Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Vượt qua cám dỗ được phúc báo



Tác giả: Một đệ tử Đại Pháp

[Chanhkien.org] Ngày xưa ở Trung Quốc có một vị lương y tên là Hà Trừng. Ông Hà rất nổi tiếng nhờ tài năng y thuật của mình. Ngày nọ, có một người tên là Tôn Miễn Chi lâm bệnh và ốm yếu đã lâu. Khi nghe tới vị lương y họ Hà, ông Tôn đã nhờ vợ đi mời ông Hà về nhà. Vị thầy thuốc tới nhà ông Tôn, người vợ liền đưa ông tới mật thất của căn nhà và nói với ông: “Chồng tôi bệnh từ rất lâu rồi, cả nhà đã bán hết mọi thứ để thuốc thang cho ông ấy. Chúng tôi chẳng còn gì để trả cho ông. Tôi sẵn sàng trao thân mình cho ông để cứu lấy chồng tôi.” Ông Hà trả lời rất trịnh trọng: “Sao bà phải nói như thế? Bà không cần lo lắng gì hết đâu; tôi sẽ gắng hết sức để chăm sóc chồng bà. Nếu tôi đồng ý những lời bà nói, tôi sẽ thành tiểu nhân suốt đời, bà cũng sẽ mất đi đức hạnh của mình. Thậm chí nếu không ai lên án chuyện như thế, làm sao tôi tránh khỏi bị trời phạt cơ chứ?” Vợ ông Tôn rất xấu hổ và lặng lẽ rời phòng. Sau này vị lương y họ Hà đã chữa khỏi bệnh cho ông Tôn.
Vào một đêm nọ, ông Hà có một giấc mơ, trong đó ông cảm thấy mình như được một vị thần tiên dẫn tới công đường. Một vị quan đã nói với ông Hà: “Ta nghe ông đã cứu chữa cho ông Tôn, lại không tư tâm lợi dụng vợ người; vì việc đó nên ông sẽ được ban thưởng. Ông sẽ trở thành quan triều đình, hưởng lương 5 vạn đồng.”
Ngay sau đó, thái tử bị bệnh. Hoàng thượng cho mời ông Hà vào hoàng cung để chạy chữa cho thái tử. Chỉ với một đơn thuốc, ông đã chữa xong cho thái tử. Hoàng thượng rất hài lòng và ban cho ông Hà tước quan rất cao. Kỳ thực, mọi chuyện xảy ra với ông Hà đúng như những gì ông mơ thấy trước đó.
Có một câu nói của người Trung Quốc xưa rằng: “Vạn ác dâm vi thủ.” Khi một người vượt qua được các cám dỗ, người đó sẽ sớm được ban phước lành. Hiện nay, tiêu chuẩn đạo đức của người Trung Quốc đã bị băng hoại dưới sự cai trị bạo tàn của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ai đi theo nó đều sẽ gánh lấy những hậu quả kinh hoàng.
Dịch từ:
http://www.zhengjian.org/node/123858
http://pureinsight.org/node/6551

Diệt trừ tâm sắc dục (Phần 3)

[MINH HUỆ 18-06-2013]
Tiếp theo Phần 1 Phần 2
Khởi tâm sắc dục tà dâm cũng là tội lỗi lớn
1. Ý niệm tà dâm không dứt, công danh tiêu tán
Những năm Chính Đức triều Minh, có vị thư sinh, tên Triệu Vĩnh Trinh. Khi còn nhỏ, đã có vị dị nhân nói với cậu rằng: “Vào năm 23 tuổi, cậu nhất định sẽ đỗ đạt công danh”. Năm đó 23 tuổi cậu tham gia kỳ thi hương, bài viết rất tốt, vài ngày trước quan chủ khảo đã sớm quyết định chọn bài của cậu, không ngờ tới kỳ thi sau, cậu lại mắc lỗi liên tiếp, kết quả không thi đỗ.
Triệu Vĩnh Trinh cảm thấy vô cùng buồn bã, bèn cầu xin vua Văn Xương báo mộng cho cậu rõ nguyên nhân mình không thi đỗ. Vua Văn Xương báo mộng cho cậu rằng: “Lẽ ra ngươi thi đỗ kỳ thi hương năm nay, nhưng do gần đây ngươi trêu chọc tỳ nữ trong nhà, dụ dỗ con gái nhà bên cạnh, mặc dù chưa thành sự thực, nhưng do vậy mà tâm ngươi điên đảo, ý niệm tà dâm không ngừng, tâm thái ngày càng đen tối, cho nên công danh mà lẽ ra thuộc về ngươi đã bị tiêu trừ đi rồi.”
Triệu Vĩnh Trinh nghe xong lời thuyết giảng của nhà vua, nước mắt giàn giụa, cậu thề sẽ quyết tâm hối cải, hay làm việc thiện. Cho nên cậu cho khắc in cuốn sách khuyến thiện diệt trừ tà dâm, để cảnh cáo người đời. Kết quả là kỳ thi hương năm sau, Vĩnh Trinh quả nhiên đậu Nguyên, làm quan đến chức Phan Hiến.
2. “Ngươi không có hành vi mạo phạm thím ngươi, nhưng lại có ý nghĩ mạo phạm thím ấy.”
Tại Quý Khê có cậu thư sinh, lần thi nào cũng không đậu, không biết nguyên nhân do đâu, cậu bèn cầu xin vị chân nhân họ Trương, thắp hương cầu khấn tra Thiên bảng. Thần minh cho hay rằng: “Kẻ thư sinh này, trong mệnh có công danh, do xâm phạm tới người thím mà công danh bị tước bỏ.” Trương chân nhân tra xong liền đứng lên nói với cậu thư sinh nguyên nhân Thần minh nói cậu không thi đỗ. Cậu thư sinh nghe xong liền nói: “Tôi không hề mạo phạm thím của tôi!” Thế là cậu liền viết một lá thư ngắn, nói chuyện này cho thím nhờ thím giải oan giúp mình. Thần minh lại một lần nữa giải thích rằng: “Mặc dù không có hành vi mạo phạm thím ngươi, nhưng lại có ý nghĩ mạo phạm thím ấy!”
Cậu thư sinh lúc này cảm thấy vô cùng xấu hổ, nhưng hối hận cũng không kịp vì khi cậu còn niên thiếu nhìn thấy thím mình dung mạo xinh đẹp rung động lòng người mà sinh tà niệm, đây chính là lý do.
3. Thời cuối nhà Thanh, có một sỹ tử tới Bắc Kinh tham gia ứng thí, tá túc tại một quán trọ mà bà chủ phòng trọ là một thiếu nữ mới góa chồng. Do tuyết rơi chắn đường, không thể đi tiếp nên cậu phải ở lại liền mấy hôm. Cô nam quả phụ ở cùng nhau, lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, đôi bên nảy sinh tình ý. Sau khi nảy sinh ý niệm tà dâm, cậu sỹ tử đến trước phòng quả phụ định gõ cửa thì đột nhiên nghĩ ra: “Không được! Ta đi thi Trạng Nguyên, chỉ cần bước vào cửa là mắc tội tà dâm, Thiên đình sẽ gạch tên ta, nên về phòng thôi.” Bên này cậu sỹ tử trở về phòng, bên kia người thiếu phụ lại động lòng, muốn tới tìm cậu. Vừa bước ra khỏi cửa, trong lòng nàng thầm nghĩ: “A, không được! Ta là một quả phụ, nên vì chồng giữ gìn trinh tiết mới đúng, sao có thể mới nhìn thấy cậu thanh niên này đã quên mất thân phận của mình, không được, về phòng thôi!” Vì chồng thủ tiết, giữ thân trong sạch, sau này chết đi mới có thể về trời; nhưng nếu quả phụ này phạm tội tà dâm, thì tội ác này cũng đủ để nàng bị đọa xuống địa ngục. Người quả phụ nghĩ đến đây bèn quay lại phòng.
Chàng trai sau khi quay về phòng, không chịu được lửa dục vọng thiêu đốt, lại đến trước phòng cô gái gõ cửa. Người quả phụ trở dậy mở cửa, cậu lại chạy mất, bởi vì cậu biết là không được làm như vậy, sợ phạm tội tà dâm sẽ bị xóa tên. Cổ nhân nói rằng: Cho dù một người có học vấn cao, có số mệnh là Trạng Nguyên, một khi mắc tội tà dâm, hoặc làm điều ác, Thiên đình sẽ gạt bỏ danh phận Trạng Nguyên của người ấy. Cho nên ngay khi cô gái chuẩn bị mở cửa, cậu đã nhanh chóng quay về phòng. Nhưng nàng đã biết chuyện, bèn qua phòng cậu gõ cửa, nhưng trong lòng lại dằn vặt tự nói với mình, không được thất tiết, nên lại quay về phòng của mình. Cứ như vậy đi đi về về hai ba lần. Lần cuối cùng, chàng trai trở dậy mở cửa. Hai người ngập ngừng đứng đó, vừa mong muốn, vừa nghĩ rằng không được làm như vậy.
Chính tại khi sự việc thành hay không, đột nhiên nghe vọng lại tiếng nói từ không trung: “Hai tên đốn mạt nhà người, muốn làm lại không làm, khiến cuốn sổ công tội của ta gạch xóa nát như tương rồi!” Nói xong liền quăng một thứ xuống dưới đất. Hai người nghe thấy tiếng nói này trên giường thì run lên, vội vàng nhặt lên xem, hóa ra là một cuốn “Sổ công tội”, trong đó có ghi tên của họ: một người là Trạng Nguyên kỳ thi năm nay, phạm tội tà dâm bị gạch tên, đánh dấu x gạch chéo; một người là quả phụ thủ tiết, chết đi được lên trời, giờ mắc tội tà dâm, cũng bị gạch tên. Nhìn lại, lại thấy viết chữ “không phạm tội” đánh chữ v. Nhìn tiếp xuống bên dưới, lại thấy ghi một chữ “phạm tội”, lại gạch đi. Sau đó lại ghi “không phạm tội”, đánh chữ v, ghi “phạm tội”, lại xóa đi, khiến cuốn sổ công tội này gạch gạch xóa xóa, nát như tương, đến Thần linh cũng phải tức giận mà lớn tiếng quát mắng. Hai người thấy vậy, ai nấy mau mau chóng chóng về phòng mình, từ đó không bao giờ dám có những ý nghĩ tà dâm nữa.
“Nhân sinh nhất niệm, thiên địa tận giai tri” (Con người xuất ra một niệm thiên địa đều hay biết tường tận). Trước kia chúng ta ngộ nhận rằng chỉ cần không làm ra việc đó, chỉ có những ý nghĩ tà dâm, khởi tâm sắc dục mà không nảy sinh hành vi thực tế, sẽ không có tội hoặc tội nhẹ. Bây giờ xem ra không phải như vậy! Lã Thanh triều Minh chết đi rồi sống lại, ông nghe một vị quan dưới Âm phủ nói rằng chỉ cần con người khởi ý muốn tà dâm, đã là một tội lớn. Nếu Thần linh không ghi chép báo cáo lại tình hình thực tế, hay che giấu, hoặc bỏ sót, thì ngay cả vị Thần linh chuyên quản việc này cũng bị coi là đã mắc tội lớn! Cho nên con người muốn được phúc báo, hãy mau chóng bỏ những vọng niệm tà dâm. Vì chỉ cần tâm sắc dục khởi lên, đã là một tội lớn, tự mình rước họa vào thân.

Đăng ngày 22-01-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Cảnh giới sắc dục (Phần 2)

[MINH HUỆ 17-06-2013]
Tiếp theo Phần I
Câu chuyện diệt trừ sắc
Nếu con người không tin nhân quả báo ứng, thì việc giới sắc cũng không có cơ sở. Nếu không biết trọng Đức, giới sắc cũng không có ý nghĩa. Nếu không thử hỏi vì sao con người sống trên đời, thì không có mục tiêu giới sắc. Trên thực tế, làm người dù cho cảnh giới đạo đức cao hay thấp, báo ứng đều sẽ giáng xuống, chứ cơ bản không hề liên quan đến việc bản thân có tin hay không.
1. Bái phục đức độ người quân tử (Dương Châu Cam Tuyền huyện chí)
Nguyên Tần Chiêu, người Dương Châu, phải làm lễ tròn hai mươi tuổi nên ông đi thuyền tới Kinh Sư. Ông đã bước lên thuyền thì một người bạn họ Đặng, dùng rượu tiễn bước. Trong lúc đang uống rượu, đột nhiên y cho dẫn đến một giai nhân tuyệt sắc. Họ Đặng lệnh cho nàng tới bái kiến Chiêu mà rằng: “Cô gái này là thiếp của một vị đại nhân nào đó của bộ nào đó, nếu huynh tiện thì xin hãy dẫn cô ấy đi cùng.” Chiêu từ chối hết lần này đến lần khác. Họ Đặng nghiêm mặt mà rằng: “Sao huynh lại cố chấp như vậy? Nếu huynh không thể giữ mình thì cô gái này là của huynh, nhưng phải mất 2.500 xâu tiền.” Chiêu bất đắc dĩ đành phải nhận lời.
Thời tiết nóng nực, côn trùng và muỗi rất nhiều, khổ nỗi cô gái không có màn, Chiêu lệnh cho nàng nằm cùng màn với mình, do từ Nội Hà phải mấy mươi ngày mới tới kinh thành, nên giao cô gái lại cho bà chủ nhà trọ, ông tự mình dò hỏi tin tức của viên quan đó. Bèn hỏi rằng: “Ngài tới có dẫn theo gia quyến không? Chiêu đáp: “Chỉ có mình tôi.”
Viên quan đột nhiên xuất hiện trước mặt, dùng thư của người bạn họ Đặng, cưỡng ép lệnh đón người thiếp trở về nhà. Đến đêm, mới biết cô gái chưa thất thân. Người đó xấu hổ không ngừng, ngày hôm sau lập tức đưa thư về báo tin cho họ Đặng, không ngừng ca ngợi đạo đức của Chiêu. Sau đó y đến bái kiến Chiêu bèn nói: “Các hạ thực là quân tử đại đức, thiên cổ hiếm gặp. Tối qua tôi có bụng nghi ngờ, đã dùng bụng tiểu nhân mà đo lòng quân tử, thực vô cùng hổ thẹn.”
2. Địch Nhân Kiệt danh tướng thời Đường
Thời Địch Nhân Kiệt còn trẻ, phong thái tao nhã quý phái, mặt mũi thanh tú, tướng mạo khôi ngô. Trên đường đi thi ông thuê một căn phòng nhỏ. Đêm khuya tĩnh lặng ông chong đèn đọc sách, đột nhiên một thiếu phụ kiều diễm bước vào phòng. Hóa ra là con dâu chủ nhà trọ, nàng mới kết hôn không lâu nhưng chồng nàng đã qua đời, ban ngày gặp Địch Nhân Kiệt tuấn tú phi phàm, xuân tình thức dậy khó kiềm chế bản thân, nàng đợi đến canh thâu mượn cớ xin lửa tới dẫn dụ Địch Nhân Kiệt.
Không ngờ Địch Nhân Kiệt dù biết được nguyên do nàng tới, nhưng vẫn không hề động tâm, còn rất thiện ý mà rằng: “Thấy nàng kiều diễm mỹ lệ rung động lòng người, khiến ta nhớ tới lời của lão hòa thượng.” Cô gái hiếu kỳ dò hỏi xem đó là lời nói gì, Địch Nhân Kiệt mượn cớ đó mà dẫn dắt nàng rằng: “Trước khi đến Kinh thành, ta tá túc trong chùa đọc sách, lão hòa thượng trong chùa nhìn tướng mạo của ta, mà cảnh báo ta rằng: ‘Tướng mạo thí chủ đường bệ, tương lai ắt có tin vinh hiển phú quý. Nhưng phải nhớ kỹ, nhất thiết không được tham sắc phạm dâm, bằng không tiền đồ sẽ bị hủy hết.’ Ta nói: ‘Mỹ nữ xinh đẹp ai ai cũng thích, làm thế nào mới có thể ước chế loại dục niệm này?’
“Lão hòa thượng dạy ta rằng: ‘Khi thí chủ gặp giai nhân diễm lệ, dục niệm nổi lên, nếu coi giai nhân đó như hồ ly tinh hút máu người, như độc xà quỷ quái; coi diện mạo thanh tú diễm lệ của nàng như kẻ ốm nặng vàng vọt, xấu xí, tựa như mặt quỷ vậy, hình dung ‘làn da, ánh mắt mê hồn của nàng như người sắp chết, mặt mũi tái mét, xám xịt, mặt rỗ tổ ong; hình dung dáng vẻ yểu điệu của nàng như máu mủ hôi tanh, lở loét thối rữa, vô số ruồi nhặng bâu đầy, khiến người ta phải bịt mũi bước đi; Chỉ cần giao hợp với cô ấy, thí chủ không chỉ bị hút hết tinh huyết, tinh khí khô kiệt, mà bách bệnh thâm nhập, bản thân phải chịu đựng nỗi dày vò của ma bệnh. Nếu có thể hình dung như vậy, niệm dâm lửa dục sẽ lắng lại như tảng băng lạnh vậy.’
“Lời dạy bảo của lão hòa thượng ta vẫn luôn ghi nhớ trong tâm. Cho nên vừa rồi mới thấy dung nhan, dáng vẻ diễm lệ khiến người ta động lòng của nàng, chính là lúc lửa dục vọng của ta nổi lên, thì lời của lão hòa thượng lập tức vang vọng bên tai. Ngọn lửa dục vọng đang hừng hực lập tức tắt ngấm. Nàng có thể gìn giữ thủ tiết, cũng rất khó nhưng đáng quý, đừng nên vì cảm xúc nhất thời mà bại hoại danh tiết của nàng. Hơn nữa trên nàng còn có phụ mẫu đã cao tuổi, dưới còn cậu con trai nhỏ tuổi, đều cần nàng đảm đương chăm sóc. Nếu ta và nàng gian dâm, mà nàng đi theo ta, phụ mẫu và con trai nàng sẽ mất đi chỗ dựa. Đức hạnh thủ tiết của người phụ nữ thời xưa luôn được người đời ca tụng, như Hàn Cửu Anh, do sợ gặp phải kẻ hiếu sắc sàm sỡ gian dâm mà dùng dao cắt mũi mình; lại như phu nhân của Cao Trung Cử gặp phải quỷ sắc dục, đã dùng cán gương đâm mù hai mắt, hủy hoại dung nhan nhằm bảo toàn trinh tiết. Còn có rất nhiều tiết phụ vì giữ gìn trinh tiết mà có người thì nhảy xuống giếng tự tử, có người dùng dầu nóng tự hủy hoại dung nhan, dùng mọi cách để chắc chắn có thể bảo toàn sự trong sạch của mình.”
Người thiếu phụ nghe xong lời của Địch Nhân Kiệt, cảm động mà nước mắt tuôn rơi, cảm tạ mà rằng: “Cảm tạ đại đức của ân công, ngài không chỉ giúp ta giữ gìn trinh tiết, lại còn dạy ta cách kiềm chế dục vọng. Từ nay về sau ta nhất định lòng như nước phẳng lặng, thanh khiết như nước, như ngọc, kiên trì thủ tiết, để đền đáp lời giáo huấn hôm nay của ân công.” Sau đó cảm tạ ông vài lần mới cáo từ.
3. Hàn Ngụy Công (Tống sử)
Vào thời nhà Tống khi Hàn Kỳ đảm nhiệm chức tể tướng, ông có mua một người thiếp họ Trương dung mạo diễm lệ. Sau khi ký giao ước, cô gái đột nhiên rơi lệ. Hàn Kỳ hỏi nàng có chuyện gì. Nàng nói: “Thiếp vốn là vợ của Lang Quách, năm ngoái ông ấy bị bộ Sử ngụy tạo tội danh, cho nên mới lâm vào bước đường hôm nay.” Hàn Kỳ cũng buồn lòng thay cho nàng, liền để nàng mang tiền về nhà trước, đợi sau khi chồng nàng được minh oan nàng sẽ quay trở lại. Sau khi thiếu phụ họ Trương đi, Hàn Kỳ đã minh oan cho chồng nàng và chuẩn bị chuyển đi nhận chức quan khác.
Trương Thị theo lời giao ước đến nhà Hàn Kỳ, Hàn Kỳ không gặp nàng, chỉ sai người nói với nàng rằng: “Ta thân là tể tướng, sao có thể lấy thê tử của kẻ sỹ làm thiếp được? Số tiền lần trước đưa cho nàng không cần trả lại ta nữa.” Và trả lại nàng tờ khế ước, còn cho nàng 20 lạng bạc làm lộ phí, giúp phu thê nàng lại được đoàn tụ. Trương Thị cảm kích đến rơi lệ, nàng ngưỡng vọng bái lạy Hàn Kỳ mới rời đi. Sau này Hàn Kỳ được phong làm Ngụy Quân Vương, tên hiệu là Trung Hiến, được con cháu đời đời ca ngợi.

Đăng ngày 14-01-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Cảnh giới sắc dục (Phần 1)

[MINH HUỆ 16-06-2013] Từ cổ chí kim, Trung Quốc là nơi lễ nghi văn minh, là nơi khởi nguồn của văn hóa phương Đông. Cổ thánh tiên hiền tại Trung Quốc vô cùng chú trọng tu dưỡng đạo đức, đặc biệt là yêu cầu về quan hệ giữa hai giới lại càng nghiêm ngặt. Đây không phải là ép buộc, mà là bảo hộ con người.
Do sự ngu muội của phương thức hiện đại, con người không tin thiện ác hữu báo, không tuân theo lời dạy bảo của cổ thánh tiên hiền, sự trượt dốc của đạo đức một ngày trăm dặm, đặc biệt là những vấn đề về quan hệ giữa hai giới lại càng bại hoại. Trên ti vi, trên mạng, trên đường phố, trong giao tiếp giữa mọi người không đâu là không tỏa ra những tín tức tình sắc, mà con người còn coi đó là chuyện bình thường, cho rằng tiền bạc mỹ nữ là nên để hưởng thụ, cho nên toàn xã hội đều đang theo đuổi tiền bạc, đều đang truy cầu mỹ sắc.
Hãy xem nền văn minh Hy Lạp cổ trong lịch sử vì sao bị hủy diệt, là do cuộc sống của con người sau thời kỳ Hy Lạp cổ vô cùng hủ bại trụy lạc, thậm chí phong trào đồng tính luyến ái còn thịnh hành, cho nên Hy Lạp cổ đã diệt vong. Con người hiện giờ còn tìm căn nguyên cho sự trụy lạc của mình, nói là trong văn minh Hy Lạp cổ đã có, nhưng ai học theo nền văn hóa khi diệt vong vào thời kỳ sau Hy Lạp cổ, người đó cũng theo đó mà diệt vong.
Phật nói vạn vật đều có Phật tính, những người thiện lương nghe được những lời này đều thấy chấn động, đều sẽ “chuyển hóa” theo hướng tốt. Ví như Hoàng Sơn Cốc (Đình Kiên) một thi nhân triều Tống rất giỏi sáng tác thơ tình yêu. Ông đã từng bái kiến thiền sư Viên Thông Tú, bị thiền sư Tú trách mắng rằng: “Đại trượng phu tài năng văn phú, lại can tâm dùng vào chỗ này ư?” Chính khi Thiền sư Tú đang nói thì Lý Bá liền vẽ ngựa. Sơn Cốc cười mà rằng: “Lẽ nào ta cũng đọa vào bụng ngựa hay sao?” Thiền sư Tú nói: “Bá lúc đó nghĩ tới ngựa, đọa thành thân con ngựa cũng chỉ là chuyện cá nhân ông ấy, còn ông viết thơ tình, lại khuấy động lòng dâm dục của người trong thiên hạ, tội lỗi này đâu chỉ dừng lại ở việc bị đọa vào bụng ngựa, e rằng địa ngục đang đợi ông đó.” Hoàng Sơn Cốc nghe vậy, trong lòng dấy lên nỗi sợ hãi, ngại ngùng cáo biệt, từ đó cũng gác bút.
Ý nghĩa của giới sắc
1. Dưỡng sinh
Kiêng kị sắc khiến bản thân tạo thành thói quen sinh hoạt lành mạnh, có tác dụng rất tốt với việc dưỡng sinh. Ví như: Bao Hoành Trai, thân thể cường tráng, tinh lực hơn người, năm ông 85 tuổi còn được bái làm tể tướng. Giả Tự Đạo cho rằng ông ắt hẳn có diệu thuật dưỡng sinh nào đó, bèn tới thỉnh giáo ông, Bao Hoành Trai nói rằng: “Tôi có một bài thuốc hoàn tử, là bài thuốc bí truyền không truyền ra ngoài.” Giả Tự Đạo nóng lòng hỏi là thuốc hoàn tử gì, Bao Hoành Trai thong dong nói rằng: “Là do ta may mắn uống viên ngủ một mình đã 50 năm rồi!” Những người ngồi tại đó lúc bấy giờ đều cười sảng khoái.
Khổng Tử cũng nói: “Thiếu chi thời huyết khí vị định, giới chi tại sắc” (Thời niên thiếu khí huyết chưa đầy đủ, nên cấm kị nữ sắc). Còn những luận thuật về phương diện dưỡng sinh rất nhiều, chúng tôi cũng không nói nhiều nữa.
2. Tu Đức
Cổ nhân có câu: “Vạn ác dâm vi thủ” (Vạn ác dâm là đầu). Nếu một người không thể buông bỏ những vấn đề về sắc, thì không xứng được gọi là chính nhân quân tử, thậm chí còn là một kẻ ác. Tiêu chuẩn đạo đức về phương diện này tại phương Đông, phương Tây đều rất nghiêm khắc. Như Giê-su nói: “Các con nghe thấy có lời rằng ‘bất khả gian dâm’, chỉ là ta muốn nói cho các con biết, phàm mà thấy phụ nữ liền động niệm dâm dục, người này trong tâm đã phạm tội gian dâm với cô ta rồi.” Hơn nữa trong 5 điều cấm kỵ lớn của Phật Thích Ca Mâu Ni cũng có “giới tà dâm” (cấm tà dâm). Tiêu chuẩn đạo đức của Trung Quốc cổ đại lại càng như vậy. Cho nên một người có chí đề cao chuẩn mực đạo đức bản thân phải cấm kị sắc.
Nếu một người không tin thiện ác hữu báo, mà chỉ kiêng kị nữ sắc từ góc độ dưỡng sinh hoặc góc độ khác, thì hiệu quả cũng bị giới hạn. Chỉ có hiểu về sự nguy hại to lớn của tà dâm từ quan hệ nhân quả mới có thể sinh lòng sợ hãi mà cấm kị sắc một cách chân chính.
(Còn nữa)

Đăng ngày 04-01-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.
 

Chứng thực Đại Pháp tại nơi làm việc của tôi trong ngành tài chính

Bài viết của Xin Ming, một học viên ở Đông Bắc Trung Quốc
[MINH HUỆ  07-08-2013] Ở Trung Quốc ngày nay, tham nhũng tràn lan trong mọi tầng lớp xã hội. Nhiều người sử dụng vị thế của họ trong công việc để kiếm lợi, gây nên nạn tham nhũng trong tất cả các cấp của xã hội. Mối quan hệ giữa con người với nhau dựa trên lợi nhuận và lợi ích cá nhân, và họ cạnh tranh với nhau. Các mối quan hệ trong gia đình và giữa bạn bè không còn tồn tại, và mọi người trở nên thờ ơ với nhau. Tại sao lại như vậy? Người sáng lập Pháp Luân Đại Pháp đã giải thích:
“Nhân loại không có tín ngưỡng thì không có quy phạm đạo đức, thế thì nhân tâm sẽ không có Thiện niệm, mà sẽ bị tà niệm chiếm cứ. Nhân loại bấy giờ đạo đức sẽ mau chóng rớt xuống, dưới tác dụng của tà niệm sẽ khiến ai ai cũng thành kẻ địch. Chỉ vì thoả mãn lòng dục bản thân mà không điều ác nào không làm.” (“Thế nào là mê tín?”, Tinh tấn yếu chỉ)
Tôi làm việc trong lĩnh vực tài chính. Trước khi trở thành một học viên, tôi là một người ích kỷ. Tiền bạc và lợi ích cá nhân là ưu tiêu hàng đầu của tôi và tôi không hề do dự khi làm tổn thương người khác. Vào đầu những năm 90, tôi đã là trưởng khoa của một trường ngân hàng và có quyền phê duyệt các kỳ nghỉ và đánh giá xếp loại bài thi. Tôi đã lạm dụng quyền hạn của mình và gợi ý cho các sinh viên đến cảm ơn, làm việc và biếu quà cho tôi. Tôi nghĩ tôi có năng lực lớn. Là một giáo viên, tôi đã không hổ thẹn về những gì mình đã làm và rất tự hào về khả năng kiếm lợi của mình.
Tu luyện trong Đại Pháp, trở nên khỏe mạnh và coi nhẹ danh và lợi
Tôi trở thành một học viên vào năm 1993 và học các nguyên lý của vũ trụ Chân – Thiện – Nhẫn. Tôi nhận ra rằng con người là do Thần tạo ra và thuyết tiến hóa là không có thật. Tôi cũng biết được rằng làm điều tốt sẽ nhận phúc báo và những việc ác sẽ chịu quả báo (thiện ác hữu báo).
Tôi đo lường bản thân theo các nguyên lý của Pháp. Tôi biết hành xử tồi tệ của mình và trạng thái tinh thần yếu kém của mình đã mang đến nhiều nghiệp bệnh, như hội chứng mệt mỏi kinh niên, bệnh tim và viêm túi mật. Tôi hướng nội và tìm ra nhiều chấp trước, như theo đuổi danh và lợi, và đố kỵ. Tôi đã đồng hóa với các nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn, nghĩ cho người khác trước và trở nên vị tha. Một khi tâm tính của tôi được đề cao, tôi trở nên khỏe mạnh và cảm thấy rất nhẹ nhàng. Sư phụ Lý đã giảng “…vật chất và tinh thần là nhất tính.” (“Giảng Pháp tại Pháp hội Úc châu”). Đó là lý do tại sao các đệ tử Đại Pháp những người thực tu không cần uống thuốc để chữa bệnh.
Bởi đã buông bỏ các chấp trước về danh và lợi, tôi không còn hành xử như trước đây. Tôi hòa đồng với mọi người ở sở làm, và tôi cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện. Trong công việc của tôi ở trường ngân hàng và sau đó ở trong chính một ngân hàng, tôi đã hành xử theo nguyên lý của Pháp. Tôi làm việc chăm chỉ và được đánh giá là một nhân viên gương mẫu trong nhiều năm liền. Sau đó tôi bị các cơ quan hữu quan đưa tới trại lao động cưỡng bức, và khi tôi trở lại làm việc, tôi tiếp tục làm mọi việc theo các nguyên lý của Pháp và được khen ngợi tại nơi làm việc.
Vị trí của tôi là một nhân viên tín dụng. Đây là vị trí công việc đáng mơ ước của nhiều người ở Trung Quốc. Bởi vì tôi có quyền cho vay tiền, tôi có thể kiếm lợi được rất nhiều với vị trí này. Tôi đã nhận công việc này vì những nhân viên tín dụng khác đã tham ô và bị bắt.
Có một vụ gian lận ở ngân hàng nơi tôi làm việc. Một khách hàng đã mua chuộc một nhân viên tín dụng bằng quà cáp và đãi ăn tối. Họ đã lên kế hoạch tạo ra các món cho vay gian lận để kiếm khoản lợi kếch xù. Ngân hàng sẽ chịu tổn thất hàng triệu Nhân dân Tệ. Vụ việc đổ bể và bị vạch trần. Nhân viên tín dụng đó đã sử dụng các mối quan hệ của anh ấy để giảm tội đến mức thấp nhất và nhận được quyết định “sa thải trên danh nghĩa để điều tra thêm.”
Các viên chức của ngân hàng cũng phải chịu những hình phạt với mức độ khác nhau. Kể từ đó, họ trở nên rất cẩn thận trong việc lựa chọn các nhân viên tín dụng. Nhiều người cố gắng làm hài lòng chủ tịch ngân hàng nhưng không được nhận vào vị trí đó. Năm 2007, xảy ra tình trạng tăng đột biến nhu cầu vay để mua nhà ở và do đó thiếu các nhân viên tín dụng. Các lãnh đạo ngân hàng đã tìm kiếm trong số các nhân viên ngân hàng và chọn tôi làm nhân viên tín dụng. Họ nhận xét: “Mặc dù anh ấy tu luyện Pháp Luân Công, anh ấy là người ngay thẳng và trung thực. Anh ấy không tham lam và thích giúp người khác.”
Sau khi trở thành một nhân viên tín dụng, tôi đã làm mọi việc theo các nguyên lý của Pháp và buông bỏ các chấp trước về danh, lợi và tình. Tôi đã rất cố gắng hành xử dựa trên các nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn. Tôi từ chối nhận bất cứ thứ gì từ khách hàng và không chấp nhận những lời mời ăn tối của họ. Tôi thường gặp những khách hàng muốn tôi tạo điều kiện ngoại lệ cho họ. Tôi từ chối những ai không đủ tiêu chuẩn. Đối với những người đủ tiêu chuẩn nhận tiền vay, họ thường mời tôi ăn uống để cảm ơn. Tôi cũng sẽ lịch sự từ chối những đề nghị của họ.
Tôi không phàn nàn và chỉ phục vụ các khách hàng. Ví dụ, chúng tôi được yêu cầu phải đi cùng những khách hàng vay tiền tới Sở Bất động sản để xử lý giấy chứng nhận thế chấp. Hầu hết những nhân viên tín dụng đều ngạo mạn và hách dịch đối với những người vay tiền, nhưng tôi đối xử với họ tử tế và chuyện trò thân thiện với họ. Tôi đi cùng họ và không để họ phải trả tiền taxi cho tôi khi tới các đại lý nhà đất. Vì quá trình nộp tài sản thế chấp rất phức tạp và rắc rối, những người vay tiền thường rất căng thẳng và lo lắng. Tôi đối xử với họ như thể họ là người thân của mình và hướng dẫn họ trong suốt quá trình để họ có thể nhanh chóng nhận được khoản vay.
Sự tận tụy trong công việc của tôi đã ảnh hưởng tích cực tới các khách hàng. Họ thường muốn mời tôi đi ăn, nhưng tôi luôn luôn lịch sự từ chối lời mời của họ. Họ không thể hiểu tại sao, do đó tôi giải thích cho họ các nguyên lý về làm một người tốt theo yêu cầu của Pháp Luân Đại Pháp. Một khi họ hiểu được sự tốt đẹp của Pháp Luân Đại Pháp và biết được sự thật về cuộc bức hại cũng như sự tà ác của Đảng cộng sản Trung Quốc, họ đều vui mừng thoái Đảng và các tổ chức liên đới của nó.
Nghĩ cho người khác trước trong khi làm công việc thư ký bán thời gian
Hai năm trước đây, tôi được yêu cầu đảm nhiệm một số công việc thư ký tại ngân hàng và thường viết các bài có chứa những thuật ngữ của Đảng mà ca ngợi Đảng. Tôi đã rất cố gắng giảm bớt hoặc bỏ đi những từ và những nội dung liên quan tới chế độ. Người ta khó có thể tìm thấy những cụm từ như “dưới sự lãnh đạo của Đảng” hoặc “dưới sự chỉ dẫn của các lãnh đạo của Đảng” trong các bài viết của tôi. Cấp trên của tôi đã nộp những bài báo cho lãnh đạo hoặc đọc chúng trong các buổi họp mà không sửa đổi gì, do đó, các đồng nghiệp của tôi cũng bớt nguy cơ bị đầu độc bởi văn hóa Đảng.
Dưới sự chỉ dẫn của Đại Pháp, tôi tiếp tục tu luyện và làm một người tốt. Tôi đã trải qua sự thay đổi lớn lao, từ một người ích kỷ dần dần trở thành một người vị tha, luôn nghĩ cho người khác trước. Vì tôi đã buông bỏ truy cầu danh và lợi, tôi đã nhận được nhiều lời khen ngợi từ người quản lý và các đồng nghiệp. Ví dụ, công ty thường trả tiền bữa tối cho chúng tôi khi chúng tôi làm ngoài giờ. Tôi sẽ chọn suất ăn rẻ nhất, trong khi các đồng nghiệp của tôi luôn luôn có xu hướng chọn đồ ăn đồ uống phung phí. Người quản lý của tôi đã khen ngợi tôi vì tôi đã làm những việc mà những học viên đều cho là cơ bản nhất.
Tôi thường sẵn sàng giúp đỡ các đồng nghiệp của mình. Họ tới gặp tôi bất cứ khi nào họ cần giúp đỡ vì tôi đáp ứng nhanh mà không phàn nàn. Tôi cũng chăm lo tới những việc ở chỗ làm. Ví dụ tôi sẽ sửa chỗ rò rỉ trong phòng vệ sinh hay báo tình hình cho người quản lý. Tôi cũng thiết kế và cải tiến những tiện ích trong khu vệ sinh. Những lời nói và hành động của tôi đã ảnh hưởng tới các đồng nghiệp của tôi và chứng thực hành vi tốt đẹp của các đệ tử Đại Pháp.
Là một người tu luyện Đại Pháp đường đường chính chính
Một số người khi đọc có thể hỏi: “Lãnh đạo của anh có biết anh tu luyện Pháp Luyện Công không? Anh có thực sự tu luyện một cách đường đường chính chính hay không?”
Tôi có thể nói với bạn rằng tôi là một học viên Pháp Luân Công đường đường chính chính. Lý do tại sao tôi có một công việc ổn định là bởi vì tôi đã trải qua nhiều khổ nạn.
Mười năm trước đây, tôi được thả khỏi trại lao động cưỡng bức. Vì tôi không chịu chuyển hóa và không bao giờ từ bỏ tu luyện, các nhân viên phòng 610 và các cơ quan hữu trách đã theo dõi và cố gắng chuyển hóa tôi khi tôi trở lại làm việc. Một năm sau đó, tôi vẫn tu luyện Pháp Luân Công, vì thế cấp trên của tôi đã yêu cầu tôi lựa chọn hoặc là chuyển hóa hoặc là mất việc làm.
Quản lý của tôi, một người đánh giá cao đạo đức nghể nghiệp và những khả năng của tôi đã thông cảm với tôi. Anh ấy khuyến khích tôi chuyển hóa để tôi có thể giữ được công việc. Tôi không bị động tâm và đã giảng chân tướng Pháp Luân Công cho anh ấy. Tôi đã giải thích tại sao chúng tôi bị bức hại và nói anh ấy về những điều tà ác mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đang làm. Sau nhiều cuộc thảo luận, cuối cùng anh ấy đã hiểu ra chân tướng về Pháp Luân Đại Pháp. Anh ấy tác động tới các cấp trên và giúp tôi giữ được việc làm.
Người quản lý đã giúp tôi sau đó dính líu vào một vụ bê bối tài chính. Vì lý do kỳ lạ nào đó, anh ấy đã không bị trừng phạt mà vẫn giữ được công việc và lương bổng. Các cơ quan hữu quan chỉ nghi ngờ về tính tin cậy của anh ấy. Nhiều đồng nghiệp nói rằng anh ấy đã rất may mắn. Tôi là người duy nhất biết được tại sao anh ấy lại may mắn như vậy – vì anh đã giúp đỡ một học viên Đại Pháp và được tưởng thưởng.
Đây là kinh nghiệm tu luyện của tôi khi làm việc trong lĩnh vực tài chính. Không chỉ tôi được hưởng lợi từ việc tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, mà quản lý của tôi và những người khác cũng được hưởng lợi.
Xin chỉ ra những điều chưa phù hợp.

Đăng ngày 19-01-2014. Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

Canada: Cuộc bức hại Pháp Luân Công là tiêu điểm tại hội nghị bàn tròn của chính phủ về vấn đề nhân quyền

Bài viết của Anh Tử, phóng viên báo Minh Huệ ở Ottawa
[MINH HUỆ 11-12-2013] Một hội nghị bàn tròn về vấn đề nhân quyền ở Ottawa, Canada đã hướng tiêu điểm vào cuộc bức hại Pháp Luân Công ở Trung Quốc nói chung và tội ác mổ cướp nội tạng nói riêng. Nhiều quan chức chính phủ đã lên tiếng ủng hộ Pháp Luân Công trong cuộc họp ngày 9 tháng 12, một ngày trước ngày Nhân quyền Quốc tế.
Ông Andrew Bennett, Đại sứ phụ trách Văn phòng Tự do Tôn giáo Canada nói với tờ Tin nhanh Calgary rằng ông quan ngại sâu sắc về sự đối xử “không thể chấp nhận được” của chính phủ Trung Quốc đối với các học viên Pháp Luân Công cũng như những nhóm người Phật giáo Tây Tạng, Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ và Thiên chúa giáo.
Ông David Sweet, Nghị sỹ thuộc tiểu ban nhân quyền, coi vấn đề mổ cướp nội tạng là “rất đáng lo ngại” và hứa “điều tra đến cùng.”
Ông David Sweet, Nghị sỹ tiểu ban nhân quyền, coi vấn đề mổ cướp nội tạng là “rất đáng lo ngại” và hứa “điều tra đến cùng.”
Ông Tim Uppal Nghị sỹ và Bộ trưởng về các vấn đề đa văn hóa, Nghị sỹ Elizabeth May, lãnh đạo đảng Xanh, Thượng nghị sỹ Thanh Hai Ngo, Nghị sỹ David Sweet, và một đại diện của văn phòng Nghị sỹ Wayne Marton lắng nghe phần trình bày của 20 nhóm trong cuộc họp.
Shawn Li, Chủ tịch Hiệp hội Pháp Luân Đại Pháp ở Canada, và ông Hứa Lệ Chi (bên phải), một người sống sót sau khi bị bức hại, phát biểu tại hội nghị bàn tròn.
Người sống sót sau khi bị bức hại: Chịu đựng từng giây phút
Ông Hứa Lệ Chi, một người sống sót qua cuộc bức hại Pháp Luân Công, chia sẻ trải nghiệm của chính mình về cuộc bức hại ở Trung Quốc. Ông đã từng nhận được giải vàng dành cho Kỹ sư Thiết kế suất xắc cấp Quốc gia của Trung Quốc. Dù là người có nhiều thành tựu và tính cách cao thượng, ông là mục tiêu của cuộc bức hại vì niềm tin vào Pháp Luân Công. Ông Hứa kể về cuộc bức hại mà ông đã trải qua trong thời gian 3,5 năm bị giam giữ.
Ông Hứa nói, “Cuộc bức hại gần như đã cướp đi cuộc sống của tôi. Trong suốt 3,5 năm, tôi đã phải chịu đựng từng ngày và từng giây, không chỉ về thể chất, mà còn cả về tinh thần. Cai ngục đã dùng mọi cách để ép tôi từ bỏ niềm tin và lương tâm của mình.”
Một trong những cách tra tấn mà lính canh sử dụng là lôi ông ra ngoài trời trong thời tiết giá lạnh và đổ nước lên người ông. Kết quả là, ông Hứa đã bị sốt cao trong hai tháng. Ông không hề được chăm sóc y tế.
Ngay cả ở Trung Quốc, cuộc bức hại Pháp Luân Công là bất hợp pháp, ông Hứa nói. Kẻ bắt giữ ông đã nói rằng nếu ông viết bản tuyên bố nói rằng các học viên Pháp Luân Công không bị tra tấn trong tù, ông có thể được quay về làm việc ngay lập tức. Ông từ chối làm theo và đã bị khởi tố và giam giữ vô thời hạn. Quan tòa nói với ông rằng thời hạn tù đã được định trước và hỏi ông, “Tại sao ông không tìm một luật sư?”
Ông Tim Uppal, Nghị sỹ và Bộ trưởng các vấn đề đa văn hóa, khuyến khích tất cả các nhóm chia sẻ về những gì đang xảy ra “bởi vì chúng ta càng có nhiều thông tin, thì càng có thể tác động đến quyết định của chúng ta.”
Phòng 610 và Văn phòng Tự do Tôn giáo
Ông Shawn Li, Chủ tịch Hiệp hội Pháp Luân Đại Pháp Canada đã nói về cuộc bức hại Pháp Luân Công trên quy mô quốc gia được nhà nước bảo hộ và Phòng 610, một công cụ chính trong cuộc bức hại.
Ông Li giải thích rằng phòng 610 là một phòng đặc biệt được thành lập vào ngày 10 tháng Sáu năm 1999, để thi hành việc đàn áp tại các cấp chính quyền và Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Phòng 610 đã được trao quyền vượt quá luật pháp để tiến hành cuộc bức hại.
Ông Li cũng đề nghị những người tham dự cuộc họp xem xét sự tương phản giữa Phòng 610 ở Trung Quốc và Văn phòng Tự do Tôn giáo ở Canada. Các cơ quan chính phủ lẽ ra cần mang lại lợi ích cho xã hội, chứ không phải là để tấn công những công dân tuân thủ luật pháp. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, ĐCSTQ sử dụng bộ máy nhà nước để phát động và duy trì cuộc bức hại đối với một bộ phận lớn xã hội chủ lưu. Tình trạng này đã dẫn đến việc mổ cướp nội tạng cưỡng bức. Quy mô và sự tàn bạo của tội ác chưa từng có này vẫn chưa được phơi bày hết và chưa được thế giới nhận thức đầy đủ.
Cuộc bức hại Pháp Luân Công và cưỡng bức mổ cướp nội tạng ở Trung Quốc là tiêu điểm trong hội nghị bàn tròn của Chính phủ về vấn đề nhân quyền, tại Ottawa, Canada ngày 9 tháng 12.

Đăng ngày 02-01-2014; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Sân bay trên đảo Trường Sa có gì đặc biệt?

theo Theo Kienthuc | 14/03/2013 06:49

Sân bay Trường Sa là một công trình đặc biệt quan trọng trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.

Một số hình ảnh về sân bay Trường Sa:
Đảo Trường Sa Lớn thuộc huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa, cách đất liền hơn 550 km, diện tích nổi hơn 150.000 m2. Đường băng sân bay là công trình dễ nhận ra nhất khi quan sát hòn đảo từ trên cao.
Sân bay trên đảo được xây dựng từ tháng 6/1976 – 8/1977. Vào thời điểm kể trên, đây chỉ là sân bay tạm có lớp mặt trải bằng những tấm ghi nhôm, có chiều dài 560m, rộng 24m.
Theo tấm bia kỉ niệm đặt tại sân bay, đơn vị khảo sát, thiết kế sân bay là Phòng Công binh – Binh chủng Phòng không không quân, đơn vị thi công là Trung đoàn Công binh 28 – Quân chủng Phòng không không quân.
Trước tình trạng xuống cấp, đầu những năm 2000, đường băng sân bay đã được làm mới với tiêu chuẩn sân bay cấp III, đáp ứng yêu cầu sử dựng các loại máy bay cánh bằng chở khách.
Đường băng và sân đỗ máy bay mới có 3 lớp kết cấu trên nền cát, đá san hô tự nhiên gồm: Lớp nền móng tạo phẳng và lu, lèn chặt; lớp móng gia cố xi măng và lớp bê tông xi măng cường độ cao dày 25 cm.
Sân bay trên đảo Trường Sa Lớn có thể tiếp nhận các loại trực thăng và máy bay tuần tiễu M-28.
M-28 là loại máy bay vận tải và tuần tra có khả năng cất và hạ cánh trên đường băng ngắn, có tốc độ tối đa là 350km/h, trần bay 6.000m, phạm vi hoạt động 1230km.
Những chiếc máy bay này được trang bị radar có tầm quét bán kính 160km, dò tìm được đồng thời 30 mục tiêu nổi, dò tìm tàu ngầm bằng các biện pháp dò từ trường, dò bằng tia hồng ngoại và thả phao phát radio xuống biển. Đây là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam.
Không chỉ là nơi máy bay cất, hạ cánh, đường băng của sân bay Trường Sa cũng đảm nhiệm chức năng của một quảng trường lớn, nơi tiến hành những nghi lễ trang trọng của người lính đảo.
Có thể nói, sân bay Trường Sa là một công trình đặc biệt quan trọng trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.

Những "chim sắt" nào được điều ra Trường Sa?

theo Theo Kienthuc | 14/03/2013 07:20

Trong nhiều năm, Không quân Nhân dân Việt Nam đã sử dụng nhiều loại máy bay chiến đấu bay tuần tra, bảo vệ quần đảo Trường Sa.

Ngay sau ngày giải phóng, Việt Nam đã từng dùng trực thăng UH-1 (thu được của địch) cất cánh từ tàu đổ bộ cỡ lớn hạ cánh xuống các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Nhưng, đối với các máy bay từ đất liền bay ra Trường Sa thì phải tới cuối những năm 1980 mới thực hiện. Khi đó, không quân ta đã được trang bị cường kích cơ cánh cụp cánh xòe Su-22M có tầm bay với tới được Trường Sa.
Ngay sau ngày giải phóng, Việt Nam đã từng dùng trực thăng UH-1 (thu được của địch) cất cánh từ tàu đổ bộ cỡ lớn hạ cánh xuống các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Nhưng, đối với các máy bay từ đất liền bay ra Trường Sa thì phải tới cuối những năm 1980 mới thực hiện. Khi đó, không quân ta đã được trang bị cường kích cơ cánh cụp cánh xòe Su-22M có tầm bay với tới được Trường Sa.
Đầu năm 1988, cường kích cơ Su-22M số hiệu 5815 do phi công Vũ Xuân Cương điều khiển đã thực hiện thành công chuyến bay từ Phan Rang ra Trường Sa. Đây là lần đầu tiên máy bay chiến đấu của Không quân Nhân dân Việt Nam bay ra tuần tiễu bảo vệ Trường Sa.
Đầu năm 1988, cường kích cơ Su-22M số hiệu 5815 do phi công Vũ Xuân Cương điều khiển đã thực hiện thành công chuyến bay từ Phan Rang ra Trường Sa. Đây là lần đầu tiên máy bay chiến đấu của Không quân Nhân dân Việt Nam bay ra tuần tiễu bảo vệ Trường Sa.
Ngày nay, nhiệm vụ bay tuần tiễu Trường Sa được chuyển sang biến thể Su-22M4 hiện đại hơn với khả năng mang vũ khí tấn công chính xác cao.
Ngày nay, nhiệm vụ bay tuần tiễu Trường Sa được chuyển sang biến thể Su-22M4 hiện đại hơn với khả năng mang vũ khí tấn công chính xác cao.
Bên cạnh đó, sau này không quân ta còn có thêm sự phục vụ của tiêm kích hạng nặng Su-27SK/PU. Nhưng chiếc máy bay có tầm bay tới 3.530km, thừa khả năng để vươn tới Trường Sa.
Bên cạnh đó, sau này không quân ta còn có thêm sự phục vụ của tiêm kích hạng nặng Su-27SK/PU. Nhưng chiếc máy bay có tầm bay tới 3.530km, thừa khả năng để vươn tới Trường Sa.
Các đơn vị tiêm kích Su-27SK/PU đóng ở căn cứ phía Nam đã thực hiện nhiều chuyến bay tuần tra bảo vệ Trường Sa. Tới tháng 6/2012, lần đầu tiên Trung đoàn 940 đưa Su-27 từ căn cứ miền Trung ra tuần tra, trinh sát, bảo vệ Trường Sa.
Các đơn vị tiêm kích Su-27SK/PU đóng ở căn cứ phía Nam đã thực hiện nhiều chuyến bay tuần tra bảo vệ Trường Sa. Tới tháng 6/2012, lần đầu tiên Trung đoàn 940 đưa Su-27 từ căn cứ miền Trung ra tuần tra, trinh sát, bảo vệ Trường Sa.
Sau Su-27SK/PU, Không quân Nhân dân Việt Nam còn có thêm các tiêm kích đa năng Su-30MK/MK2 để tăng cường lực lượng bảo vệ Trường Sa. Những chiếc Su-30 từ căn cứ phía Nam nhiều lần bay ra Trường Sa.
Sau Su-27SK/PU, Không quân Nhân dân Việt Nam còn có thêm các tiêm kích đa năng Su-30MK/MK2 để tăng cường lực lượng bảo vệ Trường Sa. Những chiếc Su-30 từ căn cứ phía Nam nhiều lần bay ra Trường Sa.
Trong ảnh là biên đội tiêm kích đa năng Su-30MK2 trong chuyến bay tuần tra Trường Sa.
Trong ảnh là biên đội tiêm kích đa năng Su-30MK2 trong chuyến bay tuần tra Trường Sa.
So với Su-27SK/PU, Su-30MK2 hiện đại hơn với khả năng mang “sát thủ diệt hạm” Kh-31A và nhiều loại vũ khí tấn công chính xác cao.
So với Su-27SK/PU, Su-30MK2 hiện đại hơn với khả năng mang “sát thủ diệt hạm” Kh-31A và nhiều loại vũ khí tấn công chính xác cao.
Tuy Su-22M4, Su-27SK/PU và Su-30MK/MK2 đều có khả năng bay ra Trường Sa nhưng chúng đều không có khả năng hạ cánh xuống sân bay trên đảo Trường Sa lớn (dài hơn 500m). Hiện nay, Không quân Nhân dân Việt Nam chỉ có duy nhất máy bay tuần tra PZL M28 có thể hạ cánh trên sân bay Trường Sa lớn.
Tuy Su-22M4, Su-27SK/PU và Su-30MK/MK2 đều có khả năng bay ra Trường Sa nhưng chúng đều không có khả năng hạ cánh xuống sân bay trên đảo Trường Sa lớn (dài hơn 500m). Hiện nay, Không quân Nhân dân Việt Nam chỉ có duy nhất máy bay tuần tra PZL M28 có thể hạ cánh trên sân bay Trường Sa lớn.
PZL M28 là loại máy bay động cơ cánh quạt do hãng PZL Mielec (Ba Lan) thiết kế dành cho nhiệm vụ vận tải, tuần tra biển, tìm kiếm cứu nạn. M28 trang bị cho Việt Nam được trang bị hệ thống radar trinh sát ARS-400 có tầm quét tới 160km, tìm kiếm đồng thời 30 mục tiêu trên biển và đất liền.
PZL M28 là loại máy bay động cơ cánh quạt do hãng PZL Mielec (Ba Lan) thiết kế dành cho nhiệm vụ vận tải, tuần tra biển, tìm kiếm cứu nạn. M28 trang bị cho Việt Nam được trang bị hệ thống radar trinh sát ARS-400 có tầm quét tới 160km, tìm kiếm đồng thời 30 mục tiêu trên biển và đất liền.
Ngày 12/5/2005, máy bay PZL M28 của Không quân Nhân dân Việt Nam đã hạ cánh thành công xuống sân bay ở đảo Trường Sa lớn (quần đảo Trường Sa).
Ngày 12/5/2005, máy bay PZL M28 của Không quân Nhân dân Việt Nam đã hạ cánh thành công xuống sân bay ở đảo Trường Sa lớn (quần đảo Trường Sa).
Ngoài PZL M28, Không quân Nhân dân Việt Nam đã điều động nhiều chuyến trực thăng Mi-8/17 đưa các đoàn công tác ra đảo Trường Sa lớn.
Ngoài PZL M28, Không quân Nhân dân Việt Nam đã điều động nhiều chuyến trực thăng Mi-8/17 đưa các đoàn công tác ra đảo Trường Sa lớn.