: “Tháng 7 mùa thu, có Bội Tinh (sao Chổi rực sáng) đi vào Bắc Đẩu”. Các nhà thiên văn học hiện đại đã căn cứ theo thời gian và quỹ đạo này phán đoán là sao chổi Halley.
“Chẳng lợi Đông Bắc”: Chỉ Đông Âu và Liên Xô phía Bắc (Trung Quốc) bất lợi vào năm 1986. Sao Chổi Halley đến, bất lợi đối với phe cánh cộng sản màu đỏ ở Đông Âu, Liên Xô.
Tháng 02 năm 1986, sao chổi Halley xuất hiện. Tháng 03, Mikhail Sergeyevich Gorbachev – Tổng Bí thư của đảng cộng sản Liên Xô đã bắt đầu “cải cách tư duy mới” của ông, phe cánh cộng sản quốc tế nổi lên cơn gió dân chủ, tự do. Năm 1989, khối Đông Âu có biến đổi lớn, 8 quốc gia thuộc phe cánh cộng sản màu đỏ đã từ bỏ xã hội chủ nghĩa. Năm 1991, Liên Xô giải thể, đảng cộng sản Đông Âu đã sụp đổ hoàn toàn. Chín quốc gia ngoan cố với chính quyền đảng cộng sản này đã sụp đổ, xu thế chủ nghĩa cộng sản quốc tế đã thành tàn cục, chính như một quẻ tượng dự ngôn khác trong “Thôi Bối Đồ”:
“Lỗi lỗi lạc lạc, tàn kỳ nhất cục (nhất lỗi tam thạch, tam tam kiến cửu)”
Tạm dịch:
“Hỗn độn rối ren, một ván (cờ) dang dở ( Nhất lỗi (磊) tam thạch (石), ba ba thấy chín).”
Dưới thiên tượng khai mở của sao Chổi này, phong trào sinh viên năm 1986 ở Trung Quốc Đại Lục, Hồ Diệu Bang rớt đài; phong trào sinh viên năm 1989, Triệu Tử Dương bị giam lỏng.
Mặt Trời phía trên quân vương trong đồ hình, trùng khớp với tên Triệu Tử Dương.
“Củ củ hà chi, chiêm bỉ nhạc quốc”: Lủi thủi một mình làm chi? Nhìn xem nước bên cạnh vui thích.
Một mình đi đâu đây? Đi đến vương quốc tinh thần của mình. Chỉ Triệu Tử Dương rớt đài, lủi thủi đi một mình, hiến thân vì lý tưởng.
Triệu Tử Dương bởi phản đối cuộc đàn áp sinh viên đòi dân chủ năm 1989, bị giam lỏng trước khi diễn ra “đại thảm sát ngày 04 tháng 06” ở Bắc Kinh, mãi đến ngày 17 tháng 01 năm 2005 qua đời, Triệu Tử Dương quyết chí không đổi, không cúi đầu trước chính quyền cộng sản Trung Quốc bạo ngược.
“Sàm Thương nhất điểm hiện Đông phương”: Sao Sàm Thương hiện ra một điểm ở phương đông.
“Sàm Thương”: sao Sàm Thương, cách gọi khác đối với sao Chổi thời xưa, trong thiên tượng tượng trưng cho chiến loạn.
Nhìn từ trên mặt chữ, chính là có thể hiểu được rằng đây là chỉ “nổ súng trong cuộc đại thảm sát ngày 04 tháng 06 năm 1989”, phong trào sinh viên đòi dân chủ bị những người đứng đầu chính quyền cộng sản Trung Quốc nổ súng đàn áp. Nhưng trước đó, mọi người lại nhìn không nhìn ra được, bởi vì những người am hiểu cổ văn, sẽ lý giải “Sàm Thương” là sao Chổi, tương ứng với “Huệ tinh sạ kiến” trong câu sấm.
“Ngô Sở y nhiên hữu đế vương”: Ngô Sở vẫn có đế vương như cũ
Câu này chỉ Giang Trạch Dân sau “sự kiện thảm sát mùng 04 tháng 06” năm 1989 đã dẫm đạp lên máu tươi của những người tiên phong thúc đẩy dân chủ leo lên đến vị trí quyền lực cao nhất. Giang Trạch Dân sinh ở Dương Châu, là vùng đất Ngô Sở thời cổ đại.
“Môn ngoại khách lai chung bất cửu”: Khách ngoài cửa đến chẳng được lâu
“Khách”: Trong “Thôi Bối Đồ” chỉ ngoại tộc, nước khác. Ví như quẻ 7 trong “Thôi Bối Đồ” dự ngôn Thổ Phiên xâm lược triều Đường: “Phá quan khách sạ lai, đẩu lệnh Trung Nguyên khốc” (tạm dịch: phá quan khách chợt đến, Trung Nguyên bỗng khóc vang), “khách” trong quẻ tượng đó chỉ Thổ Phiên.
“Khách ngoài cửa đến” trong quẻ tượng này là chỉ đảng cộng sản “bóng ma của phương tây” —- nước Đức khởi nguồn, Liên Xô cải tiến, Trung Quốc kế thừa, ban đầu chính quyền cộng sản Trung Quốc thành lập được gọi là “Trung Hoa Xô-Viết”, ngụ ý là chỉ chính quyền cộng sản theo kiểu Liên Xô ở Trung Hoa, dựa theo mô hình của Xô-Viết.
“Bóng ma phương tây”: Câu đầu tiên của Các-mác trong “Tuyên ngôn cộng sản” chính là: “Một bóng ma, bóng ma của chủ nghĩa cộng sản, đang bao trùm trên bầu trời của châu Âu”. Câu này chỉ chính quyền màu đỏ đến từ bên ngoài cuối cùng sẽ không được dài lâu.
“Càn Khôn tái tạo tại Giác Cang”
“Giác Cang”: “Giác”, “Cang” đều là nằm trong bảy chòm sao thuộc Thanh Long ứng với phương đông trong nhị thập bát tú. Đây là điều mọi người đều biết, nhưng mà, các cách giải thích trước đây đều không tìm ra được chân cơ của tầng sâu hơn.

“Càn Khôn tái tạo tại Giác Cang”: Cách giải thích ngắn gọn dễ hiểu nhất chính là “năm tại Giác Cang”, năm tuổi ở Giác Cang, suy rộng ra một chút, chính là: Tuế tinh (sao Mộc) ở vị trí hai chòm sao Giác Cang, chỉ đoạn thời gian cuối năm 2016 đến cuối năm 2017, giống như trong hình trên.
2.Kỷ niên sao Mộc
Tuế tinh, là cách gọi của Trung Quốc cổ đại đối với sao Mộc, bởi vì sao Mộc vận hành phía trên bầu trời sao, chu kỳ vận hành một vòng gần 12 năm (11,862 năm). Trong đồ hình thiên tượng của Trung Quốc cổ đại, căn cứ theo phạm vi chung quanh bầu trời sao, theo góc độ bình quân chia thành 12 Tinh thứ: Tinh Kỷ (星纪), Huyền Hiêu (玄枵), Cư Tư (娵訾), Giáng Lâu (降娄), Đại Lương (大梁), Thực Thẩm (实沈), Thuần Thủ (鹑首), Thuần Hỏa (鹑火), Thuần Vĩ (鹑尾 ), Thọ Tinh (寿星), Đại Hỏa (大火), Tích Mộc (析木). Mười hai Tinh thứ này không giống với 12 cung hoàng đạo (12 chòm sao) của phương tây.

Trung Quốc cổ đại phân chia bầu trời sao thành 12 Tinh thứ, ranh giới của nó đối ứng với 28 chòm sao (nhị thập bát tú).
Vì sao Mộc mỗi một năm tuổi cần phải đi qua một Tinh thứ, một vòng gần 12 năm, vậy nên gọi sao Mộc là Tuế tinh. Tuế tinh có thể làm một loại ghi chép thời gian trong niên đại sự kiện, đây chính là kỷ niên Tuế tinh.
“Võ Vương phạt Trụ, Tuế tinh ở Thuần Hỏa”, đây là thiên tượng trong Võ Vương phạt Trụ được ghi chép trong Quốc Ngữ: Tuế tinh (sao Mộc) vận hành đến phạm vi Thuần Hỏa trong 12 Tinh thứ, thời đó Võ Vương thảo phạt Thương Trụ Vương.
3.Tuế tinh ở Giác Cang
“Tuế tại Giác Cang”, giải thích dễ dàng dễ hiểu nhất chính là sao Tuế di chuyển trong phạm vi của chòm sao Giác, chòm sao Cang.
Thiên tượng học của Trung Quốc cổ đại, lấy sao Bắc Cực làm trung tâm, phân chia thành 3 viên 28 tú (3 bức tường 28 chòm sao), trong đó 7 chòm sao Thanh Long phía đông là: Giác (角), Cang (亢), Đê (氐). Phòng (房), Tâm (心), Vĩ (尾), Cơ (箕). Giác, Cang là đứng đầu của chòm sao Thanh Long.

Hình vẽ thiên tượng học của Trung Quốc cổ đại bầu trời sao thành ba viên 28 tú (ba bức tường 28 chòm sao).
Chúng ta hãy xem đồ hình thiên tượng này:

Đồ hình giải thích ẩn đố của thiên tượng năm 2016 – năm 2017 trong cuốn sách tiên tri nổi tiếng “Thối Bối Đồ”
Tuế tinh vào khoảng ngày 15 tháng 11 năm 2016 di chuyển vào phạm vi sao chòm sao Giác, và sau đó Tuế tinh di chuyển ở lại chòm sao Giác, rồi sau đó di chuyển ngược và dừng lại bức tường Thái Vy (太微垣), sau đó di chuyển xuôi đi xuyên qua chòm sao Giác (角宿), chòm sao Cang (亢宿), thời gian rời khỏi chòm sao Cang, là khoảng ngày 05 tháng 12 năm 2017, vậy nên sao Tuế trong thời gian ở Giác Cang, chính là khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 12 năm 2017, trong phạm vi thời gian này, chính là Càn Khôn tái tạo (trời đất được tạo lại mới).
4.Càn Khôn tái tạo diệt Trung Cộng, huỳnh hoặc thủ tâm xem thiên tượng
“Huỳnh hoặc thủ tâm” là hiện tượng sao Hỏa (huỳnh hoặc) di chuyển đến gần ba ngôi sao Tâm Túc và dừng lại một thời gian.
Quẻ tượng này trong “Thôi Bối Đồ” là nói về khí số của triều đại đỏ. Hai cầu mở đầu “Huệ tinh sạ kiến, bất lợi đông phương”, giảng hoàn cảnh quốc tế bắt đầu từ năm 1986, chính quyển đảng cộng sản Liên Xô phía bắc (Trung Quốc) và Đông Âu hoàn toàn sụp đổ và giải thể, sau đó nói đến phong trào sinh viên mùng 04 tháng 06 năm 1989 ở Trung Quốc, sau đó bị ĐCSTQ trấn áp dã man, nói ĐCSTQ “bóng ma phương tây” này là “khách ngoài cửa sẽ không lâu dài”, và “Càn Khôn tái tạo tại Giác Cang”, đối ứng với cuối năm 2016 đến năm 2017, cũng là là thời kỳ mà ông Tập Cận Bình nắm quyền.
Đây cũng hoàn toàn ăn khớp với quẻ tượng 53 trong “Thôi Bối Đồ” được giảng trước đó: “Thiên tử Quan Trung thuận thiên thôi mệnh, thay đổi kinh kỳ thiên hạ an định”.
Năm 2016, quỹ đạo của Tuế tinh (sao Mộc) triển hiện, thiên tượng “Càn Khôn tái tạo tại Giác Cang” này vốn không phải là cô lập, mà là chặt chẽ gắn liền với “huỳnh hoặc thủ tâm” – thiên tượng nổi tiếng hung hiểm nhất của Trung Quốc cổ đại này với năm 2016.
Phía sau chúng ta hãy xem thử: ngày 24 tháng 03 đến ngày 30 tháng 08 năm 2016, cảnh tỉnh của thiên tượng huỳnh hoặc thủ tâm.
V.Thiên tượng hung hiểm trong năm 2016: Huỳnh hoặc thủ tâm 

1.Giới thiệu sơ lược về “Huỳnh hoặc thủ tâm”
Huỳnh hoặc thủ tâm là thiên tượng quan trọng nhất, hung hiểm nhất trong thiên tượng học của Trung Quốc cổ đại.
Theo đó, “Huỳnh hoặc thủ tâm” là hiện tượng sao Hỏa di chuyển đến gần ba ngôi sao Tâm Túc và dừng lại một thời gian. “Huỳnh hoặc” là cách gọi của Trung Quốc cổ đại. Sao hỏa lấp lánh (hỏa tinh huỳnh huỳnh), màu sắc ửng đỏ, quỹ đạo biến hóa khó xác định, bởi vậy được gọi là “Huỳnh hoặc”. Huỳnh hoặc là Phạt tinh (ngôi sao xử phạt) trong thiên tượng học, đại biểu binh đao loạn lạc, chết chóc tai ương, v.v…Trong tinh tướng học của Tây phương, sao Hỏa cũng đại biểu cho chiến tranh, chết chóc, Trời phạt.
Trái Đất quay từ Tây sang Đông, vì vậy nhật nguyệt tinh tú nhìn thấy được đều là mọc từ phương Đông, lặn ở phương Tây, đây là di chuyển thuận (xuôi) của các vì sao.
Nhưng nhìn từ trên mặt đất, ngôi sao cũng sẽ có lúc di chuyển ngược. Lấy sao Hỏa làm ví dụ, Trái Đất trên quỹ đạo quay quanh Mặt trời, khi đến gần sao Hỏa, nếu đứng ở trên Trái Đất mà nhìn, tốc độ quay quanh Mặt trời của Trái Đất nhanh hơn sao Hỏa, vì vậy nhìn thấy sao Hỏa lùi lại phía sau trên nền bầu trời sao; giống như khi chúng ta ngồi trên xe tốc hành, nhìn thấy những chiếc xe chạy chậm đi về trước cũng đang “lùi lại phía sau”, đây chính là “di chuyển ngược”.
Tốc độ vận hành của sao Hỏa chậm lại trên diện rộng, dừng lại không chuyển động ở chỗ điểm cong, quá trình này được gọi là “dừng lại theo chiều vận chuyển xuôi”, “dừng lại theo chiều vận chuyển ngược”. “Dừng lại” tiếp cận một chòm sao nào đó, thì gọi là thủ (coi giữ) chòm sao đó. Ví như Huỳnh hoặc thủ tâm, Huỳnh hoặc thủ Phòng, thủ Đê, thủ Vĩ ….. chính là nói về việc sao Hỏa lưu lại ở khu vực các chòm sao khác nhau.
Chòm sao Tâm Túc phạm vi nhỏ nhưng quan trọng nhất. Chòm sao Tâm Túc có ba ngôi sao, sao Tâm Đại ở chính giữa (Tâm Túc 2) là sáng nhất, tượng trưng cho đế vương, quân chủ; sao Tâm Tiền ở phía trước (Tâm Túc 1) tượng trưng cho thái tử; sao Tâm Hậu ở phía bên dưới (Tâm Túc 3) tượng trưng cho con thứ (con vợ lẽ).
“Huỳnh hoặc thủ tâm”, chính là sao Hỏa ở trong phạm vi của chòm sao Tâm Túc. Đây là thiên tượng đại hung không thường phát sinh. Bởi vì sao Hỏa là Phạt tinh tượng trưng cho tử nạn, vì vậy dừng lại coi giữ ở vị trí chòm sao Tâm Túc tượng trưng cho thiên tử, thì sẽ cấu thành kiếp nạn hung hiểm của thiên tử.
Đại Đường Khai Nguyên Chiêm Kinh nói đến thiên tượng này, ngụ ý: “Bề tôi thay đổi triều chính, vua chúa rời khỏi cung điện của mình”; “thiên tử mất đi địa vị”; “đại thần làm phản, mưu đồ cướp ngôi”.
“Thiên Quan Thư” trong Sử ký có viết: “(Sao Hỏa) xâm phạm, coi giữ chòm sao Phòng, sao Tâm; vương giả ắt gặp nạn”.
Chương “Ngũ Tinh Chiêm” của sách lụa trong ngôi mộ cổ thời Hán ở gò Mã Vương thì nói rằng: “(Sao Hỏa) gặp sao Tâm Túc, thì là áo tang, ở phương Bắc hay ở phương Nam, đều là tử vong chết chóc…”.
Có thật sự đáng sợ như vậy không? Vào thời cổ đại xác thực là như vậy, thiên tượng “Huỳnh hoặc thủ tâm”, khiến cho thiên tử khiếp đảm rùng mình, bởi vì gần như không có ai có thể thoát khỏi kiếp nạn.
Con người trong xã hội ngày nay lại cười nhạo người xưa ngu muội, không phải là bởi vì người thời nay thông minh hiểu biết hơn, mà là bởi vì không hiểu được hàm ý của thiên tượng “Huỳnh hoặc thủ tâm”. Lại từng có học giả tuyên bố rằng: Trung Quốc cổ đại 23 lần “Huỳnh hoặc thủ tâm” thì có 17 lần là giả, cho rằng “Huỳnh hoặc thủ tâm” là thiên tượng giả tạo. Cách nói vô cùng sai lầm, đã khiến các học giả nghi ngờ và phủ định điều này. Theo đó sai lại càng sai khi người ta không ngừng lan truyền và biến nó trở thành “bằng chứng lý luận” trong việc phủ định ý nghĩa thiên tượng của “Huỳnh hoặc thủ tâm”.
2.Lời đồn nhảm năm 2001, đánh lừa dư luận quên hung hiểm 
Cách nói “Huỳnh hoặc thủ tâm” vào năm 2001 đã được lưu truyền rộng rãi trên khắp thế giới, đã được viết vào Wikipedia, nghiễm nhiên đã trở thành tri thức khoa học phổ cập.
Tuy nhiên nếu chúng ta xác định vị trí của tấm hình đồ hình “Huỳnh hoặc thủ tâm” năm 2001 đã lưu truyền rộng rãi đó, thì có thể phát hiện đây là một chiêu trò đánh lừa dư luận.

Đồ hình gốc cố ý không ghi rõ “chòm sao Vĩ” (尾宿) và giới hạn, chế tác thành huỳnh hoặc thủ “Tâm” ().
Nguyên tấm hình được vẽ rất chuyên nghiệp, nhưng cũng rất “chuyên nghiệp” trong việc ẩn đi chòm sao Vĩ (尾宿), cũng không vẽ ra hai đường ranh giới hướng thẳng của hai chòm sao, khiến người ta lúc đầu vừa nhìn thấy sao Hỏa (火星) di chuyển ngược lưu thủ (dừng lại coi giữ) trong phạm vi của sao Tâm Túc (心宿). Kết quả xử lý như vậy, khiến cho “Huỳnh hoặc thủ Vĩ” vốn không nổi tiếng gì, đã biến thành “Huỳnh hoặc thủ tâm” danh tiếng vang xa.
Cái chiêu trò chuyên nghiệp này đã mê hoặc đánh lừa thế gian, khiến người ta cảm thấy: Thì ra huỳnh hoặc thủ tâm vốn không đáng sợ như vậy. Giang Trạch Dân người đứng đầu ĐCSTQ lúc bấy giờ chưa chết, vậy nên vội quy kết rằng cách nói của người xưa là ngu muội. Đây vừa khéo là bị “đồ hình thiên tượng Huỳnh hoặc thủ tâm năm 2001” ngụy tạo đánh lừa, nghe nhìn lẫn lộn.
3.Huỳnh Hoặc thủ Đê, gian thần xuất hiện, quân vương tử vong 
Thiên tượng từ ngày 24 tháng 03 đến ngày 30 tháng 08 năm 2016, trên tổng thể đều gọi là “Huỳnh hoặc thủ tâm”. Ngày 24 tháng 03 đến ngày 11 tháng 05 là đi thuận chiều coi giữ chòm sao Tâm Túc, và sau đó bắt đầu đi ngược chiều coi giữ chòm sao Đê – coi giữ chòm sao Đê cũng là một thiên tượng hung hiểm.
“Thiên Văn chí”, Hán Thư nói rằng: “Huỳnh hoặc đi vào trong Đê; Đê là cung của thiên tử; Huỳnh Hoặc đi vào, ngụ ý là có tặc thần (gian thần)”.
Đại Đường Khai Nguyên Chiêm kinh nói rằng: “(Chòm sao) Đê là cung của thiên tử, Phạt tinh đi vào, là điềm không lành, phòng thủ đất nước, quân chủ gặp tử nạn”.
Năm 195 TCN, “Huỳnh hoặc thủ Đê”, Hán Cao Tổ Lưu Bang băng hà. Tặc thần đi vào cung điện thiên tử hiển nhiên là Lã Hậu. Lưu Bang chết, Lã Hậu nắm quyền, để cho con trai ruột của bà là Lưu Doanh lên ngôi. Bảy người con trai khác của Lưu Bang, Lã  Hậu chỉ để lại đứa con nuôi của mình là Lưu Trưởng và Lưu Hằng (Hán Văn Đế sau này) vốn không được thương yêu, những người còn lại đều bị bà hại chết…
“Thiên Văn chí”, Hán Thư viết rằng: “Mùa xuân năm Cao Tổ thứ 12 (năm 195 TCN), Huỳnh Hoặc thủ Tâm, tháng 4 Cao Tổ băng hà” – Đây là ngụy tạo của lịch sử. Bởi vì Tần Thủy Hoàng là Chân Long Thiên tử, Tổ Long được công nhận, ông ấy chết bởi thiên tượng “Huỳnh hoặc thủ Tâm”, vì để “chứng tỏ” địa vị thiên tử chính thống của Lưu Bang, liền đem thiên tượng khi Lưu Bang chết ngụy tạo thành “Huỳnh hoặc thủ Tâm”. Dùng phần mềm thiên văn Stellarium thông dụng ngày nay để kiểm chứng, thiên tượng khi Lưu Bang chết là “Huỳnh hoặc thủ Đê” (sao Hỏa dừng lại trong chòm sao Đê), thiên tượng như đồ hình dưới đây.

Đồ hình thiên tượng năm 195 TCN: Huỳnh hoặc ở lại chòm sao Đê (荧惑守氐宿). Năm đó Lưu Bang chết.
Bởi vì thời xưa cơ bản không thể suy đoán thiên tượng một cách chuẩn xác, vậy nên cứ mãi cho rằng Lưu Bang giống như Chân Long Thiên Tử Tần Thủy Hoàng, chết bởi thiên nạn “Huỳnh hoặc thủ Tâm”, không biết rằng đó là “Huỳnh hoặc thủ Đê”. Khai Nguyên Chiêm kinh triều Đường nói “Huỳnh hoặc thủ Đê là quân vương chết”, không phải gán ghép cho Lưu Bang, mà đây là quẻ tượng độc lập.
“Huỳnh hoặc thủ Đê” có tặc thần, quân vương chết, trong lịch sử còn có không ít ví dụ chân thật để nghiệm chứng, ở đây không đưa thêm nữa. Mức độ hung hiểm của “Huỳnh hoặc thủ Đê” mỗi lần không giống nhau, nhưng đều không sánh được với “Huỳnh hoặc thủ Tâm”. Hơn nữa có nhiều lúc nó là thiên tượng phụ theo “Huỳnh hoặc thủ Tâm”, sẽ tăng thêm hung hiểm của “Huỳnh hoặc thủ Tâm”.
“Huỳnh hoặc thủ Tâm” năm 2016, vị trí hướng thẳng của sao Hỏa đặc biệt gần với sao Tâm Túc, thêm vào đó là nguy hiểm đáng sợ của “Huỳnh hoặc thủ Đê”, khiến cho thiên tượng trong năm nay, nguy hiểm bậc nhất từ xưa đến nay.
Thiên nhân hợp nhất (người và trời hòa làm một), sự kiện lớn nhất như vậy, ắt sẽ đối ứng với hiện tượng thiên thượng lớn nhất. Đó là chuyện gì đây? Chúng ta còn cần phải nhìn lại tội ác lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
Xem tiếp Phần 3
Dịch từ: http://www.zhengjian.org/2016/08/01/153979.《推背图》中的2016-17、圣人、“中国梦”二.html

Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2017

Thành phố Petaluma, bang California: Đoàn nhạc Tian Guo biểu diễn tại Lễ Diễu hành kỷ niệm ngày Bơ và Trứng


Bài viết của Vương Anh, phóng viên báo Minh Huệ
[MINH HUỆ 30-4-2017] Ngày 29 tháng 4 năm 2017, tại thành phố Petaluma, bang California, Đoàn nhạc Tian Guo đã tham dự Lễ hội Diễu hành kỷ niệm ngày Bơ và Trứng lần thứ 36. Khán giả nồng nhiệt đón chào Đoàn nhạc và Ban tổ chức Lễ hội đã mời Đoàn nhạc quay trở lại vào năm tới. Các nhạc sỹ trong Đoàn nhạc Tian Guo đều là người tu luyện Pháp Luân Công.
2017-4-29-ca-petaluma-parade_01--ss.jpg
Đoàn Pháp Luân Đại Pháp trong Lễ Diễu hành
2017-4-29-ca-petaluma-parade_02--ss.jpg
Đoàn nhạc Tian Guo
2017-4-29-ca-petaluma-parade_04--ss.jpg
Khản giả nồng nhiệt chào đón màn biểu diễn của Đoàn nhạc Tian Guo
Thành phố Petaluma nằm ở phía Bắc San Francisco và rất nổi tiếng với những sản phẩm chế biến từ bơ sữa. Lễ hội kỷ niệm Ngày Bơ và Trứng thường niên càng làm nổi bật nét đặc trưng này của Petaluma.
Có tổng cộng 135 nhóm tham gia Lễ diễu hành. Đây là lần đầu tiên Đoàn nhạc Tian Guo có mặt trong Lễ Diễu hành này. Hơn 30,000 khán giả đã xem Lễ Diễu hành. Họ tặng những tràng pháo tay nồng nhiệt khi Đoàn nhạc biểu diễn. Nhiều người đã vẫy tay theo tiếng nhạc.
Khi Đoàn nhạc đi qua khu vực sân khấu, người dẫn chương trình giới thiệu: “Đoàn nhạc Tian Guo đến từ San Francisco. Họ tham gia tại các lễ hội diễu hành ở Canada và Mỹ. Thành viên của đoàn nhạc là các học viên Pháp Luân Công. Nguyên lý của Pháp Luân Công là Chân-Thiện-Nhẫn. Cảm ơn Đoàn nhạc Tian Guo đã tham gia vào lễ diễu hành này tại nơi đây, tại thành phố Petaluma này.”
2017-4-29-ca-petaluma-parade_06--ss.jpg
Ông Brent Ferris, nhà tổ chức lễ diễu hành
Nhà tổ chức lễ diễu hành: “Màn trình diễn của đoàn nhạc thật tuyệt vời”
Ông Brent Ferris, nhà tổ chức Lễ diễu hành nhận xét về phần trình diễn của Đoàn nhạc Tian Guo. Ông nói: “Họ thật tuyệt vời! Tôi thích trang phục của họ, và màn biểu diễn của họ thật đáng kinh ngạc.”
Ông Ferris nói ông mong đoàn nhạc sẽ quay trở lại vào năm tới.
2017-4-29-ca-petaluma-parade_07--ss.jpg
Giám khảo Lễ diễu hành Diane (bên trái) và Elece Hempel (bên phải)
Cô Elece Hempel, giám khảo Lễ Diễu hành, hào hứng nhận xét: “Họ thật tuyệt vời. Tôi đã dành vị trí đầu tiên trong bảng đánh giá của mình cho Đoàn nhạc Tian Guo. Hôm nay, tôi rất vui khi được xem họ biểu diễn.”
Bà nói rằng Đoàn nhạc được đầu tư rất kỹ lưỡng và hy vọng họ sẽ quay trở lại vào năm tới.
Một giám khảo khác nhận xét rằng: “Họ rất chuyên nghiệp. Màn biểu diễn của họ rất tuyệt vời.”
Khán giả rất thích buổi biểu diễn
Giám khảo Linzy nhận xét: “Đoàn nhạc Tian Guo rất tuyệt vời. Các biễu ngữ và trang phục của họ cũng rất tuyệt.” Khi nghe nói đến cuộc bức hại Pháp Luân Công ở Trung Quốc, cô nói: “Thật đáng buồn. Cuộc đàn áp này là một sai lầm.”
Cô Amy mới chuyển đến Petalunma vỗ tay lớn tán thưởng khi thấy Đoàn nhạc Tian Guo. Cô nói: “Đoàn nhạc thật tuyệt vời. Tôi rất thích họ. Âm nhạc của họ rất giàu âm điệu. Đúng là một đoàn nhạc vĩ đại.” Cô cũng rất vui khi tìm hiểu về Pháp Luân Công.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2017/4/30/346424.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2017/5/1/163046.html
Đăng ngày 6-5-2017; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản

Từ thiên tượng kim cổ thấy được tiến trình kéo dài của tu luyện Chính Pháp (Phần 1)


Dự báo thiên tượng, nhân gian có biến động khác thường
Bài viết của Thánh Duyên
[MINH HUỆ 27-1-2017] Thời gian tu luyện của chỉnh thể Đệ tử Đại Pháp được Sư phụ kéo dài hết lần này tới lần khác. Rất nhiều đệ tử Đại Pháp biết trân quý, tinh tấn không ngừng; nhưng cũng có không ít người, mỗi khi nghe Chính Pháp sắp kết thúc thì tranh thủ thời gian, nhiệt huyết sục sôi, nhưng sau đó lại trễ nải, cứ lặp đi lặp lại vài lần như vậy, càng ngày càng trễ nải: Điều này thực ra là do hiểu lầm Đại Pháp nên không thể hoàn toàn tín Sư tín Pháp. Cũng có rất nhiều đệ tử, thậm chí là người ngay bên cạnh Sư phụ cũng bán tín bán nghi về việc này, cũng đã xuất hiện việc dao động về đại viên mãn, từ đó trễ nải và sa vào cảnh “trung sỹ văn đạo”. Lại có không ít người lại ngộ sai rằng đây là “Lời hứa sáo rỗng không thể thực hiện được” nên đã bị động vứt bỏ tu luyện Đại Pháp hoặc bước sang phía phản diện.
Trở ngại này về căn bản là bắt nguồn từ việc cựu thế lực liên tục phá hoại văn hóa Thần truyền Trung Hoa, tạo nên những sai lầm trong nhận thức của con người hiện đại, từ đó không thể lý giải được nội hàm của pháp lý. Loạt bài viết này đứng từ góc nhìn thấp nhất trong văn hóa thiên tượng mà nhìn lại lịch sử và triển hiện từng mốc thời gian trong tu luyện Chính Pháp: Mỗi lần xảy ra những sự kiện lớn, mỗi lần Sư phụ kéo dài thời gian vì các đệ tử, đều lưu lại bằng chứng của thiên tượng, đó không chỉ là lưu lại bằng chứng cho tương lai, mà chính là cảnh báo cho con người thời nay.
Triển hiện sự tinh tế kỳ diệu của Thiên nhân hợp nhất, quét sạch can nhiễu của mê mờ hiểu lầm mới có thể nhìn thấy sự từ bi hồng đại và gian nan khổ độ của Sư phụ. Do vậy chúng ta lùi lại lịch sử, tiết lộ những nét đặc sắc của lịch sử chân thực tại nhân gian, mong rằng các đồng tu ngày xưa bị những điều kỳ dị thu hút mà rời khỏi Đại Pháp có thể minh bạch thiên cơ mà lịch sử đã đặt định trong sự huy hoàng của lịch sử được triển hiện lần đầu tiên này và quay về với Đại Pháp, mong rằng những ai còn bị mê hoặc có thể đột phá chướng ngại, tinh tấn hơn lên: Nét đặc sắc chân chính đều được triển hiện trong việc chân tu Đại Pháp.
Bài viết này là những thể ngộ của cá nhân tôi khi tu luyện Đại Pháp, chỉ để chia sẻ với mọi người. Do tầng thứ có hạn nên sẽ có những chỗ không thỏa đáng, mong mọi người cải chính, lại càng mong mọi người dĩ Pháp vi Sư, giữ lấy cái gốc của tu tâm.
Mục lục trong bài viết:
1. Huỳnh Hoặc (sao Hoả) trấn sao Đê, loạn thần mưu phản
2. Thời gian tinh tấn hơn nữa, thiên tượng là tiêu chuẩn
1. Huỳnh Hoặc (sao Hoả) trấn sao Đê, loạn thần mưu phản
Thiên nhân hợp nhất, đây là tinh hoa văn hóa được đặt định bởi nền lịch sử Trung Hoa 5.000 năm. Đạo gia cũng đang giảng, Nho gia cũng đang giảng, Trung y cũng đang giảng, nhưng đều chỉ nói được rất sơ sài. Vậy thiên tượng rốt cuộc là gì? Làm thế nào để có thể hợp nhất với con người? Nhưng điều này lại không thể nói rõ bởi vì đó là thiên cơ thuần túy.
Hai chữ “lịch sử” nghe có vẻ xa xôi không có quan hệ gì với chúng ta, kỳ thực nếu con người ngày nay có thể hiểu được lịch sử chân chính sẽ rất có ích cho sự lựa chọn trọng đại trong kiếp nhân sinh. Cũng chính là nói rằng chúng ta nói về lịch sử tại đây là để hiểu thật tốt về tình huống ngày nay, để tránh lỡ mất cơ duyên.
Chúng ta sẽ bắt đầu nói từ một giai đoạn lịch sử triều Nam Bắc, đó là năm Nguyên Gia thứ 30 (Công nguyên năm 453), năm cuối cùng trong cuộc đời 30 năm đế vương của Tống Văn Đế Lưu Nghĩa Long. Dùng phần mềm thiên văn lui lại năm đó chúng ta sẽ phát hiện ra một thiên tượng hung hiểm hiếm gặp:
Huỳnh Hoặc (sao Hỏa) trấn sao Đê có loạn thần
Có lẽ có rất nhiều người yêu thích lịch sử đã biết tới thiên tượng “Huỳnh Hoặc thủ tâm (Sao hoả trấn sao Tâm)”, “Huỳnh hoặc thủ tâm, thiên trách đế quân” (Sao Hỏa trấn sao Tâm, Trời trách phạt bậc quân vương), cổ nhân cho rằng đó là kiếp nạn trời giáng của thiên tử; còn Sao Hỏa trấn sao Đê thì ít nghe nói tới.
Sao Đê là ngôi sao thứ 3 trong chòm có bảy ngôi sao Thương Long của phương Đông trong chòm sao thứ 28. Trong 7 ngôi sao của phương Đông có có 5 ngôi sao là sao Giác, sao Kháng, sao Đê, sao Phòng, sao Tâm, 5 ngôi sao phía trước này mang ý nghĩa phi phàm trong văn hóa phương Đông, đa số những sự kiện trọng đại trong lịch sử đều được diễn giải, triển hiện xoay quanh chúng.
Hình: Thiên tượng năm 453, Huỳnh Hoặc (sao Hoả) di chuyển xuôi trấn sao Đê (Năm đó Tống Văn Đế Lưu Nghĩa Long chết dưới tay thái tử)
Huỳnh Hoặc là cách gọi sao Hoả của Trung Quốc thời cổ đại. Nhìn từ trái đất thì sao Hoả có màu đỏ tươi, nhấp nháy như ánh lửa, trong bức tranh những vì sao trên bầu trời nó khi thì di chuyển xuôi, khi lại di chuyển ngược, biến đổi khôn lường khiến con người chìm trong mê hoặc, nên gọi nó với cái tên là Huỳnh Hoặc. Nó là sao Trời phạt, tượng trưng cho tai nạn, chiến tranh và sự chết chóc.
Tốc độ di chuyển xuôi của sao Hoả khá nhanh, thông thường 3 ngày là nó đi hết 2 quãng, mà là di chuyển thuận chiều kim đồng hồ chuyển sang ngược chiều kim đồng hồ, hoặc ngược chiều kim đồng hồ chuyển thành thuận chiều kim đồng hồ vào trước và sau điểm ngoặt, sao Hoả di chuyển rất chậm, gần một tháng nó mới đi hết 2 quãng, sự chuyển động chậm dãi này được gọi là “Lưu”, dừng lại tại vị trí một ngôi sao nào đó, thì gọi là trấn giữ sao nào đó.
Hình vẽ thiên tượng mà chúng ta nhìn thấy ở trên, vào ngày 8 tháng 3 năm 453 Dương lịch, sao Hoả đã dừng tại điểm ngoặt giữa hướng thuận chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ, nó hầu như bất động. Vị trí dừng lại nằm sâu nơi sao Đê.
Trong cuốn “Hán Thư – Thiên Văn Chí” nói rằng: “Huỳnh Hoặc nhập Đê trung, Đê, thiên tử chi cung, Huỳnh Hoặc nhập chi, hữu tặc thần.” (Huỳnh hoặc vào trong sao Đê, Đê là cung của thiên tử, Huỳnh Hoặc vào đó sẽ có loạn thần.)
“Thiên tượng cảnh báo, thiên tử không nghe”
Thái Sử Lệnh (Tương đương với chức trưởng đài thiên văn hiện nay) chuyên quan sát thiên tượng những chòm sao vào ban đêm đã nhìn thấy Huỳnh Hoặc (sao Hoả) càng đi càng chậm, thậm chí còn dừng lại trong sao Đê thì trong lòng ngày càng bất an. Chín ngày sau, khi đôi mắt thịt của ông có thể phân biệt được sao Hoả đã khẽ dịch chuyển ngược chiều kim đồng hồ thì ông đã xác nhận rằng sao Hoả bắt đầu di chuyển ngược lại, ông xác định rằng đây chính là thiên tượng báo điềm dữ Huỳnh Hoặc trấn sao Đê, theo bản năng ông đã cảm nhận được sự nguy hiểm. Vừa bốc một quẻ thì ông giật mình kinh hãi! Ông bèn lập tức tìm mọi cách đi tìm gặp Hoàng đế.
Cuốn “Nam Sử” trong Nhị Thập Tứ Sử đã ghi lại việc ông bẩm tấu với hoàng đế như sau: “Đông phương hữu cấp binh, khổng hữu bất trắc chi hoạ, như năng tại thái cực tiền điện liệt binh vạn nhân, tựu năng tiêu trừ.” (Phía Đông có binh biến gấp, e rằng có hoạ khôn lường, nếu có thể dàn quân vạn người trước điện Thái Cực thì có thể tiêu trừ hoạ nạn.)
Lúc đó Văn Đế vò đầu bứt tóc về chuyện thái tử bị phế, ông đang bàn luận với tể tướng xem làm thế nào có thể bí mật phế truất thái tử, đang lúc buồn phiền tức giận thì lại nghe thấy “Lời nói vô căn cứ” của Thái Sử Lệnh hoàng đế vô cùng tức giận đã lệnh cho ông lui xuống. Tống Văn Đế 47 tuổi đã làm vua 30 năm, kinh nghiệm trị vì chính sự của ông rất phong phú, lần đầu tiên ông nghe thấy quẻ bói “hoang đường” – “Phương Đông có binh biến gấp” như thế này: Trẫm còn chưa nhận được bẩm báo gì ngươi đã bói ra rồi? Phương Đông có ai mưu phản? Sao một chút động tĩnh gì cũng không thấy? Nếu quả thực có binh biến gấp thì có thể giết tới Hoàng thành trong một đêm không? Bảo Trẫm phái một vạn người túc trực thâu đêm tại trước cung Thái Cực thì có thể tiêu tai sao? Làm sao có cái lý này được!
Thái Sử Lệnh lắc đầu, lui xuống, ông tự biết rằng lệnh trời không thể vi phạm.
Đúng vào lúc này, ngay cạnh hoàng cung, trong phủ của Đông cung thái tử, thái tử Lưu Thiệu bắt đầu tổng động viên toàn quân.
Vì sao thái tử Lưu Thiệu lại mưu phản? Ông là con trưởng của vợ cả của Văn Đế cùng với em trai và mụ phù thuỷ dùng ma thuật để nguyền rủa cho Phụ hoàng chóng chết, sau này bị tố cáo. Văn Đế nổi trận lôi đình, vô cùng oán hận hai con, nhưng đối diện với sự ăn năn hối hận của hai con ông đã tha thứ cho họ. Không ngờ Lưu Thiệu không biết hối cải mà còn tiếp tục bày mưu tính kế với mụ phù thuỷ. Sau khi Văn Đế biết chuyện đã quyết tâm phế truất thái tử, bèn triệu tể tướng vào cung bí mật bàn luận, nhưng lại bị ái thiếp làm rò rỉ thông tin. Kỳ thực Lưu Thiệu sớm đã bí mật luyện binh tại Đông cung, khi nhận được mật báo ngay trong đêm đó thái tử đã cho triệu vị đại tướng tâm phúc vào cung.
Hôm sau trời vừa sáng thái tử đã dẫn binh xông vào hoàng cung, tàn sát vào tận phòng nghỉ của Hoàng đế, sau khi giết vua, thái tử giết cả tể tướng và cận thần, nhưng sau đó lại vu cho tể tướng mưu phản, nói rằng mình cứu giá tới muộn.
Dự ngôn chuẩn xác một cách thần kỳ”
“Nam Sử” còn chép lại rằng: Sau khi Lưu Thiệu cướp ngôi nghe nói tới dự ngôn trên đã cảm khái mà rằng: “Suýt chút nữa thì làm hỏng chuyện đại sự của ta!” Sau đó y bèn tìm Thái Sử Lệnh tới hỏi: “Ngươi thử tính xem trẫm có thể làm Hoàng đế bao nhiêu năm?” Thái Sử Lệnh gieo quẻ xong nói rằng: “Được 10 năm.”
Lưu Thiệu cảm thán mà rằng: “Mười năm cũng đủ rồi.” Nhưng sau này Thái Sử Lệnh thầm nói với người khác rằng: “Không phải là 10 năm, mệnh đế vương của ông ta chỉ có 10 tuần (100 ngày).” Lưu Thiệu nghe được mật báo thì nổi trận lôi đình lập tức xử trảm Thái Sử Lệnh.
Lưu Thiệu giết vua cướp ngôi không được một tháng thì nghĩa binh trong toàn quốc nổi lên tứ phía, Tam đệ Lưu Tuấn, hiệu là Vũ Lăng Vương, thích sử (thống đốc) tỉnh Giang Châu đã dẫn binh đuổi giết tới tận kinh thành. Lưu Thiệu bị thân hữu phản bội, liên tiếp bại trận. Ngày 16 tháng 6 kinh thành bị công phá, Lưu Thiệu bị diệt tộc.
“Dấu ấn của thiên tượng”
Chúng ta nhìn vào hình vẽ thiên tượng phía trên, ngày mồng 8 tháng 3 năm 453 chính là thời khắc sao Hoả tiến nhập vào sao Đê sâu nhất, đúng lúc này thì dừng lại chuyển hướng ngược lại, ngày 17 tháng 3 chính là ngày bắt đầu hành trình ngược chiều chậm rãi của sao Hỏa mà mắt người có thể nhìn thấy được: Ngay hôm đó Thái Sử Lệnh đã cảnh báo Lưu Thiệu xếp đặt việc giết vua cướp ngôi. Ngày 18 tháng 3 là ngày cướp ngôi đầu tiên, 1 tuần là 10 ngày. Thái Sử Lệnh nói rằng ông ta chỉ có mệnh làm vua trong 10 tuần (100 ngày), tức là từ ngày thứ 91 cho tới ngày 100, tuần thứ 10 là từ ngày 16-25 tháng 6. Mà ngày 16 tháng 6 là ngày sao Hoả bắt đầu rời khỏi sao Kháng, tiến đến gần “trước cửa” sao Đê, sao Đê ứng với hoàng cung, cửa sao Đê đối ứng với cửa hoàng cung: Ngày 16 tháng 6, cũng chính là ngày Lưu Thiệu bị tam đệ Lưu Tuấn (Lưu Tống Hiếu Vũ Đế) đánh bại hoàn toàn, là ngày cổng kinh thành bị phá, tính như vậy hôm đó chính là ngày thứ 91, ngày đầu tiên của tuần thứ 10! Quẻ bói của Thái Sử Lệnh đồng nhất với quỹ đạo của thiên tượng một cách đáng kinh ngạc! Điều này đã triển hiện sự bác đại tinh thâm trong văn hoá thiên tượng “Thiên nhân hợp nhất”.
Có lẽ sẽ có người hỏi, thời Nam Bắc triều, bậc đế vương không chỉ có một mình Nghĩa Long, phía Bắc còn có Bắc Nguỵ Đế, thiên tượng Huỳnh Hoặc trấn sao Đê sao lại không ứng vào Bắc Nguỵ?
Kỳ thực trong văn hoá thiên tượng của phương Đông, thiên tượng hệ trọng liên quan tới Thiên tử như thế này chỉ đối ứng với Thiên tử chính thống của Trung Quốc. Đứng từ một phương diện khác: Từ sự đối ứng giữa thiên tượng và nhân gian cũng có thể nhìn ra ai mới là Thiên tử chính thống, đây chính là nét tinh tế tuyệt diệu của văn hoá thiên tượng.
2. Thời gian tinh tấn hơn nữa, thiên tượng là tiêu chuẩn
Sử sách bên trên ghi chép không chi tiết lắm, cũng có một số lỗi nhỏ, như Huỳnh Hoặc di chuyển xuôi trấn giữ sao Đê thì lại ghi nhầm thành di chuyển ngược trấn giữ sao Đê. Tôi dùng công năng Huệ nhãn thông là có thể kiểm tra được giai đoạn lịch sử đối ứng với thiên tượng đó, kết hợp với sử sách và phần mềm thiên văn hiện đại mà triển hiện nó ra một cách chi tiết để mọi người dễ hiểu.
Thiên tượng là quy chuẩn phát triển của lịch sử nhân loại, là sự triển hiện thiên ý mà nhân loại phải thuận theo, nhân loại vẫn luôn hữu ý hay vô ý tuân theo nó. Nói một cách dễ hiểu thì chính là:
“Trong lịch sử, nhân loại đều đang điều chỉnh phương pháp tính thời gian theo thiên tượng, cho nên, nhân loại ngày nay cũng phải thuận theo thiên tượng mà điều chỉnh bản thân mình.”
Theo sự tích luỹ của thời gian thì lịch pháp cũng sẽ có sai sót, tới một thời gian nhất định thì sẽ phải đổi lịch để thuận với Trời.
Lịch pháp của Trung Quốc cổ đại đã trải qua Hạ lịch của nhà Hạ, lịch Ân Thương của nhà Thương, Chu lịch của nhà Chu, Tần lịch của Tần Hán, tới thời kỳ Hán Vũ Đế thì Tần lịch sai biệt quá lớn nên sửa thành lịch Thái Sơ. Hình thức của lịch Thái Sơ vẫn được dùng cho tới ngày nay, khung hình thức lớn không thay đổi, nhưng hầu như mỗi triều đại đều phải làm lại lịch mới. Nếu thời đầu của nhà Đường phế bỏ lịch Tuỳ đổi thành “Nguyên lịch Mậu Dần”, sau năm 46 thì đổi dùng “Lịch Lân Đức” của Lý Thuần Phong, 56 năm sau lại đổi dùng “Lịch Đại Diễn” của Tăng Nhất Hành.
Lịch pháp phương Tây cũng như vậy, 45 năm trước công nguyên, đại đế Caesar bắt đầu thi hành lịch Julian, tới năm 1582 thì đổi dùng lịch Gerry, năm đó bỏ đi 11 ngày để bù vào chỗ sai khác cho thuận với thiên thời.
Thiên thời chính là vị trí tương đối giữa mặt trăng, mặt trời và các vì sao, đó chính là thiên tượng, nhân loại từ cổ chí kim vẫn luôn thuận theo và đối ứng với nó.
“Thời gian là công bằng nhất, chính xác nhất, hơn nữa cội nguồn của thời gian là ở thiên tượng, cho nên thiên tượng là chuẩn xác nhất.”
Trong những loại đồng hồ chính xác nhất hiện nay có đồng hồ nguyên tử hợp kim cesium 30 triệu năm sẽ lệch một giây, theo lý luận thì “đồng hồ năng lượng mặt trời” 30 tỷ năm mới lệch một giây, nhưng hiệu đính sự sai lệch đó cũng là lấy vị trí tương đối giữa mặt trăng, mặt trời và các vì sao làm chuẩn, do đó tiêu chuẩn cuối cùng vẫn là thiên tượng.
Có thể thấy rằng thiên tượng là chuẩn xác nhất, khái niệm về độ chính xác của thiên tượng mà chúng tôi đưa ra như vậy dễ được mọi người tiếp nhận.
“Lịch sử, tương lai đều được ghi lại bằng thời gian, mà cội nguồn của thời gian là thiên tượng, cho nên lịch sử, tương lai đều được ghi chép bằng thiên tượng.”
Câu chuyện bên trên mọi người cũng đã đọc, thiên nhân hợp nhất, thiên tượng biến đổi dẫn theo sự biến đổi của nhân gian. Cho nên có thể nhìn thấy những sự kiện lớn đối ứng với nhân gian từ trong thiên tượng. Kỳ thực, những sự kiện lớn tại nhân gian đều là cội nguồn của thiên tượng.
Các sự kiện đều được đo lường bằng thời gian, lịch sử, tương lai được triển hiện trên thước đo thời gian, mà cội nguồn của thời gian lại nằm ở thiên tượng, cho nên lịch sử, tương lai đều được ghi chép, triển hiện, hàm ẩn trong thiên tượng. Do đó quỹ đạo vận hành của thiên thể chứa đựng quá khứ, hiện tại và tương lai của nhân loại.
“Đẩy lùi thiên tượng, tiết lộ lịch sử, diễn dịch thiên tượng, dự báo tương lai.”
Thiên văn học hiện đại đã có thể tính được vị trí của mặt trăng, mặt trời và các ngôi sao trong hàng vạn năm, sử dụng phần mềm này có thể triển hiện được thiên tượng hàng vạn năm khá chuẩn xác, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng ta triển hiện số trời, nhìn lại lịch sử từ góc độ thiên tượng.
Nếu công năng Huệ nhãn thông có thể lý giải và phân tích thiên tượng thì có thể chặn đứng được rất nhiều can nhiễu, giúp chúng ta nhìn thẳng vào sự thực. Bởi vì lịch sử nhân loại được chứa đựng trong thiên tượng, cho nên đọc hiểu được thiên tượng trong quá khứ thì có thể thoát khỏi can nhiễu của những cảnh tượng trong sử sách giả, truyền thuyết, tiểu thuyết, trực tiếp tiết lộ lịch sử chân thực, đoán biết được thiên tượng của tương lai, cũng có thể nhìn thấy được tiến trình chính trong tương lai.
(Còn tiếp)
Mục lục phần tiếp theo:
Từ thiên tượng kim cổ thấy được tiến trình kéo dài của tu luyện Chính Pháp (Phần 2)
Diệt Phật bị trời khiển trách, nhìn rõ dự ngôn
1. Huỳnh Hoặc trấn sao Thái Vy, dự báo tội diệt Phật
2. Huỳnh Hoặc trấn sao Phòng, trời phạt nghịch vương
3. Gắng sức phá được dự ngôn, nhưng lại sa vào lưới trời
4. Dự ngôn không sai một ngày, sự triển hiện tinh diệu của thiên đạo

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2017/1/27/341941.html
Đăng ngày 7-4-2017; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Những trải nghiệm phi thường: Tu luyện Pháp Luân Đại Pháp mang lại phúc phận


[MINH HUỆ 14-1-2017] Hàng triệu người đã bắt đầu tu luyện Pháp Luân Đại Pháp và có vô số những câu chuyện cho thấy uy lực phi thường của môn tu luyện này. Những câu chuyện này giúp mọi người thấy được tại sao các học viên vẫn kiên trì niềm tin vào Pháp Luân Đại Pháp và tại sao cuộc đàn áp không thể ngăn cản họ đến với Đại Pháp.
Tu Đại Pháp, ngũ cốc dồi dào
Bài viết của Tiểu Văn (47 tuổi)
Thôn chúng tôi có một khu đất trũng rộng khoảng hơn 90 mẫu, từ khi khai hoang khu đất này đến nay, gieo hạt đa phần đều không thu hoạch được. Có lúc lên mầm rồi thì bị nước nhấn chìm, có lúc sắp thu hoạch rồi lại bị nước ngập đến đầu gối, có lúc lại khô hạn đến nỗi không lên mầm được. Nhiều năm nay khu đất này đầy cỏ dại, trở thành nơi cung cấp nguồn thức ăn ưa thích cho trâu bò.
Mùa đông năm 2001, khu đất này bị băng phủ kín, chỉ có rất ít đất lộ ra. Cán bộ thôn chuẩn bị giao thầu khoán cho các hộ dân trong 15 năm (để tiện quản lý), giá thầu rất rẻ, chưa tới 10% mức giá đất thông thường. Ông Trần hàng xóm nhà tôi đến nói với tôi: “Tôi có người bạn muốn cùng tôi thầu khu đất này, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, hay là hai chúng ta cùng thầu đi”. Ông ấy rất hiểu tôi, cả nhà tôi đều tu luyện Pháp Luân Công nên làm việc gì cũng dựa trên nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn, không sợ thiệt thòi, lạc quan vui vẻ, thích giúp đỡ người khác.
Năm đầu trồng trọt, chúng tôi đã có vụ mùa bội thu, mặc dù không bón một chút phân hoá học nào nhưng sản lượng còn cao hơn cả những nhà khác dùng phân bón. Chỉ trong một năm mà chúng tôi đã thu hồi lại được tiền phí cho gói thầu 15 năm, mọi người đều cho rằng chúng tôi gặp may.
Mùa hè năm 2012, liên tiếp có hai trận mưa lớn, tiếp đó là một đợt gió mạnh cấp 6, cấp 7, trận gió này như có mắt vậy, nó cố tình tránh ruộng ngô nhà chúng tôi. Cây ở ruộng nhà khác đều bị gió giật đổ, bẻ cong, nhưng ruộng nhà tôi thì cây nào cũng đều thẳng tắp. Đến mùa thu hoạch, những cây bị gió giật đổ, bẻ cong đều bị giảm sản lượng, chi phí thu hoạch ngô lại tăng gấp đôi, nhưng chúng tôi thì vẫn thu hoạch được nhiều như năm ngoái, đó là nhờ được Đại Pháp bảo hộ.
Có khi mùa đông mưa tuyết lớn, đến mùa xuân phải dùng máy bơm nước bơm lên hố cát ở trạm trên cao. Khu đất của chúng tôi có nước, nhưng đất xung quanh cũng có nước, chúng tôi phải bơm hết nước ở các khu đất xung quanh xong, khu đất của chúng tôi mới dần dần rút nước. Ông Trần liền tìm những người hàng xóm được lợi ở xung quanh bảo họ bỏ tiền hoặc bỏ sức, nhưng mọi người đều không đồng ý. Tôi khuyên ông ấy rằng chúng ta trồng trọt năm nào cũng thu hoạch tốt hơn cả họ, Pháp Luân Công giảng:
“Có mất có được” (Giảng Pháp tại Pháp hội quốc tế New York 2004)
Chúng ta bơm nước ra cho họ chẳng phải làm việc tốt, việc thiện hay sao? Trồng cây thiện thì sẽ cho quả thiện. Sau đó ông ấy cũng không oán hận những người hàng xóm nữa. Tôi đã dùng Pháp lý của Đại Pháp để chỉ đạo bản thân giúp người khác hóa giải mâu thuẫn, bốn người hàng xóm đều cảm kích chúng tôi, vì họ cũng được hưởng lợi, năm nào cũng bội thu, hễ gặp mặt là vui vẻ chào hỏi từ xa.
Năm nay đã là năm thứ 15 rồi, thời điểm này chúng tôi vẫn chưa gieo trồng. 14 năm trước năm nào cũng bội thu, người khác đều rất thán phục. 15 năm nay chúng tôi hợp tác với nhau chưa từng xảy ra mâu thuẫn. Chúng tôi đều nghĩ cho người khác với thái độ yêu quý, chân thành, lương thiện, nên luôn được mùa bội thu, chính nhờ sự chỉ đạo, bảo hộ của Đại Pháp nên chúng tôi mới có được nhiều điều tốt đẹp và phúc phận như vậy.
Tu luyện Pháp Luân Đại Pháp khiến cho cơ thể nhẹ nhàng vô bệnh
Bài viết của Thụ Phàm (68 tuổi)
Trước khi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, tôi bị đau đầu, đau chân và mất ngủ. Do điều kiện gia đình không tốt, tôi cũng chưa từng đến bệnh viện kiểm tra. Lúc bị đau đầu dùng thuốc gì cũng không khỏi, nghe ai mách có thuốc hay liền đến mua, nhưng chẳng thấy chút hiệu quả nào. Khi đau đầu quá, tôi còn đâm đầu vào tường, bực bội, nôn mửa. Dùng các loại thuốc đều không khỏi; khi chân đau quá đi lại phải bám vào tường, ngồi xổm xuống là không đứng dậy nổi, hai chân đau đến mức căng cả ra; khi mất ngủ thì cả đêm trằn trọc đến gần sáng mới chợp mắt được một chút.
Trong thôn của tôi có một bệnh nhân mắc bệnh máu trắng, đã đi khám mấy bệnh viện, tốn rất nhiều tiền cũng không khỏi, đành phải về nhà chờ chết. Sau khi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp không lâu đã hồi phục, việc gì cũng làm được. Cô rất vui mừng đến tìm tôi, bảo tôi hãy học Pháp Luân Công, bảo tôi đọc sách của Pháp Luân Công, chiểu theo những yêu cầu trong sách Chuyển Pháp Luân để làm người tốt, cộng thêm luyện công nữa, bệnh của tôi sẽ khỏi.
Vậy là tôi và cô ấy cùng tập Pháp Luân Công, cùng đọc cuốn Chuyển Pháp Luân, làm theo yêu cầu trong sách để trở thành người tốt. Trong vòng vài tháng, toàn bộ bệnh của tôi đều khỏi, khỏi phải nói tôi vui sướng đến mức nào.
Bị mảnh thủy tinh vỡ rơi vào mắt
Bài viết của Tiểu Cần (52 tuổi)
Tôi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp đã 17 năm, tôi tuân theo Pháp lý Chân – Thiện – Nhẫn của Đại Pháp để làm người tốt hơn nữa, ở đâu cũng đối xử tốt với người khác. Sức khỏe của tôi đã phục hồi, hoàn cảnh gia đình cũng trở nên tốt hơn, cuộc sống cũng ngày càng sung túc. Hoàn cảnh xung quanh cũng có những thay đổi kỳ diệu. Trong mười mấy năm tu luyện, tôi thực sự cảm nhận được sự từ bi lớn lao của Sư phụ. Khi gặp nguy nan Sư phụ giúp tôi chuyển nguy thành an.
Mùa thu năm 2003, tôi lắp kính cửa sổ cho căn nhà mới của em trai. Có hai người khác nâng tấm kính lớn lên để lắp vào khung cửa sổ nhưng lại không vừa vì tấm kính cao hơn khung cửa một chút.
Tôi bảo họ đừng khiêng xuống, giữ nguyên tại đó, tôi sẽ dùng kìm để cắt bớt kính đi, tôi ngẩng mặt, kiễng chân lên, cầm kìm kẹp tấm kính lại, vừa mới kẹp được mấy nhát thì vì không cẩn thận nên bị mảnh vụn của tấm kính bắn vào mắt. Người ta nói cát bay vào mắt không được dụi, mảnh kính vỡ rơi vào mắt khiến tôi rất đau đớn nhưng mắt tuyệt đối không được chuyển động. Họ rất lo lắng, tôi nói với họ hãy giữ lấy tấm kính, tôi che một mắt chạy đi tìm người giúp lấy mảnh kính vỡ ra. Tìm một vòng cũng không thấy ai, vì mọi người đều đã ra đồng làm việc cả rồi. Tôi đành phải ôm mắt chạy về, tôi nghĩ đến Pháp mà Sư phụ giảng:
“Chư vị quá sợ năng lượng xấu kia rồi. [Nó] đến thì chư vị có thể dung giải nó, hoá thành khí nguyên thuỷ cho mình dùng.” (Giảng Pháp vào tết Nguyên tiêu năm 2003)
Lúc này tôi cảm giác mảnh kính vỡ dần dần trồi lên trên, qua lông mày rồi lại đến trán, cảm giác cộm mắt ngày càng ít dần, đến trán thì không còn cảm giác cộm nữa. Tôi cũng mở được mắt như bình thường. Tôi lại tiếp tục gắn tấm kính lên cửa sổ. Sau này khi mắt có vấn đề tôi lại dùng phương pháp này.
Trong suốt mười mấy năm làm việc, tôi cũng vài lần bị như vậy và đều có thể giải quyết bằng cách này.
Khỏi bệnh máu trắng trong vòng 17 ngày
Bài viết của Trường Nga (51 tuổi)
Tháng 6 năm 1998, tôi bị ra máu liên tục không dừng, tiếp đó xuất hiện hiện tượng đau đầu, chảy máu chân răng, miệng đầy những bọng máu, toàn thân rất nhiều chỗ chảy máu. Người nhà rất lo lắng đưa tôi đến bệnh viện kiểm tra, bác sĩ chẩn đoán tôi bị bệnh máu trắng, tiểu cầu suy giảm, chỉ còn lại 2.000, máu quá ít không đông được. Y tá nói rằng tôi như vậy là không cứu được rồi, phải hết sức chú ý không được đi xuống cầu thang, tôi có thể chết bất cứ lúc nào. Tôi phải vào nhập viện nhưng lại không còn giường bệnh nữa, họ sắp xếp cho tôi một chiếc giường ở ngoài hành lang, gần nhà vệ sinh.
Điều trị được hơn một tháng mà bệnh tình cũng không chuyển biến, tôi lại đến bệnh viện Đông y chữa trị hơn tháng cũng không có tác dụng. Trong tâm tôi rất hoảng sợ, vì tôi thấy một chàng trai hơn 20 tuổi bệnh nhẹ hơn tôi mà đã tử vong, trông thấy mấy người đã chết rồi. Sau đó nghe nói bệnh viện tỉnh nhận chữa cho tôi, tôi lại đi, nhưng cuối cùng họ cũng hết cách chữa. Tiêm thuốc cũng không vào người, uống thuốc cũng không được, ăn cũng không nổi, ngủ cũng không xong.
Người nhà đã chuẩn bị cho tôi quan tài và áo tang, sinh mệnh của tôi đã đi đến đường cùng rồi.
Tháng 2 năm 1999, chị tôi thấy trong làng của chúng tôi có một bệnh nhân ung thư đã hồi phục sau khi tu luyện Pháp Luân Công, nên bảo tôi cũng học xem. Lúc đó, tình trạng sức khỏe của tôi đã gần như không còn sức sống nữa, tôi dành cả ngày học Pháp luyện công. Hôm tôi đọc xong cuốn “Chuyển Pháp Luân”, tôi đã có thể ngủ được, ngủ một giấc ngon lành, tín tâm của tôi tăng lên. Sau khi đọc sách, tôi như được thỏa cơn khát, tôi đã hiểu ra rằng làm người phải sống theo nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn, làm việc gì cũng phải nghĩ cho người khác trước, nguyên nhân mắc bệnh là vì trước đây tôi đã làm điều xấu, làm tổn hại người khác nên mới phải chịu quả báo, tôi cố gắng thực hành theo nguyên lý của Pháp Luân Công.
Trong thời gian ngắn ngủi 17 ngày, tất cả bệnh tật của tôi đều tiêu biến từng bệnh một, thân thể tôi trở thành vô bệnh, tôi đã được ban cho một cuộc đời mới. Tôi hy vọng mọi người đều có thể hiểu rõ về Pháp Luân Công, qua đó cũng sẽ nhận được sự ban ân và bảo hộ.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2017/1/14/修炼法轮大法是福-340661.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2017/2/14/162183.html
Đăng ngày 17-4-2017; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Tôi đã hồi phục đột quỵ chỉ nhờ niệm một vài từ đặc biệt


Bài viết của Thư Bảo ở tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc
[MINH HUỆ 24-2-2017] Tôi 61 tuổi, là chồng của một học viên Pháp Luân Đại Pháp. Tôi đã hoài nghi về những lợi ích của môn tu luyện này. Chỉ tới khi bị đột quỵ do chứng nhồi máu não, qua việc niệm “Pháp Luân Đại Pháp hảo, Chân–Thiện–Nhẫn hảo”, tôi mới trải nghiệm được uy lực của Đại Pháp.
Hơn mười năm trước, khi vợ tôi bước vào tu luyện, tôi đã chứng kiến uy lực của Đại Pháp, nhưng bất chấp những thay đổi tích cực của bà ấy, điều đó vẫn không làm tôi tin tưởng.
Một lần, khi đưa cháu gái về nhà, tôi đột nhiên cảm thấy tê ở một bên thân thể và ngã xuống đất. Sau đó, tôi được đưa vào viện.
Vợ tôi gợi ý tôi thành tâm niệm “Pháp Luân Đại Pháp hảo, Chân–Thiện–Nhẫn hảo.“ Bà nói rằng tôi sẽ ổn, nhưng chỉ khi tôi niệm những từ này.
Thật khó để tin rằng một người sẽ hồi phục đột quỵ bằng việc niệm một vài từ đặc biệt và thật nghi ngờ rằng việc đó sẽ có tác dụng.
Dường như bà ấy biết được suy nghĩ của tôi và kiên nhẫn nói: “Trong hiểm nguy, nếu ông thành tâm niệm ‘Pháp Luân Đại Pháp hảo’, Sư phụ của chúng tôi sẽ bảo hộ ông. Tôi biết thật khó để tin, nhưng Sư phụ chúng tôi nói rằng nếu một người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, cả gia đình sẽ được thọ ích.”
Từ khi vợ tôi bắt đầu tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, tôi không còn bị cúm và khỏe mạnh trong hơn chục năm qua. Vì vậy, tôi quyết định niệm “Pháp Luân Đại Pháp hảo, Chân–Thiện–Nhẫn hảo.”
Ngày hôm sau, tôi có thể về nhà và không lâu sau thì hoàn toàn bình phục. Bây giờ, tôi tin tưởng chắc chắn rằng những từ đặc biệt này đã triển hiện uy lực của Đại Pháp.
Một người hoài nghi khác lắng nghe
Một bệnh nhân nhồi máu não khác phải nhập viện vài ngày và ở cùng khu [điều trị] với tôi. Ông ngạc nhiên khi thấy tôi đã hồi phục nhanh như thế nào, trong khi ông ấy thì vẫn không thể đi lại được.
Ông bắt đầu đổ lỗi cho bác sĩ vì việc điều trị không công bằng mà ông nhận được. Ông cho rằng bác sĩ hẳn đã kê thuốc tốt nhất để điều trị cho tôi chứ không kê cho ông.
Vợ tôi bảo ông rằng bà đã bảo tôi thành tâm niệm: “Pháp Luân Đại Pháp hảo, Chân–Thiện–Nhẫn hảo.”
Bà nói: “Miễn là ông niệm những từ này, ông sẽ chứng kiến được sức mạnh thần kỳ của Pháp Luân Đại Pháp.”
Ông không muốn tin điều đó, nhưng con trai ông, người đã chăm sóc ông trong nhiều ngày, đã thuyết phục ông hãy thử. Ông lặng lẽ gật đầu.

Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2017/2/24/343478.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2017/3/19/162551.html
Đăng ngày 6-5-2017; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.