Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

Khoa Địa Lý Phong Thủy



Về khoa địa lý có những tài liệu quí giá cho việc khảo cứu, nhưng không thực dông nên chưa in thành sách. Lần này chúng tôi khởi giới thiệu tài liệu “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự” là tập tài liệu nói về các kiểu đất kết bên Việt nam mà Cao Biền trình về vua Đường Trung Tông. Những đất nói trong tập này có ngàn kiểu mà Cao Biền mới yểm được một số ít đất Đế vương quí địa còn cả ngàn đất Công hầu, Khanh tướng vẫn còn nguyên vẹn. Các cụ xưa giữ sách này làm gia bảo và theo nó tìm cho ra đất kết dành cho họ hàng mình dùng khi cần đến.

Xuất xứ sách
Xưa kia về đời Vua Đường Trung Tông bên Tàu có Cao Biền được phong là “An nam tiết độ sứ” sang đô hộ nước ta, là người rất giỏi địa lý được vua Tàu uỷ cho sứ mạng trình về vua biết các kiểu đất bên Việt nam và yểm phá các đất kết lớn nào khả dĩ có ảnh hưởng cho Trung Quốc.
Sau khi nhận chức và khảo sát địa lý bên Việt nam, Cao Biền thấy nước ta có nhiều đất phát rất lớn có thể tạo nên những bậc tài giái mà sự nghiệp khả dị ảnh hưởng cho Trung Quốc trong vấn đề Nam tiến biên soạn tập “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự” này trình về vua Đường đồng thời dùng phép yểm phá một số Long mạch có đất kết lớn. Truyền thuyết có nói trước khi yểm một kiểu đất nào Cao Biền thường phô đồng để kều các vị thần cai quản khu vực đó nhập vào đồng Nam, đồng Nữ rồi trừ đi sau đó mới ra yểm đất. Cũng theo truyền thuyết Cao Biền có yểm được một số ít đất lớn song cũng bị thất bại trước nhiều vị thần linh trong đó đáng kể nhất là “Tản viên sơn Thần” và “Tô lịch giang Thần” (núi Tản viên thuộc huyện Bất Bạt tỉnh Sơn tây và sông Tô lịch chảy qua Hà nội ở Ô Cầu Giấy (gần làng Láng). Đền Bạch Mã ở Hàng Lược Hà Nội là đền thờ thần Tô Lịch.
Trải qua Đường Tống đến đời nhà Minh có Trương Phô, Mộc Thạch và Hoàng Phúc là ba danh tướng Trung Hoa được Minh đế cho kéo quân sang Việt nam bề ngoài với danh nghĩa phò hậu Trần diệt Hồ nhưng bên trong có mang một kế hoạch diệt chủng người Việt và đổi nước ta thành quận huyện của Trung Quốc. Kế hoạch này tỉ mỉ và thâm độc hơn những kế hoạch tương tự mà người Hán đã làm từ xưa đến giờ.Trong số 3 danh tướng Trung Hoa này thì Hoàng Phúc là người rất giỏi địa lý có mang theo “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự” sang duyệt xét lại và yểm nốt những đất kết lớn nào còn sót lại cho Việt nam không thể còn có những thế hệ thịnh trị sản sinh ra được những nhân tài xuất chúng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo đã làm khó khăn cho Trung Quốc như trong thời đại Lý và Trần vừa qua. May thay Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã khôn khéo và kiên trì lãnh đạo cuộc kháng Minh đến thành công sau 10 năm gian khổ. Khi bắt sống được Hoàng Phúc ta thu được toàn bộ tài liệu của kế hoạch nêu trên trong đó có cả tập “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự”.
Bây giờ tập sách này trở nên một tài liệu vô cùng quý giá cho ta trên nhiều phương diện: Sử liệu, chính trị, địa lý.
1. Trên phương diện sử liệu nó là một sử liệu cổ xưa có giá trị. Tài liệu này soạn thảo từ ngàn năm trước.
2. Trên phương diện chính trị: Nó là tài liệu chứng minh một cách cụ thể chính sách người Hán và tham vọng của họ với dân tộc Việt nam.
3. Trên phương diện địa lý: Nó là một áng văn tuyệt tác về phép mô tả các kiểu đất kết mà các cụ xưa kia thường dùng để soi sáng cho việc học “Tầm Long”. Chúng tôi đã thấy và có nghe nói nhiều đến các cụ địa lý, hơn nữa cả bọn thanh niên để cả chôc năm liên tiếp với chiếc ô (dù) và tay nải đi hết làng nọ sang làng kia, tỉnh này sang tỉnh khác nghiên cứu thực hành “Tầm Long mạch” qua sự chỉ dẫn địa danh và thế đất mô tả trong “Cao Biền địa lý tấu thư kiều tự”. Quyền địa đạo diễn ca của cụ TẢ AO mà chúng tôi biên nơi đây chú trọng đến việc tầm Long tróc mạch nên chúng tôi xin cống hiến quý bạn một phần đầu quyển “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự”.
Cao Biền đề cập đến 632 huyệt chính và 1517 huyệt bàng của các tỉnh.
Hà Đông
81 chính
246 bàng
Sơn Tây
36 chính
85 bàng
Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ
65 chính
155 bàng
Hải Dương, Hưng Yên, Kiến An
183 chính
483 bàng
Gia Lâm, Bắc Ninh, Đáp Cầu, Bắc Giang, Lạng Sơn
134 chính
223 bàng
Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình
133 chính
325 bàng
Cộng
632 chính
1517 bàng
Sách này có ghi chép tuần tự các huyệt của từng tỉnh, ghi râ nó tọa lạc tại huyện xã, ấp nào nêu các cụ ngày xưa theo đó học “Tầm Long” tróc mạch dễ dàng.
Phần đầu đề cập đến tỉnh Hà Đông trong đó có 81 huyệt chính và 246 huyệt bàng.
- Huyện Thanh Oai
9 chính
26 bàng
- Chương Đức (Chương Mỹ và Mỹ Đức)
11 chính
34 bàng
- Sơn Minh (ứng Hoà)
9 chính
26 bàng
- Hoài An
6 chính
19 bàng
- Thanh Trì
11 chính
41 bàng
- Thường Tín
11 chính
41 bàng
- Phú Xuyên
7 chính
20 bàng
- Từ Liêm
11 chính
34 bàng
- Đan Phượng
5 chính
13 bàng
Cộng
81 chính
246 bàng
ở những tay Long Hổ án sa.v..v.. của những huyệt chính thường có những huyệt kết khác nữa gọi là kết bàng. Nơi nào có ghi thêm C/B2 hay C/B3 hoặc C/B4.. ở cạnh địa danh có nghĩa là đây là huyện chính và kiểu đất này còn có 2 hay 3 hay 4 huyệt kết bàng nữa (sách chỉ nói đến huyện chính).ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu kiểu đất ở hai huyện Thanh Trì và Chương Đức để làm tài liệu phô khảo. Chúng tôi sẽ in toàn bộ thành sách sau khi được bàn luận với các vị đã khảo sát thực tế các đất ghi trong sách “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự”
Cao biền tấu thư địa lý kiều tự
Việt tự tích Đường Trung Tông thời, Cao Biền vi Thái- sử chỉ ý tôn thời tình hữu Giao Châu chi Quận Huyện, đế tư cập úy Đà, xưng thần cự Hán chi cố sự, Cao Biền vi An Nam Đô hộ sứ. Biền tương vãng, chi thời, đế triệu nhập ngự điện vị viết. Công học địa lý tới vi linh diệu, trẫm văn: An - Nam đa hữu thiên tử quý địa, công dương dông lực ngô môc, hoặc hữu áp chi triễn binh sinh chi kinh luân thuật thánh hiền chi qui củ, đoạt thần công nhi cải thiên mệnh, nhiên vi tiễu thảo trừ căn, chi đồ thứ cơ vô hậu tệ, tường suy phong thuỷ, biến lãm sơn xuyên, nhất nhất diễn ca lập kiều, Trẫm đắc tiễn văn giả. Cao Biền thô mệnh nhi khứ, trực đế An Nam kế giữ mộc chi vi phi diện chi pháp, tự thừa kú thượng, án muông trung nhi du quan, tầm Long nhận mạch sở kiến nam quốc hình thế đại cán hành Long lưìng chi thiền chiều tịnh tiến. Nhất hữu chi Long, khởi tự ải quan, phân mao Sơn Hựu biệt sinh: tả, hữu, trung, nam nhi chi giáng, Long mạch phân chi, chi các hữu phái, tĩnh âm, tĩnh dương, Long Hổ khí chung, càn khôn đạo hợp nãi thị địa linh nhân kiệt, nguy nhiên thánh hiền, thần võ chi hồng lượng mỹ kỷ Biền tự trầm ngâm khẩu quyết, mặc thức tâm cơ, huyết mạch u huyền, cường lực dũ ra áp chi bất đắc, cố bất cảm động. Đông Tự nam hải đằng giang, Tây tự. -Tiểu khê lão cực Nam Việt Quảng Hà, Nam Xiêm Thành, Bắc Tự Quảng Hà, Đồng Xá, hệ đại huyết mạch các cụ c vi ngũ ngôn ca, kú thứ huyết mạch các cụ c, vi thứ ngôn ca, tha thư tiểu mạch giả bất túc lập luận cố sĩ hậu lai sảo tâm minh môc, quảng thị trí lực, vi khởi dô chi diệu doan túc kú.
Giao Châu Đô Hộ sứ, thần Cao Biền cẩn tấu vi bản châu địa mạch thế hình thế sự, thần hạnh phát dư sinh thao ty hà nhưìng, thượng tự thám sơn, hạ chí đại hải, ngưìng quan phủ sát, phát tận chân cá, kú tự thiên hữu, cảm bất khánh kiệt sở kiến văn, thượng tự đế vương, vương công - công hầu, vương phi, thứ thần đồng, tú tài, khoa đệ, phú quý phát vinh các cụ c trạch ca trần tấu, vi chi thị phủ, phôc khất phủ lãm giao quan chi khí, kiến văn cụ lôc.
Hà Đông
Thanh oai: 9 chính, 26 bàng
1. Đệ nhất: Thanh Oai Phong (C/A4) ấp Trung Thanh Uy hình thế tối kú thuỷ lưu tư vương, án khởi tam quy, mạch tồng hữu kết, khí địng tả y, thần đồng tiến lập, quỷ sứ, hậu, tú khôi khoa tảo chiếm, phúc lợi vinh tuy, tu phòng mạch tận, thừa sự vô nhi.
2. Đệ nhị: Cao Xá Phong (C/B2) Thanh Oai Cao Xá, chân vi qui Long, thuỷ khê tuú mạch, bình dương lái tung, hoa khai hữu Hổ, tinh hiện tả Long, sơn thuỷ trù mật khí thế sung giong, hà tu hộp hải, ngưu giác loan cung, chủ khách hoàn mỹ, tả hữu hộ tòng, hoa tâm khả hạ, thế xuất anh hùng, Vô Lăng văn khôi khoa giáp. võ tổng binh nhung, phú qíu thọ khảo, kiêm hữu kú công.
3. Đệ tam: Vô Lăng phong (C/B2) Thanh Oai bình thế khả sung, tả sơn Thuận Giang, hữu thuỷ nghịch thăng, đường tám tích ngọc, án diện phó tầng, cân thuỷ chức kết, viễn sơn từng lăng, tHổ tinh lạc sử, cát huyết thi bằng, nhược năng hiện nhận, khoa đệ diệp đăng.
4. Đệ tứ : Cổ Hoạch phong (C/B2) Thanh Oai Cổ Hoạch, đoản hình tràng nhạo, thế giắng hữu cung, mạch sinh tả giúc, bút giả sâm van đốn sang sáp ngọc, hữu thuỷ tám hoành, tả sơn hồi thác, phân minh ký cổ, la hệt thành quách, văn chủng khôi khoa, võ chuyên tướng trách, nội thế tuy giai, ngoại hình cân bách, nọa khởi nhân chiếu, nghiệt do kỷ tác.
5. Đệ ngũ: Đại Định Phong (C/B6) Thanh Oai Đại Dịnh di tích kú tung, Long hoả Hổ hoả, chủ tòng khách tòng, tiểu giang dẫn mạch, Bình địa sinh phong, sơn thuận sơn nghịch, thuỷ chủ thuỷ sung, quần sơn điệp điệp, chủng thuỷ trùng trùng, trầm hết khúc thời, tái bút giả giong, thừa dư thủ túc, huyệt tại Viên trung, văn chiếm khoa giáp, võ tổng binh nhung bằng hữu huyệt quái, âm mạch khí chung nữ phát phi hậu, phú quý xương Long.
6. Đệ lôc: Kim Bài phong (C/B4) Thanh Oai Kim Bài, lưìng phương phi lai, song đồng hoàn trì, lúc tử nhập hoại, nội hình tương ứng, nội thế tương lai, thiềm tâm khí kết, Long não tinh ta, chủ minh khách mỹ, sơn tĩnh thuỷ giai, huyệt cư trung cấp, táng pháp vô sai, võ xuất khanh tương, văn trạc khoa đài.
7. Đệ thất: Bối Khê phong (C/B2) Bối Khê chi địa hình như thào xà, sơn thuỷ chức kết, Long Hổ bài nha, văn bút đảo địa, bình dương khai da, viên phô giáng thế, giang thuỷ giao la, hà tu giới thuỷ, thiên dực loan xa, thế xuất khanh tướng, đại đại vinh hoa.
8. Đệ bát: Sinh Quả phong (C/B4) Thanh Oai Sinh Quả cát địa diệc khả, Hổ sơn Long hồi, Long sơn Hổ hoá, đại phô khí tàng, tiểu khê quan toà, bác hoàn vi ký tiễn tài lương bạ, đảo trạc khôi khoa, viên đằng thanh giá, hiềm thuỷ phân lưu, dông chung hữu xả.
9. Đệ cửu: Bảo- Đà phong (C/B4) Bảo Đà Thanh Uy thuỷ thế my thi, đại giang loan quả, tiêu thuỷ chứng quy, lôc năng chiều hội lương phương giao phi, văn tinh tiền án, viên phủ hậu thuỷ, huyệt tại chung cấp, thừa dư khả y công hầu thế xuất, hào kiệt tế thi, danh cao Hổ tưởng, vi chốn hoa dị, nhược tàng Long dịch, nữ vương phi, nam chủng khoa giáp, phát đạt vô nghi.

Chương Đức (Chương Đức và Mỹ Đức) 11 chính 34 bàng.
1. Đệ nhất: Vĩnh - Lữ phong (C/B6) Chương Đức Vĩnh Lữ ký mạch cân tự, tư thế cao sơn, chung thuỷ đệ trư huynh đệ tương đăng, quần thần tương giữ, huyệt thử túc dư, danh khôi khoa cử, thừa hưởng thiên nhiên, vô yêu trát sự.
2. Đệ nhị: Cống - Khê phong (?) Cống - Khê Chương Đức - hình thế khả kú, tứ sơn giai củng, chúng thuỷ hàm quy, Long trùng hồ điệp, chủ nghinh khách tuú, xa sinh trầm hốt, thuỷ hội nghiên trì, cao sơn thủ túc, phú quý vô nghi, nam phát võ tướng, nữ phát cung phi, nam nữ giai quý, phúc lộc vĩnh tuy.
3. Đệ tam: Thanh - Động phong (?) Chương - Đức Thanh - áng (nay thuộc ứng Hoà), canh lưìng Long lai, đại hà vệ khí, ngọc nữ hoài thai, Long Hổ Chiều Củng, hình thế phô bài, la liệt thành quách, hiệu khiết lâu đài, chử minh khách mỹ, thuỷ tĩnh sơn giai, đường thiên thuỷ đề, án cao sơn nhai, thuỷ Long dư nhũ, cát huyệt khả tài, võ sinh tướng suý, văn chiếm khoa đài đại địa cực quý đoán dịch vô sai.
4. Đệ tứ: Chi - Nê Phong (C/B2) (Nay cải tổ sơn xã Chương Đức) Chương Đức - Chi - Nê, sơn hình võ trô, Long hồi Hổ hoàn, mạch tàng khi tô, hạ hợp thương phân, tả giao hữu cố, án đới Hổ yêu phong sinh Long thử, khí kết hoa tâm, huyệt tòng Long nhũ thế xuất Công Khanh, sĩ lăng tề phô.
5. Đệ ngũ: Lai -Tảo Phong (C/B3) Chương Đức Lai Tảo địa hình diệc hảo khí như tuyến hồi, mạch như sà thảo, bình dương sơn loan, đại hà thuỷ đáo, chủ khách chuy tuú, Long Hồ hoàn bão, huyệt tại hoa tâm, Mạc tài Long não, thế xuất Công khanh phú quý (xuất) cảo.
6. Đệ lôc: Tiểu ứng Phong (C/b3). Tiểu - ứng Chương Đức, Phượng tường lưìng dực thuỷ tô trùng trùng, sơn sai sực sực, vạn thuỷ thiên sơn, tam hoành tứ trực, thảo vị khí tài, hoa tâm khả thực, văn võ phát vinh, tam công vi cực, phú quý thời ưu, đại đại phó tức.
7. Đệ thất: Liễu - Nội phong (C/B5). Liễu Nội chí địa, thị diệc quý Long, âm sơn bái tướng, dương sơn phú trung, Long hoá Hổ hoá, Long trùng Hổ trùng, chúng thuỷ lưu trữ, quần sơn la tung, huyệt tại thượng phúc, võ chí hậu phong, nữ phát hậu phi, phú quý xương Long, trung hữu cát huyệt, án đới thanh Long, tam thai chu tước, văn sĩ tam công.
8. Đệ bát: Tràng - Cốc phong (C/B6) Địa danh tràng - cốc, hình như phượng hoàng, nội kú, ngoại cổ, tiền cương, hậu giang, Long Hổ hoàn não, chủ khách huy hoàng, bình nguyên thuỷ diệu, viên phô khí tàng, thế xuất võ tướng, vị chí hầu vương.
9. Đệ cửu: Yên - Ninh phong (C/B2) Chương Đức yên Ninh, khí tô Long đình, tả toàn hữu cố, Hổ ẩn Long sinh, sơn họp thuỷ chỉ, khách tựa chủ nghinh, huyền quy ứng hậu, chu tước bái đình, huyệt tại chung cấp, Công hầu phát sinh kế thế võ tướng, kiêm vương nhân đinh.
10. Đệ thập: Do - Lễ phong (C/B2) Chương Đức Do - Lề, chân Long sở sỹ chi đại lâm loan sơn, thâm dầm chú thuỷ, tiểu giang tế Long, đại hà dưìng khí, Long Hổ bài nha, quân thần giao hỷ, huyệt tại Viện trung, Công hầu đăng đối, phú quý kiêm ưu, khả vi toàn mỹ
11. Đệ thập nhất: Chúc - Sơn phong (C/B1) Chương Đức Chúc - Sơn (nay thuộc Chương Mỹ) Hổ Long hồi hoàn, tiền hữu thuỷ chữ hậu hữ sơn loan, đại hà dẫn mạch, hồng kú chấn quan, hình thế tương hợp, chủ khách tương hoàn, huyệt tai chung phúc, thế xuất cao quan, võ đa văn thiểu, văn toán chiêu ban.
Sơn Minh (ứng Hoà) 9 chính 26 bàng
1. Đệ nhất: Xà - Kiều phong (C/B4) Sơn Minh Xà Kiều hình như phượng vũ, giang lưu thoát tung, tinh phong nhạc nhũ, thiên thể dung tâm, địa khí danh ngũ, Hổ báo Loan đầu, Long đoàn cung thủ, khanh tướng thời sinh, khả văn, khả vũ, vị liệt thai đặc danh cao suý phú.
2. Đệ nhị: Lưu - Khê phong.(C/B2) Sơn Minh Lưu Khê, án chính sơn tề, quy tàn bích động, hoa thì kim chỉ, sơn thuỷ loan cung Long Hổ giao thi, âm lai dương thô, huyệt tòng tả y: thế xuất Khanh tướng, phát lộc trùng lai.
3. Đệ tam: Đông - Phỉ phong (C/B2 Sơn Minh Đông Phi Long Hổ giao tý, tứ thuỷ nhập hoài, bát thần vệ khí tam cấp mạch sinh, ngũ thốn sơn trỉ huyệt tại thừa dư, chủ đăng khoa sỹ, vị liệt Công khanh, phúc lộc phú quý.
4. Đệ tứ: Tảo- Khê phong (C/B4) Tảo - Khê chân Long hình thể sung giong, Long bàn Hổ hoá, thuỷ tam sơn cùng đại khê dẫn mạch, bình địa sinh phong, tam thai hoãn trí, chúng thuỷ chiều, cung thiên chung viên tọa, thế thượng bầu công, đại đại phú quý, phúc lộc xương Long.
5. Đệ ngũ: Dương - Khê phong (C/B7) Dương khê chí địa, hình thế khả quan, sơn chỉ thuỷ tô, Hổ cứ Long bàn, tiền phân tam thuỷ, hậu ứng quần sơn, tả hữu đang đối, chủ khách tương hoan, hoa tâm khả hạ, thảo vi khá an, thế xuất khanh tướng, phú quý bình an.
6. Đệ lục: Đông - Dương phong (C/B1) Sơn Minh Đông Dương. Thế giáng bình dương, Long vệ tống mạch, Hổ báo chiều tương, kú cổ bài liệt, hình thế la chương, sơn tòng hữu đáo, dứt giá Long bàng, huyệt tại chung cấp, thừa khí khả tàng, thế xuất khoa, giáp vi cận quân vương.
7. Đệ thất: Tử Dương phong (C/B3) Sơn Minh Tử Dương, thế chính hình ngang, thuỷ đàm Long khẩu, sơn dôc Hổ giáng, thuỷ chiều sơn bão, thai án châu trang, tả hữu trù mật, chủ khách huy hoàng khí thuú dư tức huyệt tại cung tràng, thế xuất Khanh tướng, cần hậu quận vương, nhược thuỷ viên nhũ, khi phát phi hoàng, nam nữ toàn mỹ, phú quý vinh xương hiện như bất thực, khủng sinh bất tường (có giả huyệt) tất thô tai ương.
8. Đệ bát: Đạo Tú phong (C/B4) Sơn Minh Đao Tú, Long hoàn Hổ cố, hình thế bài nha, khí mạch ngưng chủ hữu sơn bái chiều, tả giang chiều hộ, thuỷ nội ấn phù, đường tâm khí huyệt tại Tốn sơn, thời sinh tể phô, thuận nghịch lượng thủ, nam nữ cẩn ưu, tùy thích an.
9. Đệ cửu: Sơn Minh phong (C/B3) Sơn Minh khí chuẩn Long Hổ phù cung đại giáng chiết thuỷ, bình dương lại tung, hoa khai đoá đoá, tinh hiện trùng trùng, khi trông thảo vĩ, huyệt tại viên chung, chử phát Khanh tướng đại đại vô cùng.
“....Những ngôi đất kết có ngôi chỉ phát âm phần (mả) lại có ngôi chỉ phát về dương cơ (làm nhà) Đất phát âm dùng lợi cho sự chôn xương xuống đất và đất phát dương cơ lợi cho sự làm nhà lên trên, đất dương cơ nhá dùng làm nhà còn to rộng lợi làm doanh trại, rộng hơn nữa lợi cho sự làm thị trấn đô thị hoặc kinh đô”.
Kết Luận
(113) Thấy đâu Long Hổ chiều lai
(114) Minh đường thuỷ tô huyệt tài mới hay
(115) Tiền quan, hậu quỷ sắp bầy
(116) án dày muốn thấp, Chiều dày phải cao
(117) Xem huyệt nào làm cho phải phép
(118) Chớ đào sâu mà thiệt như không
(119) Kìa ai địa lý “Vô tông”
(120) Chẳng cứ đúng phép cùng giòng “vô sư”

Tới đây là phần kết luận phần này có 8 câu thì 4 câu đầu ôn lại đại cương một huyệt kết và 4 câu dưới là kết luận của quyển địa đạo diễn ca này. Trong bốn câu đầu cụ TẢ AO nói sau khi tầm Long thấy huyệt kết rồi, phải xem có Thanh long bên trái và Bạch hổ bên phải chầu vào huyệt.
(113) Thấy đâu Long Hổ chiều lai
Rồi trước huyệt phải có Minh đường có nước tô ở đó.
(114) Minh đường thuỷ tô huyệt tài mới hay
Trước và sau huyệt phải có tiền quan hậu quỷ nghinh tống. Tiền quan là trước huyệt thì nghinh đón và hậu quỷ là sau huyệt thì hộ tống. Quan quỷ là các chứng ứng nổi lên trước và sau huyệt để thêm tôn quý, nó là các sơn có nhiều hình thể khác nhau giống hình gì thì gọi là hình đó như Bút, Kiếm, ấn, Voi, Ngựa, Chiêng, Trống.v.v.. ở trước và sau huyệt
(115) Tiền quan, hậu quỷ sắp bầy
Ba câu 113, 114,115 là tóm tắt những điều quan trọng cho một huyệt kết. Cụ TẢ AO đã tả nó một cách nôm na hơn như sau
Hai bên ruộng đỗ, dưới có lỗ cấy chiêm
Đôi bên lưìi liềm quay lại
Nghĩa là người tầm Long theo mạch đất, xuống theo chiều nước chảy (hay xuôi theo chiều ruộng cao xuống chiều ruộng thấp) mà lần mò cho tới nơi có đất kết (nơi Long đình khí chỉ) nếu thấy chỗ đó có ruộng cấy chiêm mà hai bên có ruộng trắng màu như ngô khoai đỗ “Bên trên ruộng đỗ, dưới có lỗ cấy chiêm”
Lại nhìn hai bên ruộng đỗ nếu là hai tay Long Hổ thì nó phải ôm chầu vào huyệt trông như hai cái lưìi liềm quơ lại : “Đôi bên lưìi liềm quơ lại” thì chỗ đó là đất kết vì lỗ cây chiêm là Minh đường và ruộng đỗ, ruộng màu hai bên là Long Hổ.Trên là sự cân đối về bề mặt còn về chiều cao thấp của một kiểu đất kết cũng phải có thứ tự hữu lý như sau:Bao nhiêu những gò đồng, chứng ứng gần huyệt như án phải cao bằng từ mặt đến rốn người ngồi ở huyệt còn chứng ứng ở xa thì phải theo thứ tự càng xa càng cao.
(116) án dày muốn thấp chiều dày phải cao
Có nghĩa là án so sánh với chiều thì án phải thấp hơn chiều, chiều là gò đống ở xa chầu về và án là gò đống ở trước huyệt chầu về. Còn 4 câu chót hai câu trên cụ TẢ AO nhắn nhủ ta phải cẩn thận về việc đào huyệt
(117) Xem huyệt nào làm cho phải phép
(118) Chớ đào sâu mà thiệt như không
Một huyệt đào nông quá thì lâu mới quản khí mà đào sâu quá thì khí mạch đi mất, có huyệt kết cũng như không.Thật ra huyệt đào nông sâu thì phải cân nhắc theo chiều cao của Minh đường, án, Long, Hổ, nước âm mạch và giao thổ mới đúng.Tuy nhiên nếu lấy giao thổ làm đích thì cũng không mấy khi háng. Giao thổ là những lớp đất thứ hai và thứ ba (nếu lớp đất trên cùng là do lá bôi lâu năm phủ lên)Ta đã biết là đào nông thì lâu kết mà đào sâu quá thì mất cả, vậy nên nhằm chiều nông hơn nhằm chiều sâu.
Tất cả những gì đã trình bày từ câu thứ nhất đến câu 118 với sự bố cụ c của soạn giả có thể giúp các bạn ưa khoa này nắm được một số yếu lý cơ bản của khoa địa lý, mà đây thuộc về loại địa lý “Chính tông”. Với số vốn quí giá này đây dùng làm tài liệu để học thêm các sách địa lý cũng có thể phân biệt điều đúng điều sai. Khoa địa lý gần như thất truyền phép chính tông nên các cụ gặp man thư hay man ngôn rất nhiều. Có man thư và man ngôn tất nhiên phải có man sư là loại thầy địa lý không phải chính tông. Họ không giúp ích được cho người để đất mà nhiều khi gây tai hoạ cho dòng họ nhờ thầy để đất nữa. Loại thầy được truyền nghề không phải chính tông cụ TẢ AO gọi là “vô tông”.Còn loại thầy địa lý tự học lấy dù có vài khi đúng phép. Song không được toàn vẹn cụ TẢ AO gọi là “Vô sư”. Do đó cụ TẢ AO phê bình như trên ở câu cuối cùng.
(119) Kìa ai địa lý “vô tông”.
(120) Chẳng cứ đúng phép cũng dòng “vô sư”.
Và cũng sợ khoa địa lý trở nên tàn tạ vì những man thư nên tác giả cố gắng, chỉ trình bày những gì là chính tông. Những gì viết ở quyển này đã được các nhà địa lý chính tông và tài giỏi đã cân nhắc sửa chữa nhiều lần. Những chi tiết nào mơ hồ hay có thể đưa đến sự sai lầm thì dù có hay mấy chúng tôi không để ở quyền địa lý nhập môn này. Ngày nay kiếm được thầy địa lý chính tông để học khoa địa lý thật khó nhưng sách địa lý này có thể đảm bảo là chính tông có thể dùng xác định được sự đúng sai của các sách địa lý khác.
Hiểu đến đây các bạn đã tạm đủ ý thức căn bản địa lý của các người mới học. Cần theo lời cụ TẢ AO ở câu: “Chẳng qua ra đến ngoài đồng, tỏ mạch, tỏ nước, tỏ Long mới tường” mà tập thực hành tầm Long tróc mạch ở ngoài trời, ngoài đồng để cho quen việc tìm ra huyệt tràng và huyệt kết. Mới đầu chưa cần dùng đến la kinh mà chỉ cần dùng đến cái tróc Long có kim chỉ nam ở giữa và ba vòng thiên bàn, địa bàn, nhân bàn là để các bạn có thể tự làm lấy một cái tróc Long bằng cách dùng một cái cái kim chỉ nam đặt vào giữa một miếng các tông có ba vòng tròn như đã nói ở trên.


Nói về lý khí
(97) Muốn cho con trưởng phát tiên
(98) Thì tìm Long nội đất liền quá cung
(99) Thanh Long liên châu cao phong
(100) Kim tinh thổ phô phát dòng trưởng nam
(101) Con gái về bên Hổ sơn
(102) Hồ cao thì phát sơn bàn cho thông
(103) Phản Hổ con gái lợn chồng
(104) Phản Long trai nó ra lòng bất nhân
(105) Vô Long như người vô chân
(106) Vô Hổ như đứa ở trần không tay
(107) Trông Long Hổ lấy làm thầy trước
(108) Sau sẽ tìm thấy chỗ huyệt chôn
(109) Nước chẳng tô đường kể chi
(110) Kiếm ăn cũng khá xong thì lại không
(111) Con trai thì ở bất trung
(112) Con gái thất tiết chả dùng cả hai

Phần này cụ TẢ AO đề cập đến lý khí
Các thế Long đi ở Việt Nam hay tạo ra những kiểu đất “Trưởng bại thứ thành” nghĩa là con trưởng nghèo khó và con thứ lại giàu sang quyền quý. Nhiều người để đất muốn xin thầy kiếm cho ngôi đất nâng ngành trưởng lên. Cụ TẢ AO chỉ cho phép tìm đất cho con trưởng phát dưới đây
(97) Muốn cho con trưởng phát tiên
(98) Thì tìm Long nội đất liền quá cung
Có nghĩa là muốn cho con trưởng phát trước thì nên tìm hiểu đất mà tay Long ở bên trong cùng tức là Long nội (Nhiều kiểu đất có nhiều tầng Long hổ) dài ra ôm vòng trước án hay tay Long có đoạn cuối nổi lên như cái gò làm án. Được kiểu đất như vậy con trưởng sẽ phát trước con thứ. Trên kia là cách để đất cho con trưởng phát, nhưng nếu muốn con trưởng phát lớn thì phải kiếm đất.
(99) Thanh Long Liên châu Cao phong
(100) Kim tinh Thổ phô phát dòng trưởng nam
Đó là kiểu đất trên tay Long nổi lên những ô cao tròn liền nhau (Liên châu Cao phong). Trên tay Long có gò cao tròn (Kim) hay vuông (Hổ) cũng đều tốt
Còn nói đến con gái và em thứ thì phải nói đến tay Hổ
(101) Con gái về bên Hổ sơn
(102) Hồ cao thì phát sơn bàn cho thông
Hổ sơn là tay Hổ của huyệt, nó là tay phải của huyệt ôm vòng vào trước huyệt. Tay Hổ có ô cao thì tốt, Long càng dài nhọn thì Hổ càng cao, thuú đầu càng tốt. Trên tay Hổ có khúc nào cao lên đúng vị trí cần thiết ứng vào gái trưởng, gái thứ, gái út thì người con gái đó sẽ phát. ở hướng Tốn con gái trưởng phát, ở hướng Ly con gái thứ phát, hướng Đoài con gái út phát. Câu “Hổ cao thì phát ” đã nói rồi còn “Sơn bàn cho thông ” ta phải hiểu rằng cụ TẢ AO khuyên ta nên hiểu và biết cắt nghĩa cho thông hình dáng của núi gò đống. Tất cả gọi là sơn bàn của cuộc đất. Tay Long và tay Hổ còn phải luôn luôn ôm chầu vào huyệt. Nếu tay Long Hổ quay ra (phản Long hay phản Hổ) hoặc phá nhau, đâm vào nhau Long Hổ kinh quyền) thì rất xấu. Cụ TẢ AO cắt nghĩa ở câu:
(103) Phản Hổ con gái lợn chồng
1) Phản Long trai nó ra lòng bất nhân
2) Đất phản Hổ thì con gái không được đoan chính hay đường chồng con rất xấu. Nếu không con gái cũng bị tai nạn hình thương. Còn đất phản Long thì con trai lông bông vô tình với gia đình với xã hội hoặc bất nhân hoặc bạc ác hay bị khắc hại
3) Phản Long phản Hổ đã bàn rồi thế mà Long Hổ nhiều khi cũng xảy ra trường hợp đặc biệt nữa như kiểu đất thiếu một tay Long hoặc một tay Hổ.
(105) Vô Long như người vô chân
(106) Vô Hổ như đứa ở trần không tay
Thật vậy trong một kiểu đất dù kết mà thiếu một tay Long hay một tay Hổ trông nó lệch lạc khó coi làm sao. Khi nhìn ta có cảm tưởng như nhìn một người thiếu một tay hay thiếu một chân. Đây là loại đất đặc biệt vô Long vô Hổ thì có tội nhưng thay vào tay Long tay Hổ khiếm khuyết đó mà có một dòng nước hay ngoại Long ngoại Hổ bổ khuyết vào thì cũng có thể có đất to. Tuy nhiên đất này đôi khi trong nhà trong dòng họ vẫn có người tội lỗi bệnh tật kinh niên. Như thế là họ gánh cái xấu cho những người khác. Họ là người đáng thương của dòng họ nào có kiểu đất vô Long hoặc vô Hổ. Long Hổ không cân đối ta cũng nên bàn thêm là. Đất có tay Long dài thì vượng về âm phần, đất có tay Hổ dài thì vượng về dương. Long Hổ là con cháu của nhà được đất kết nên phải cho là quan trọng. Do đó khi được đất kết rồi trước khi điểm huyệt phân kim cân nhắc lại Sơn bàn về Long Hổ cho kỹ.
(107) Trông Long Hổ lấy làm thầy trước
(108) Sau sẽ tìm thấy chỗ huyệt chôn
Phần linh tinh sau cùng này cụ TẢ AO nhấn lại và thăm ý kiến cho những gì quan trọng mà cụ đã nói qua ở trên. Sau khi nhấn thêm về Long Hổ rồi cụ lại đề cập đến Minh đường một lần nữa:
(109) Nước chẳng tô đường kể chi
(110) Kiếm ăn cũng khó xong thì lại không
(111) Con trai thì ở bất trung
(112) Con gái thất tiết chả dùng cả hai
Có nghĩa là Minh đường cần thiết là phải có thuỷ tô thì mới có tiền, mới giàu có được. Nếu Minh đường mà không có nước thì có làm cũng không hưởng.
(109) Nước chẳng tô đường kể chi
(110) Kiếm ăn cũng khó xong thì lại không.
Về phần của nước thì khi Minh đường có nước trong sẽ tốt hơn Minh đường có nước đôc. Minh đường rộng lớn quanh năm tô thuỷ mà lại trong đẹp như mặt gương là loại minh đường quý, con cái nhà đó sẽ học giái thông minh. Trái lại lòng Minh đường lệch lạc nghiêng lệch không tô nước thì ứng vào trai bất trung, gái bất tiết:
(111) Con trai thì ở bất trung
(112) Con gái thất tiết chả dùng cả hai
Cũng nên bàn thêm về nội Minh đường và ngoại Minh đường cho đầy đủ hơn. Ta đã biết trước huyệt có án Chiều về, cứ lấy án gần huyệt làm đích phân ra. Nội minh đường là loại Minh đường nằm trước huyệt sau án gần nhất. Còn ngoại Minh đường là những chỗ nước tô ở ngoài án đó. Có nội và ngoại Minh đường thì cũng có thể có nội án và ngoại án. Cần nhất là nội Minh đường phải có nước, còn ngoại Minh đường càng có nhiều càng tốt có ít cũng không sao. Đất to có 3 Minh Đường trở lên và không dưới 3 tầng Long Hổ.

Phước duyên của người được đất
(85) Ngôi Đế vương mặc trời chẳng giám.
(86) Huyệt Công khanh không kiếm ai cho.
(87) Đất khai hoa nhìn xem cho kỹ.
(88) Thấy thì làm chớ để lưu tâm.
(89) Trên sơn cước xa xăm cũng táng.
(90) Dưới bình dương nửa tháng cũng đi.
(91) Minh sinh ám tử vô di.
(92) Coi đi coi lại quản chi nhọc nhằn.
(93) Quả nhiên huyệt chính Long chân.
(94) Tiêu sa nạp, thuỷ chớ lầm một ly.
(95) Táng thôi phúc lý tuy chi.
(96) Trâm anh bất tuyệt thư thi gia truyền

Những kiểu đất quá lớn sinh được Thánh vương đã đành không giám nghĩ đến mà ngay những kiểu đất Đế vương những người ít đức cũng nên làm ngơ để cho trời sắp đặt.
(85) Ngôi Đế vương mặc trời chẳng giám.
Tuy nhiên ngôi Công hầu Khanh tướng không phải là không có những vị phúc đức có thể hy vọng lắm. Ngay những người phúc đức vừa phải nếu được ngôi đất Công hầu Khanh tướng mà biết tu thân tạo đức thì chỉ gặp gian nan, trắc trở một thời gian đầu rồi sau cũng được hưởng đất đó.
(86) Huyệt Công khanh không kiếm ai cho
ở những tay Long Hổ, án, sa những ngôi đất Đế vương có rất nhiều đất kết Công hầu Khanh tướng. Đó là kiểu bàng của triều chính.
(87) Đất khai hoa nhìn xem cho kỹ.
(88) Thấy thì làm chớ để lưu tâm.
(89) Trên sơn cước xa xăm cũng táng.
(90) Dưới bình dương nửa tháng cũng đi.
Hoa là phần tinh túy của cây do nhựa cây tạo ra thì đất có tô khí ở bên trong cũng có thể tô kết ở đâu để hiện ra huyệt kết: Oa, Kiềm, Nhũ, Đột những huyệt kết này là tinh hoa của đất hay là hoa địa. Đất khai hoa là kiểu đất kết, nếu thấy thì nên làm tuú duyên, tuú đức, cho những ai có duyên có đức.
(87) Đất khai hoa nhìn xem cho kỹ.
(88) Thấy thì làm chớ để lưu tâm.
Đã làm thì có ngại gì xa xăm mệt nhọc, sơn cước hay bình dương
(89) Trên sơn cước xa xăm cũng táng.
(90) Dưới bình dương nửa tháng cũng đi.
Kiếm được đất tốt rồi muốn để mả phải điểm huyệt. Điểm huyệt là kiếm chỗ nào tụ khí ở huyệt tràng mà chôn xương người chết xuống đó. Khi điểm huyệt phải phân kim làm sao thu được cái sáng cái tinh của Sa lẫn Thuỷ và tiêu diệt được khí ác khí xấu của Sa và Thuỷ đi. Làm như vậy gọi là thu minh sinh, phóng ám tử. Những sách địa lý viết tiếp của chúng tôi sẽ nói đến phân kim
(91) Minh sinh, ám tử vô di
Việc phân kim tức thu minh sinh, phóng ám tử rất khó khăn nhọc nhằn, vì phải cân nhắc cho thật kỹ, càng kỹ càng tốt, cần chỉ làm một lần cho xong tác phẩm đó chứ không thể để mả xuống rồi thấy sai đào lên làm lại
(92) Coi đi coi lại quản chi nhọc nhằn
Có huyệt tốt mà tiêu Sa nạp Thuỷ rất đúng không lầm lỗi gì cả thì:
(93) Quả nhiên huyệt chính Long chân
(94) Tiêu Sa nạp Thuỷ chớ lầm một ly
Táng xong ta phải mừng là phúc nhà đã giúp cho được đất có một phần và nhờ sự tận tâm của thầy địa lý. Bởi vì được đất rồi dù gia thế trước kia có hèn kém cũng có thể trở nên Trâm anh Thế phiệt, con cháu gần xa đều được hưởng. Đất phát văn thì làm quan văn, đất phát võ thì hiển đạt về võ nghiệp và đất phát phú thì giàu có đời đời
(95) Táng cho phúc lý tuy chi
(96) Trâm anh thế phiệt thư thi gia truyền.
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du nói nhà Kim Trọng được đát phát văn như “Nền phú quý bậc tài danh/Văn chương nếp đất thông minh tính trời/Thông tư tài mạo tuyệt vời/Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”Việc để đất là quan trọng như thế, cho nên những ai muốn đất tốt cho ông cha ta chớ nên coi thường. Muốn kiếm một ngôi đất lớn không phải là dễ trước tiên phải kiếm thầy giái sau nữa thầy địa lý phải kì công kiếm đất rồi điểm huyệt phân kim cho thật chu đáo, mới có hy vọng. Vì vậy đã mấy người được toại nguyện. Một thầy địa lý có khi phải dông công học hỏi, nghiên cứu cả đời người cũng chưa chắc đã làm toàn vẹn được, nếu họ không phải là học được phép địa lý chính tông. Thầy chính tông hiện nay rất khó kiếm nhưng địa đạo diễn ca của cụ TẢ AO mà chúng tôi trình bày đây đều được các cụ giỏi địa lý công nhận là căn bản chính tông địa lý. Chúng ta chỗ cần phát huy cho hết dụng ý của nó cũng là ích lợi lắm rồi.


tôn quý của cuộc đất

(71) Kìa như đất có ngũ tinh.
(72) Nhận xem cho biết tương sinh loan hoàn.
(73) Muốn cho con cháu nên quan.
(74) Thì tìm Thiên mã phương Nam đứng chầu
(75) Muốn cho kế thế công hầu.
(76) Thì tìm chiêng trống dàn chầu hai bên.
(77) Ngũ tinh cách tú chiều nguyên.
(78) Kim, Mộc, Thủy, Hoả, bốn bên Loan hoàn.
(79) Thổ tinh kết huyệt Trung ương.
(80) ấy đất sinh thánh sinh vương đời đời.
(81) Thiên sơn vạn thuỷ chiều lai.
(82) Can chi bát quái trong ngoài tôn nghinh.

(83) Nhị thập bát tú thiên tinh.
(84) Tại thiên chiếu huyệt rành rành chẳng sai.
Phần này bàn rộng về phép tương sinh của ngũ hành với khoa địa lý và những chứng ứng tôn thêm vẻ quý cho huyệt.
(71) Kìa như đất có ngũ tinh.
(72) Nhận xem cho biết tương sinh loan hoàn.
Có nghĩa là muốn suy xét rộng ngoài lẽ âm dương đã nói ở trên ta phải nắm vững thêm ngũ hành. Tất cả các hình thể của đất trước nhất là phải chú trọng đến năm hành là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ.
1- Hình tròn là Kim tinh hay con Kim.
2- Hình dài là Mộc tinh hay con Mộc.
3- Hình vuông Thổ tinh hay con Thổ.
4- Hình nhọn là Hoả tinh hay con Hoả.
5- Hình sóng gợn là Thuỷ tinh hay con Thuỷ.
Những con này có thể đứng hay nằm. Nếu là đồi cao thì đứng mà giải đất thấp thì nằm. Đứng phải nhìn theo trắc diện của người đứng ở huyệt kết và nằm phải nhằm theo bình diện của người ở trên cao giữa hình đất để nhìn xuống. Ngoài các loại chứng ứng cần thiết như Kiếm, ấn, Bút, Nghiên lại còn những chứng ứng tôn thêm vẻ quý cho kiểu như Ngựa; Voi, Lân, Trâu, Chiêng, Trống, Cờ, Đình, Đài,.v.v... những chứng ứng này hoặc tay Long, tay Hổ hoặc trước án hoặc ở thuỷ khẩu cũng được. Càng nhiều chứng ứng càng rộng bao la, càng có la thành bao bọc nhiều tầng càng lớn càng quí. Cụ TẢ AO lấy một ví dô chứng ứng là con Ngựa (Thiên mã).
(73) Muốn cho con cháu nên quan.
(74) Thì tìm Thiên Mã phương Nam đứng chầu.
Thiên mã ở tử vi thuộc Hoả, Hoả tinh và phương Nam cũng thuộc Hoả nên Thiên mã được chính vị là vượng nên có ảnh hưởng tốt cho huyệt kết. Cụ lấy chứng ứng là nhiều tầng Chiêng, Trống, Cờ bảng thì lớn hơn nữa.
(75) Muốn cho kế thế “Công hầu”
(76) Thì tìm cờ, trống giàn chầu hai bên
Rồi cụ TẢ AO đề cập đến kiểu đất quý nhất làm ví dô:
(77) Ngũ tinh cách tứ Chiều nguyên
(78) Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả bốn bên Loan hoàn
(79) Thổ tinh kết huyệt Trung ương
(80) Ấy đất sinh Thánh, sinh Vương đời đời
(81) Thiên, sơn vạn thuỷ Chiều lai
(82) Can chi bát quái trong ngoài tôn nghinh
(83) Nhị thập bát tú thiên tinh
(84) Tại thiên chiếu huyệt rành rành chẳng sai
Kiểu đất quý ở câu (77) đến câu (84) trên đây không sinh Thánh cũng sinh Vương có những đặc điểm như sau:
1- Giữa có Thổ tinh kết huyệt, phía Đông có con Mộc, phía Tây con Kim, phía Nam có con hoả và Bắc có con Thuỷ.
2- Nếu lớn thì phải có nhiều ngọn nước và nhiều núi chầu về
(81) Thiên sơn vạn thuỷ Chiều lai
3- Các chứng ứng chầu về đều nằm đúng chính vị theo ngũ hành:
(82) Can chi bát quái trong ngoài tôn nghinh.
Để ứng về tử vi trên trời có 28 vị sao chầu về
(83) Nhị thập bát tú thiên tinh.
(84) Tại thiên chiếu huyệt rành rành chẳng sai.
Cách qúi như trên sinh được Thánh vương rất khó kiếm nhưng được một phần cách đó cũng quí lắm rồi.
Đất phát công hầu
(75) Muốn cho kế thế “Công Hầu”
(76) Thì tìm Chiêng, Trống dàn chầu hai bên

Lời bàn:
Đất kết hình vuông (Thổ) lại thêm nhiều tầng Long Hổ có hình cờ, bảng Trống (ở tay Long) Chiêng (ở tay Hổ) ôm chầu. Về ngũ hành thấy Huyền Vũ hình Mộc (dài) sinh Hoả (nhọn). Hoả lại sinh Thổ (vuông) là nơi có huyệt trưởng. Huyệt trưởng vuông (Thổ) lại sinh ra chiêng trống hình tròn (Kim) dàn trải hai bên huyệt. Ngoài ra còn cờ bảng ở tay Long nữa. Như thế là đất phát tới kế thế Công hầu.
(77) Ngũ tinh cách tú chiều nguyên.
(78) Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả bốn bên loan hoàn.
(79) Thổ tinh kết huyệt Trung ương.
(80) Ấy đất sinh Thánh sinh Vương đời đời.
(81) Thiên, sơn, vạn Thuỷ chiều lai.
(82) Can chi bát quái trong ngoài tôn nghinh.

Đất phát đế vương

Lời bàn:
Càng nhiều hình thế thuộc ngũ hành ở đúng hướng càng phát lớn. Trên ba tầng Long Hổ, trên ba án trên ba đột Huyền Vũ và trên ba minh Đường là có thể phát đến Đế vương.
Các chứng ứng ở xung quanh huyệt mà nằm đúng ngũ hành vị trí của nó càng chứng tá huyệt kết minh quân có lương tướng. Hình trên ta thấy hướng Bắc có ba hình Thuỷ, hướng Nam có ba hình Hoả, hướng Đông có ba hình mộc, hướng Tây có ba hình Kim, Thổ ở giữa.

Huyệt đường
(21) Ruộng cao uốn xuống thì mạch táng trên.
(22) Ruộng thấp uốn lên thì mạch táng dưới.
(23) Bình dương mạch chẳng hề châm gối.
(24) Hễ chính Long thì tả hữu chiều lai.
(25) Đâu có chính Long thì sơn thuỷ gối kề.
(26) Nhưng trên sơn cước non cao.
(27) Cường Long thể mạch thể nào mới hay?
(28) Tìm nơi mạch nhược Long gầy.
(29) Nhất thời Oa huyệt nhị thời Tàng phong.

(30) Đất có cát địa chân Long.
(31) Táng cho phải phép anh hùng giàu sang.
(32) Họ như dưới đất bình dương.
(33) Mạch thính giác điền xem tường mới hay.
(34) Bình dương lấy nước làm thầy.
(35) Thứ nhất khai khẩu, thứ nhì nhũ Long
(36) Thứ ba mạch thắt cổ bồng.
(37) Thứ tư sơn chỉ hồi Long càng tài.
Trên kia cụ TẢ AO giảng về phép phân tích các loại Long để đi theo nó tìm cho tới huyệt tràng là vùng đất trong đó có huyệt kết. Tới đây cụ đưa ta tới huyệt tràng và giảng tiếp:
(21) Ruộng cao uốn xuống thì mạch táng trên.
(22) Ruộng thấp uốn lên thì mạch táng dưới.
Là nếu chỗ ruộng cao đã có Long Hổ ôm chầu vào, huyệt tràng ở chỗ cao mới cân đối. Còn mạch nhập huyệt nằm dưới thấp từ từ cao lên thì táng vào nơi cao vừa. Tiếp theo cụ nói tiếp đến phạm vi kết huyệt của loại mạch bình dương.
(23) Bình dương mạch chẳng nề châm gối
(24) Hễ chính Long thì tả hữu Chiều lai
Là mạch bình dương tuy hay ẩn tàng không lộ như mạch sơn cước nên khó kiếm hơn. Nhưng mạch bình dương lại có đặc điểm dễ kiếm huyệt, là hễ gặp chính Long là có tả thanh Long, hữu bạch Hổ Chiều về và không nệ thiếu gò nổi bật ở sau huyệt làm Chằm. Có cũng hay mà không có cũng được vì ruộng đằng sau cao cũng là Chằm rồi. Được như vậy chỉ cần lập hướng đúng là được rồi, rất ít khi xẩy ra sai như đất sơn cước. Và tới đây cụ nói lên đến mạch sơn cước.
Mạch bình dương thường lành hơn mạch sơn cước nên các thầy địa lý giỏi ưa kiếm mạch bình dương. Còn mạch sơn cước có núi cao ngạo nghễ hay phát võ anh hùng cường liệt, đa sát. Sát cho dòng họ người được đất và vì phát võ cách nhiễu nên nếu là đất lớn thì sự thành công của con cháu người được đất gây nên thảm sát cho thiên hạ nữa. “Nhất tướng thành công vạn cốt khô”
Ta đã thấy vua Quang Trung sau khi được ngôi đất ở Sơn cước (Tây sơn An Khê) đã giết 20 vạn quân Tôn Sĩ Nghị và Sầm Nghi Đống đó là sát hay. Sát giở như Lý Tự Thành đời vua Sùng - Trinh nhà Mãn Thanh sau khi được đất sơn cước làm loạn đánh về tới kinh đô gây cho dân gian chết chóc vô kể.
Đất sơn cước lắm hung nhiều sát song thấy râ ràng nhiều thầy địa lý non thường thích làm. Đất sơn cước nhiều tử khí nếu không tìm được tới Long chân huyệt địa thì có hại. Tuy nhiên khó thì khó thật mà nếu biết được phép chính tông địa lý là làm cho công phu cũng có thể giảm nhiều hung sát do đó cụ TẢ AO có nói:
(26) Nhưng trên sơn cước non cao
(27) Cường Long Thổ mạch thế nào mới hay?
Có nghĩa là đất sơn cước có non cao hùng vĩ cường Long mạch Thổ phải để như thế nào mới tránh được hung sát. Cụ chỉ cho ta cách để như thế nào dưới đây.
(28) Tìm nơi mạch nhược Long gầy.
Câu này là cả một bí pháp về phép để đất trên sơn cước mà rất ít sách địa lý của tàu và ta nói đến. Nó có nghĩa: Đất sơn cước cường mạch hay sinh nhân đa sát nếu muốn tránh phải kiếm thứ Long nào sâu, khi rời núi non chạy xuống đồng còn chạy ngang dọc cho bớt hung hăng cường mạnh, đến khi Long dịu rồi mới vào huyệt. Hình dạng của Long đó, khi dịu rồi trông gầy và nhược. Đó là chân Long đất sơn cước kiếm được huyệt ở chỗ đó sẽ sinh nhân hùng hậu, quân tử không hung sát.
Sau khi nói râ hai đặc tính của huyệt sơn cước và bình dương rồi cụ TẢ AO nói tiếp về hình dạng chỗ kết huyệt. Phải chỉ hình dáng chỗ kết huyệt mới dễ để mả. Cũng nên nói thêm rằng đại cuộc đất dù lớn mấy trăm mẫu, huyệt tràng dù rộng cả nghìn thước nhưng chỗ huyệt kết nhỏ bằng cái chiếu mà thôi. Như vậy nên phải chỉ râ hình tích của chỗ có huyệt kết để dễ kiếm.
Sau khi theo Long tìm đến huyệt tràng rồi nếu ta tìm tại nơi huyệt tràng chỗ nào có dấu hiệu Oa, Kiềm, Nhũ, Đột thì ta phải nghi chỗ đó là chỗ có huyệt kết của cuộc đất.
Thế nào là Oa, Kiềm, Nhũ đột?
1) Oa: Là khai oa khum khum như gọng vó. Cụ TẢ AO gọi nôm na là: “Khum khum gọng vó chẳng nó thì ai”.
2) Kiềm: Cụ TẢ AO gọi nôm na là “Thè lè lưìi trai chẳng ai thì nó”
3) Nhũ: Hai bên có Long Hổ cao, nghĩa thò ra như qua bí quả bầu. Cụ TẢ AO gọi là thắt cuống cà sa đít nhện cuống cà nhỏ và thấp, hai bên Long Hổ cao bằng huyệt tràng hay cao bằng mắt người ngồi ở huyệt.
4) Đột: hai bên long Hổ cao lên
5) Oa (lâm) Kiềm (kẹp) Nhũ (lồi) Đột (nhô)
6) Oa biến thể: Huyệt hình tam giác hai bên Long Hổ duỗi ra thăng bằng và hơi cao hơn huyệt như chữ nhân (nó là oa biến thành tam giác).
7) Oa đứng: Là xung quanh cao giữa thấp có thể hoặc tròn hoặc hình bầu dôc hoặc hình chữ điền, chữ nhật (ở chỗ Long đình khí chỉ).
Chi tiết chỗ đất kết ở sơn cước để đặt xương người xuống cho thu được khí mạch hình oa, hình kiềm, hình nhũ, hình đột và hình oa biến thể hay oa đứng kể ở trên song nói về huyệt tàng phong hơn cả ở sơn cước thì huyệt khai: Oa, Kiềm vốn là tàng phong rồi.
(29) Nhất là Oa huyệt, nhị thời tàng phong.
Câu trên có nghĩa là oa kiềm đã có tàng phong sẵn rồi rất tốt vì oa huyệt có gọng vó cao hơn huyệt, che gió cho huyệt, kiềm cũng thế. Tuy nhiên ngoài oa kiềm còn có thể kết huyệt nhũ, đột nữa. Nhũ đột cũng cần Long Hổ cao thăng bằng với huyệt trường để che gió cho huyệt. Một huyệt kết mà không tàng phong dễ sinh ra tội (yểu hoặc bệnh tật).
Nói tiếp về đất sơn cước. Đất này đã khó táng lại hiềm ít thuỷ tô nên nhiều đất kết anh hùng mà vẫn nghèo. Tuy nhiên cụ TẢ AO nói là nếu kiếm được chân Long:
(30) Đất có cát địa chân Long
Mà biết chọn Long điếm huyệt cho phải phép (dù là khó) thì có thể vừa anh hùng vừa giàu sang chứ không phải đất sơn cước nào cũng sinh anh hùng và nghèo đâu.
(31) Táng cho người phép anh hùng giàu sang
Tiếp theo cụ TẢ AO lại đề cập thêm về loại huyệt bình dương.
(32) Nọ như dưới đất bình dương.
(33) Mạch “Thính giác điền” xem tường mới hay.
(34) Bình dương lấy nước làm thầy.
Ba câu trên có nghĩa là huyệt bình dương tuy ít sát hơn huyệt sơn cước tuy nhiên đất bình dương cao thấp không chênh lệch nhau lắm nên khó xem hơn. Mà khó xem nhất là mạch thính giác điền đó là các thớ của Long mạch đi bằng những góc riêng. Các cụ sợ nhất là những mạch ruộng có núi nhọn đâm vào huyệt hay những góc ao quay mũi nhọn vào huyệt “Ruộng như mũi dao, ao như thước thợ”.
Con người TẢ AO phóng khoáng sau khi căn dặn những gì quan trọng nguy hiểm khó khăn của huyệt cho con cháu biết mà phòng bị khi để huyệt thì bản tính dễ dãi yêu đời cố hữu lại trở về cụ giảng tiếp theo:
(34) Bình dương lấy nước làm thầy.
Để nhắc nhở lại cho chúng ta biết là mạch sơn cước lấy tàng phong làm quan trọng thì mạch bình dương lấy Minh đường làm chính hễ có nước mà có sơn thuỷ gối kề là tả hữu Chiều lai là hay có huyệt, để vào không án nhiều cũng án ít chứ ít khi bị sát nặng như đất sơn cước. Rồi cụ lại tiếp tục kể lể để nhắc lại những gì quan trọng.
(35) Thứ nhất khai khẩu, thứ nhì nhũ Long.
(36) Thứ ba mạch thắt cổ bồng.
(37) Thứ tư sơn chỉ hồi Long càng tài.
Câu (35) có nghĩa huyệt kết phải khai khẩu nghĩa là phải là oa kiềm hay nhũ, đột (sơn cước thì Oa, Kiềm; bình dương thì Nhũ, Đột). Câu (36) có nghĩa là khi Long chạy đến huyệt kết trước khi nhập thủ thì đất phải thắt lại như cổ bồng thì mới chắc.
Nửa câu 37 nghĩa là đất có huyệt thì sơn phải chỉ mạch đến đó không tiếp tôc đi nữa mới kết được. Và nửa câu sau của câu 37 (hồi Long càng tài) là trong các huyệt kết thì hồi Long cố tổ là quý nhất vì nó mau phát mau ăn hơn loại huyệt hoành Long, trực Long.v.v...
Nhưng chữ thứ nhất thứ hai, thứ ba và thứ tư câu 35, 36, 37 không phải là thứ tự tốt xấu mà chỉ kể lể 4 thứ quan trọng nhấn thêm để ta xem huyệt mà thôi.
(38) Muốn cho con cháu Tam khôi.
(39) Phương Nam có bút, phương Đoài có nghiên

Lời bàn:
Bút cũng giống Kiếm, Nghiên, cùng giống ấn.
Nếu những chứng ứng này ở hướng phát Văn hay ở thế đất phát Văn thì gọi là Bút. Và khi nó ở hướng phát Võ hay ở thế đất phát Võ thì gọi là Kiếm Bút, Nghiên, Kiếm, ấn đều là những sa từ tay Long tay Hổ hay từ huyệt tràng thôi ra làm tôn quí cho huyệt nếu Bút đi với Nghiên hoặc Kiếm với ấn thì lại tôn quí hơn.


Tầm Long mạch
(9) Mạch có mạch âm, mạch dương
(10) Mạch nhược, mạch cường, mạch tử, mạch sinh
(11) Sơn cước mạch đi rành rành
(12) Bình dương mạch lẫn nhân tình không thông
(13) Có mạch qua ao, qua sông
(14) Qua đầm, qua núi, qua đồng, qua non
(15) Lại có mạch phát ngôi dương
(16) Nhìn xem cho tường ấy mạch làm sao?
(17) Mạch thổ đi chẳng khép vào
(18) Vốn đi một chiều ấy mạch phát dương
(19) Ba mươi sáu mạch cho tường
(20) Trước là cứ phép sau y lời nguyền

Chương trên cụ TẢ AO mở đầu phép “Tầm long” cho ta phương pháp phân tích và tổng hợp. Đến đây cụ TẢ AO bắt đầu dạy ta phép nhận xét các loại Long mạch.
1. Trước tiên phải phân biệt hai loại mạch dương và mạch âm.
(9) Mạch có mạch âm, mạch dương
Mạch ở dưới đồng bằng phần nhiều đi thấp gọi là mạch dương. Còn mạch ở sơn cước đi theo các núi đồi cao lớn được gọi là mạch âm.
2. Những mạch âm, dương được phân chia theo hình thể trạng thái hùng vĩ hay thanh nhã linh động hoặc ngay đơ ra làm 4 yếu tố.
(10) Mạch nhược, mạch cường, mạch tử, mạch sinh
1) Thế mạch hùng vĩ cao to lớn, thuỷ đều được gọi là mạch cường.
2) Thế mạch thanh nhã, nhọn dài được gọi là mạch nhược.
3) Thế mạch đi như con thú quay đầu vẫy đuôi linh động được gọi là mạch sinh
4) Thế mạch đi đuồn đuỗn ngay đơ như con cá chết gọi là mạch tử.
3. Trên sơn cước hay dưới bình dương cũng đều có mạch nhược, mạch cường, mạch tử, mạch sinh. Tuy nhiên trên sơn cước vì mạch lớn hơn nên trông râ hơn, còn dưới bình dương mạch đi thấp chỉ cao độ bốn phân tây gần như là lẫn xuống bãi lại càng khó xem hơn nữa.
(11) Sơn cước mạch đi rành rành
(12) Bình dương mạch lẫn nhân tình không thông.
4. Những mạch không chỉ chạy trên sơn cước hay dưới đồng bằng mà nó còn có thể chạy qua ao, qua sông, qua núi, lặn xuống dưới bãi rồi đến quãng thật xa mới nổi lên đi nữa. Lại có cả những mạch xuống đầm hay xuống biển hay qua bên kia biển hoặc đầm rồi lại nổi lên đi nữa.
(13) Có mạch qua ao, qua sông
(14) Qua đầm, qua núi, qua đồng, qua non.
Với những mạch đang đi lặn xuống một quãng xa mới nổi lên nữa đã làm cho nhiều người tưởng lầm là Long là đã hết không đi nữa (Long chỉ) vội tìm huyệt. Nhất là mạch chạy đến chỗ có nước, lặn xuống rồi qua bên kia, đi nữa lại càng dễ làm cho nhiều người tưởng lầm hơn vì nó hội đủ điều kiện cần thiết cho một đất kết là Long đình, khí chỉ, thuỷ tô. Tuy nhiên với con mắt nhà phong thuỷ có căn bản vững chắc vẫn không lầm được. Bởi vì một đất kết thì Long đình, khí chỉ, thuỷ tô chỉ là điều cần chứ chưa phải là điều đủ.
Thật ra một kiểu đất kết phải hội đủ nhiều điều kiện nữa như phải có Long, Hổ, án, Chầm, Quân bình, Phương chính rồi nơi huyệt trường phải khai huyệt binh: Oa, Kiềm, Nhũ, Đột (Oa có Oa đứng, Oa nằm). Đó mới nói về mạch còn về nước thì một khi Long còn đi nước hay phân ra rồi khi đến huyệt kết, nước lại phải hợp lại tại Minh đường của huyệt mới đúng. Có khi chỗ nước tô thành ao đầm hồ làm ta cứ tưởng Minh đường của huyệt lớn, nhưng có khi, trái lại nó chỉ là huyệt nhỏ hay không có huyệt. Chỗ nước tô đó chỉ là cái “Đại dịch thuỷ” của một “Đại cán Long”. Ta gọi nó là hộ tống thuỷ.
Lấy gì mà biết là hộ tống thuỷ?
Khi nào bên cạnh một cái đại cán Long (cành lớn của Long) có đầm ao hồ mà ở đó lại phát ra nhiều suối lạch hay sông ngòi đi nhiều chiều khác nhau, thì nó chỉ là hộ tống thuỷ, cái khác là Minh đường thì các ngọn nước chảy về còn hộ tống thuỷ thì nước từ đó chảy đi nhiều đường. Ta càng chắc là hộ tống thuỷ nữa khi ở bên kia chỗ thuỷ tô lại bắt lên gò, đống, thớ đất cao rồi hai bên có phân thuỷ chia ra hai dòng để chảy giáp bên thân Long.
Đã biết phân biệt mạch sơn cước và mạch bình dương bằng cách mạch sơn cước thì cao lớn và mạch bình dương thì thấp khó thấy nhưng chúng ta cũng phải biết phân biệt:
5. Mạch “dương cơ” và mạch “âm phần”.Thật vậy, những ngôi đất kết có ngôi chỉ phát về âm phần, lại có ngôi đất chỗ phát về dương cơ. Đất phát về âm phần, lợi cho sự chôn xương xuống đất và đất phát về dương cơ lợi cho sự làm nhà lên trên. Đất dương cơ nhá dùng làm nhà, còn to rộng lợi cho làm doanh trại, rộng nữa lợi cho làm thị trấn, đô thị hoặc kinh đô.
Muốn biết giá trị của đất dương cơ ta hãy minh chứng một sự kiện lịch sử liên quan đến nó.
Trừ nhà Hùng Vương được đất quê lớn ra thì sau đó nhà Đinh và Tiền Lê trở về trước những triều đại thịnh trị thật ngắn ngủi không quá đến ba đời nên “Quốc Sư Vạn Hạnh” phải tìm một đất khác làm kinh đô. Đó là Thăng Long hay Hà nội. Lý Công Uẩn nghe theo dời kinh đô về Thăng Long nên nhà Lý làm vua được 8 đời và sau đó nhà Trần và Hậu lê (Lê Lợi) cũng nhờ đại địa đó làm kinh đô nên bền vững lâu dài hơn.
Cụ TẢ AO nói là có hai loại đất kết một loại để chôn xương người chết và một loại cho người sống ở bằng hai câu:
(15) Lại có mạch phát ngôn dương
(16) Nhìn xem cho tường ấy mạch làm sao?
Giờ ta xem thế nào mà biết mạch phát dương (hay dương cơ)
(17) Mạch Thổ đi chắng khép vào
(18) Vốn đi một chiều ấy mạch phát dương
Như vậy mạch phát dương là mạch khi nhập thủ không thắt nhỏ lại rôi lại phình ra như mạch nhập thủ âm phần. Trái lại mạch phát dương cơ trông thô hơn cứ thế đi đến đất kết.
6. Nguyên về mạch từ khúc 1 đến khúc 5 kể trên cụ TẢ AO đã cho biết nhiều thứ Long mạch.
1) Khúc 1 nói về mạch âm và mạch dương
2) Khúc 2 nói về mạch cường, mạch nhược, mạch sinh, mạch tử
3) Khúc 3 nói về mạch sơn cước và mạch bình dương
4) Khúc 4 nói về mạch băng qua núi non, đầm, ao, sông
5) Khúc 5 nói về mạch phát dương cơ và mạch phát âm phần
Đến đây cộng tất cả các loại mạch đã kết có đến 15 loại khác nhau. Nhưng cụ TẢ AO lại nói là phân tích cho kỹ về mạch thì có đến 36 loại mà người địa lý cần biết.
(19) Ba mươi sáu mạch cho tường
(20) Trước là cứ phép sau y lời nguyền
Nói như vậy mà cụ không dạy thêm nữa vậy ta hãy tìm ở các sách địa lý khác thêm một số mạch, để bổ túc. Chúng ta kiếm thêm:
1) Mạch Phong yêu: Mạch nhỏ như lưng ong (trước thắt nhỏ sau phình ra to)
2) Mạch Hạc tất: Hạc tất là gối hạc, loại mạch này hai đầu nhỏ giữa to như gối hạc.
3) Mạch Mã tích: Mạch chạy như vết chân ngựa lúc lồi lên lúc chìm xuống. Phần nhiều mạch này hay đưa đến kết Oa đứng.
4) Mạch Băng hồng: Mạch qua sông qua ruộng qua bể, đó là loại mạch chạy đến đây thì định chỉ, nhưng chưa đầy đủ chứng ứng một huyệt kết, mà bên kia sông đồng lầy lại bật lên gò đống đất to rồi hai bên phân thủy chia ra hai dòng để chảy giáp thân Long.
5) Mạch Qua đằng: Mạch đi vằn vèo như dây dưa, dây bí, dây bầu, có thể quay sang bên tả kết, qua sang bên hữu kết, có thể quay về kết, có thể đến Long đình Khí chỉ thì kết. Mạch Qua đằng là loại mạch quí và có nhiều sinh khí nhất.
6) Mạch Trực: Long mạch đi thẳng loại mạch này khi kết huyệt nên có: “Nghịch sa hồi án”.
7) Mạch Nghịch: Long đang đi quay ngược lại rồi kết huyệt.
8) Mạch Thuận: Long đi theo thế lại cán Long, đại giang đại hải, còn đất nhỏ thì thuận theo: tiểu giang, tiểu hải.
9) Ví dô: một đại cán Long đang đi mọc ra một tiểu cán Long hay tiểu chi Long rồi ra kết huyệt.
10) Mạch Hoành: Đang đi quay ngang vào kết huyệt.
11) Mạch Hồi: Đang đi quay lại thiếu tổ sơn như hình lười câu móc hồi cố lại. Ví dô: Hợi Long kéo đến Tốn rồi cố tổ, Khôn Long kéo đến Cấn rồi cố tổ. Muốn biết huyệt thật thì phải hiểu thêm:
12) Trực Kỵ: Trực Long phải có triều tôn án và triều tôn thuỷ.
13) Đảo Kỵ: Nghịch Long phải quỷ biến vi quan thuận.
14) Thuận Kỵ: Thuận Long phải có hầu quỷ dày.
15) Hoành Kỵ: Hoành Long phải có nhiều sa thác lạc hay nhiều Long Hổ che chở xung quanh mới gọi là chưởng kết (đất Hoành sơn của nhà Nguyễn, Gia Long). Hoành Long phải có chương kết mới quý còn không là bình thường và ngắn đời thôi.
16) Nghịch Kỵ: Hầu Long phải có Thái tố hay Thiếu tố cao dầy làm án (án cao ở gần hồi Long cũng không bức không có hại, trái lại còn dễ sinh hiếu tử trung thần).
Về phép phân tích các loại Long cho dễ hiểu cụ TẢ AO nói là có 36 mạch khác nhau, tuy nhiên thật ra còn có nhiều hơn hay ít hơn tuú theo thể cách và tên gọi cho dễ nhận ra cho đến nay chúng ta có đủ những phân tích Long cần thiết để cho người đi tìm Long dễ tìm thấy huyệt.


Nguyên văn địa đạo diễn ca của cụ TẢ AO
1. Mấy lời để truyền hậu thế
2. Ai học địa lý theo học TẢ AO
3. Một là hay học càng cao
4. Hai là cố ý cứ lời phương ngôn
5. Ba là học thuộc “Dã đàm”
6. Bốn là mở sách “La bàn” cho thông
7. Chẳng qua ra đến ngoài đồng
8. Tỏ mạch, tỏ nước, tỏ Long mới tường
9. Mạch có: mạch âm, mạch dương
10. Mạch nhược, mạch cường, mạch tử, mạch sinh

11. Sơn cước mạch đi rành rành
12. Bình dương mạch lẫn nhân tình không thông
13. Có mạch qua ao, qua sông
14. Qua đầm, qua núi, qua đồng, qua non
15. Lại có mạch phát ngôi dương
16. Nhìn xem cho tường ấy mạch làm sao
17. Mạch thổ đi chẳng khép vào
18. Vốn đi một chiều ấy mạch phát dương
19. Ba mươi sáu mạch cho tường
20. Trước là cứ sách sau y lời nguyền
21. Ruộng cao uốn xuống thì mạch táng trên
22. Ruộng thấp uốn lên thì mạch táng dưới
23. Bình dương mạch chẳng nề Châm gối
24. Hễ chính Long thì tả hữu Chiều lai
25. Đâu có chính Long thì có sơn thuỷ gối kề
26. Nhưng trên sơn cước non cao
27. Cường Long Thổ mạch thế nào mới hay ?
28. Tìm nơi mạch nhược, Long gầy
29. Nhất thời ca huyệt, nhị thời tàng phong
30. Đất có cát địa chân Long
31. Táng cho phải phép anh hùng giàu sang
32. Nọ như dưới đất bình dương
33. Mạch “Thính giác điền” xem tường mới hay
34. Bình dương lấy nước làm thầy
35. Thứ nhất khai khẩu, thứ nhì nhũ Long
36. Thứ ba mạch thắt cổ bồng
37. Thứ tư sơn chỉ hồi Long càng tài
38. Muốn cho con cháu Tam khôi
39. Phương Nam có bút, phương Đoài có nghiên
40. Muốn cho con cháu Trạng nguyên
41. Thời tìm “Bút lập”hai bên sắp bầy
42. Nhất là Tân, Tốn mới hay
43. Bính, Đinh, Đoài, Cấn sắp bầy đặt lên
44. Bút lập là bút “Trạng nguyê”
45. Bút “Thính giác điền” là bút “Thám hoa”
46. Nhìn xem cho kỹ sẽ là đất hay
47. Khuyên ai học làm thầy địa lý
48. Trước phải đọc sách sau là lượng cao
49. Dự ai khôn khéo thế nào
50. Học mà chẳng xét ấy là “Vô tông”
51. Thắt cổ bồng phồng ra huyệt kết
52. Xem cho biết “Mộc tiết, Kim loan”
53. “Mộc tiết” văn đỗ “Trạng nguyên”
54. “Kim loan” vốn được tước quyền “Quận công”
55. Con Mộc vốn ở phương Đông
56. Con Kim vốn nó ở dòng phương Tây
57. Xem cho biết nó mới hay
58. Táng cho phải phép thực dày vinh hoa
59. Thắt cuống cà phì ra mới kết
60. Xem cho biết huyệt cát huyệt hung
61. Huyệt cát nước tụ vào lòng
62. Đôi bên Long Hổ uốn vòng Chiều lai
63. Huyệt hung Minh đường bất khai
64. Sơn tà thuỷ xạ hướng ngoài tà thiên
65. Táng xuống kinh sáng bất yên
66. Con cháu thường thường phát bệnh ốm đau
67. Muốn cho con cháu sống lâu
68. Tìm nơi “Huyền vũ” đằng sau cao dầy
69. Long Hổ bằng như chân tay
70. Chẳng cứ tả hữu bằng ngay chẳng lành
71. Kìa như đất có “Ngũ tinh”
72. Nhận xem cho biết “Tương sinh Loan hoàn”
73. Muốn cho con cháu nên quan
74. Thì tìm Thiên Mã phương Nam đứng chầu
75. Muốn cho “Kế thế Công hầu”
76. Thì tìm cờ trống dàn chầu hai bên
77. Ngũ tinh cách tú Chiều nguyên
78. Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả bốn bên Loan Hoàn
79. Thổ tinh kết huyệt Trung ương
80. Ấy đất sinh Thánh, sinh Vương đời đời
81. Thiên sơn vạn thuỷ Chiều lai
82. Can chi, bát quái trong ngoài tôn nghinh
83. “Nhị thập bát tú” thiên tinh
84. Tại thiên chiếu huyệt rành rành chẳng sai
85. Ngôi “Đế vương” mặc trời chẳng giám
86. Huyệt “Công khanh” chẳng kiếm ai cho
87. Đất khai hoa nhìn xem cho kỹ
88. Thấy thì làm chớ để lưu tâm
89. Trên sơn cước xa xăm cũng táng
90. Dưới bình dương nửa tháng cũng đi
91. Minh sinh ám tử vô di
92. Coi đi coi lại quản chi nhọc nhằn
93. Quả nhiên huyệt chính Long chân
94. Tiêu sa, nạp thuỷ chớ lầm một ly
95. Táng thôi phúc lý tuy chi
96. “Trâm anh” bất tuyệt “Thư thi” gia truyền
97. Muốn cho con trưởng “Phát tiên”
98. Thì tìm Long nội đất liền quá cung
99. Thanh long Liên châu Cao phong
100. Kim tinh Thổ phụ phát dòng trưởng nam
101. Con gái về bên Hổ sơn
102. Hổ cao thì phát sơn bàn cho thông
103. Phản Hổ con gái lộn chồng
104. Phản Long trai nó ra lòng bất nhân
105. Vô Long như người vô chân
106. Vô Hổ như đứa ở trần không tay
107. Trông Long Hổ lấy làm thầy trước
108. Sau sẽ tìm lấy chỗ huyệt chôn
109. Nước chẳng tỏ tường kể chi
110. Kiếm ăn cũng khá xong thì lại không
111. Con trai thì ở bất trung
112. Con gái thất tiết chả dùng cả hai
113. Thấy đâu Long Hổ Chiều lai
114. Minh đường thuỷ tụ huyệt tài mới hay
115. Tiên quan hậu quỷ sắp bầy
116. Án dày muôn tháp Chiều dày phải cao
117. Xem huyệt nào làm cho phải phép
118. Chớ đào sâu mà thiệt như không
119. Kìa ai địa lý “Vô tông”
120. Chẳng cứ đúng phép cũng dòng “Vô sư”

Phân biệt đất phát văn hay võ
huyệt cát hay huyệt hung

A- Đất phát văn hay võ
(51) Thắt cổ bồng, phồng ra huyệt kết
(52) Xem cho biết Mộc Tiết Kim Loan
(53) Mộc tiết văn đỗ “Trạng nguyên”
(54) Kim loan võ được tước quyền “Quận công”
(55) Con Mộc vốn ở phương Đông
(56) Con Kim vốn nó về dòng phương Tây
(57) Xem cho biết nó mới hay
(58) Táng cho phải phép thực dày vinh hoa
Đoạn này cụ TẢ AO giảng về hình dáng đất có huyệt kết và ảnh hưởng của nó như thế nào. Đất có huyệt kết thường có đặc điểm là phải thắt cổ bồng rồi phình ra mới chắc ăn. Ý này ở trên cụ đã nói rồi, song là quan trọng nên cụ nhắc lại lần thứ hai:

(51) Thắt cổ bồng, phồng ra huyệt kết.
Rồi cụ đề cập đến hình của chỗ đất kết và ảnh hưởng của nó:
(52) Xem cho biết Mộc Tiết Kim Loan.
(53) Mộc Tiết văn đỗ “Trạng nguyên”.
(54) Kim loan võ được tước quyền “Quận công”.
Đất sinh nhân thế nào đầu tiên phải biết đất nó thuộc về văn hay võ. Văn cao nhất là trạng nguyên, tể tướng rồi xuống thấp dần cho đến thư ký. Về võ cao nhất là Quận công, Nguyên soái rồi xuống dần đến lính trơn. Trước khi biết giá trị của đất đó đến chức vô gì ta phải biết nó về loại văn hay võ đã.
Nếu phát văn thì thường đất hình dài, mà dài là hình Mộc và nếu là võ thì thường đất hình tròn mà tròn là hình Kim. Phân biệt phát văn hay võ trước rồi coi cho đủ chi tiết có thể đoán được văn cao đến bậc nào, và võ lớn tới mức nào trong ban văn hay ban võ. Trường hợp đất vừa dài vừa tròn thì ta có thể cho là phát cả văn lẫn võ.
Tuy nhiên cụ nói là Mộc tiết chứ không phải Mộc, Kim loan chứ không phải Kim, Mộc tiết là cái mắt của gỗ, Kim loan là cái cốt của bánh xe. Câu “Xem cho biết Mộc tiết Kim loan” ta phải hiểu Mộc tiết Kim loan là Nhũ, Đột và Oa, Kiềm. Phát võ thì xung quanh có nhiều con Kim triều củng. Phát văn thì xung quanh có nhiều con Mộc con Hoả triều củng. Mộc phát văn, Kim phát võ cứ lấy đó làm chính và cũng lấy đó mà thừa trừ cân nhắc suy xét đại cuộc đất thì sẽ có thể biết râ được đất phát như thế nào càng chi tiết được nhiều càng chính xác. Muốn giái đoán ta phải biết nhiều về lý khí. Phạm vi quyển này chỉ nặng về “Loan đầu”. Đến quyền Dã đàm TẢ AO chúng tôi cho xuất bản kể tiếp sẽ nói nhiều về lý khí hơn.
(54) Kim Loan võ được tước quyền “Quận công”
Lời bàn:
Nếu giải tượng hình cho văn thì hình kiểu đất bên có nhiều đồi nổi lên hình tròn là phát võ. Quá nhiều hình tròn như hình trên có thể ước đoán cao nhất của võ (Quận công) trước có cả tam thai hình tròn. Long, Hổ, Huyền Vũ cũng có nhiều hình tròn phải quyết đoán là võ cách cao nhất.
Những chứng ứng chầu về huyệt cũng có ảnh hưởng. Nếu là chứng ứng hình Mộc thì phương Đông hành Mộc vượng và Tròn là hình Kim thì phương Tây hình Kim là vượng (theo ngũ hành).
Các thầy địa lý hay hát hình để làm tôn vẻ đẹp cho cuộc đất gọi là con Phượng, con Lân, con Rùa, con Chim, con Hổ, con Voi nhưng cũng không ngoài sự kết huyệt phải có Oa, Kiềm, Nhũ, Đột khi Long đình khí chỉ. Dù có những con đó mà không có Long đình khí chỉ thì cũng không kết. Nếu muốn gọi là con gì cũng được song căn bản ngũ hành là điều ta cần nhớ cho kỹ.
1) Con Mộc hình dài và phương Đông thuộc Mộc.
2) Con Kim hình tròn và phương Tây thuộc Kim.
3) Con Hoả hình dải nhọn và phương Nam thuộc Hoả.
4) Con Thuỷ hình sóng gợn và phương Bắc thuộc Thuỷ.
5) Con Thổ hình vuông và Trung ương thuộc Thổ.
Xem những hình thể đất và chứng ứng hình gì (con Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) và xem phương hướng chúng đóng để biết sinh hay tử, vượng, tù, hưu rồi táng cho phải phép thì dòng dâi sau này được vinh hoa phú quý. Cụ TẢ AO đã tóm tắt ý trên vào 4 câu:
(55) Con Mộc vốn ở phương Đông.
(56) Con Kim vốn nó về dòng phương Tây.
(57) Xem cho biết nó mới hay.
(58) Táng cho phải phép thực dày vinh hoa.
ấy thế là những hình đắc vị.
Tuy nhiên ngũ hành mới là phô thuộc. Đúng phương vị càng hay mà không đúng cũng không sao. Miễn là huyệt kết đúng phép huyệt trường có Oa, Kiềm, Nhũ, Đột là được. Kiếm được đất kết Oa, Kiềm, Nhũ, Đột rồi tránh được cái xấu của sa và thuỷ cũng là quý hoá rồi.
B- Huyệt cát hay huyệt hung
(59) Thắt cuống cà phì ra mới kết.
(60) Xem cho biết huyệt cát huyệt hung.
(61) Huyệt cát nước tô vào lòng.
(62) Đôi bên Long Hổ uốn vòng chiều lai.
(63) Huyệt hung Minh đường bất khai.
(64) Sơn tà thuỷ xạ hướng ngoài tà thiên.
(65) Táng xuống kinh sáng bất yên.
(66) Con cháu thường thường phát bệnh ốm đau.
(67) Muốn cho con cháu sống lâu.
(68) Tìm nơi Huyền vũ đằng sau cao dầy.
(69) Long Hổ bằng như chân tay.
(70) Chẳng có tả hữu bằng ngay chẳng lành.
Phần này cụ TẢ AO ấn định huyệt tốt xấu vào hai loại: Huyệt cát, huyệt hung. Trước khi nói đến hai loại huyệt này cụ lại cẩn thận chắc chắn nhắc lại lần thứ 3 một ý nữa:
(59) Thắt cuống cà phì ra mới kết.
Để con cháu xem lại có phải là đất kết hay không đã, rồi mới đi vào phần chi tiết tìm hiểu một huyệt cát hay hung. Cụ phải nhắc lại như vậy vì lý do nếu không phải đất có huyệt kết thì phân tích huyệt cát huyệt hung làm gì cho mất thì giờ.
Bây giờ cụ mới giảng chỗ có huyệt kết đó cát hay hung:
(60) Xem cho biết huyệt cát, huyệt hung.
(61) Huyệt cát nước tô vào trong.
(62) Đôi bên Long Hổ uốn vòng chiều lai.
(63) Huyệt hung Minh đường bất khai.
(64) Sơn tà thuỷ xạ hướng ngoài tà thiên.
Huyệt hung thì Minh đường không tô nước và sơn thuỷ xấu, sơn thuỷ xấu là:
(64) Sơn tà thuỷ xạ hướng ngoài tà thiên.
Sơn tà là sơn không chính sơn là các sa như bút (giải nhọn) bảng (hình chữ nhật) án (hình vuông) ngựa, voi, trâu, lân, hổ (hình thú).v.v... Những chứng ứng này không chầu vào huyệt, chiều cao không cân đối (gần thì ngang huyệt, cùng xa càng cao hơn) đều là sơn tà (không chính) không quân bình, phương chính, sơn xấu làm cho huyệt kết thành kết hung.
Thuỷ xạ là các ngọn nước đáng nhẽ phải bao nhiều (chạy khuất khúc) chầu về huyệt thì đâm thẳng vào huyệt hay vào giữa Minh đường như phóng mũi nhọn của nó và huyệt hay vào giữa minh đường. Nước như thế là thuỷ xạ thuỷ như thế là thuỷ xấu làm cho huyệt kết thành kết hung.
Hướng ngoài tà thiên: là sơn hay thuỷ đáng nhẽ chầu vào huyệt thì lại quay lưng lại huyệt và chầu ra ngoài (hướng ngoài tà thiên).
Các sa méo mó lệch lạc xiên vẹo lở dứt. Sơn thuỷ hướng ngoài tà thiên cũng làm cho huyệt kết trở nên huyệt hung.
Không những sa (sơn) và thuỷ (ngọn nước) hướng ngoài tà thiên là xấu mà chính ngay Minh đường hướng ngoài tà thiên là loại Minh đường nghiêng lệch đổ nước ra ngoài chứ không thu nước vào trước huyệt. Minh đường mà nghiêng lệch thì con cháu sẽ có tâm địa tà dâm, bất chính.
Bây giờ tóm tắt huyệt cát huyệt hung qua minh Đường, Long, Hổ, Huyền vũ một lần nữa vì nó là quan trọng. Minh Đường ảnh hưởng đến sự giàu nghèo và sự thông minh hay ngu đần của con cháu, còn Long hổ thì tay Long ảnh hưởng đến con trai hay ngành trưởng và tay Hổ ảnh hưởng đến con gái hay ngành thứ.
Một huyệt tốt trước tiên và cần thiết nhất là Minh đường phải có nước tô và hai bên Long hổ phải ôm chầu về huyệt. Huyệt hung thì Minh đường không có nước Minh đường bất khai con cháu sẽ nghèo. Minh đường phải quanh năm có nước con cháu mới giàu được. Long hổ phải ôm chầu về huyệt mới tốt. Tay Long và tay Hổ không tay nào được ngoành ra ngoài.
Để mả vào chỗ đất có huyệt hung thì có thể có báo hiệu ngày bằng cách trong nhà thấy đau yếu tang thương.
(65) Táng xuống kinh sáng bất yên.
(66) Con cháu thường thường phát bệnh ốm đau.
Táng phải huyệt hung thì khi đất chưa kết đã xảy ra đau thương bệnh tật cho con cháu trong nhà trong họ. Sự thực thì lại gặp huyệt hung và tiêu sa nạp thuỷ không giái mà ra. Nói về huyệt cát hung ta cần phải chú trọng đến Huyền vũ nữa. Huyền vũ là chỗ Long mạch dồn vào huyệt kết, là nơi rót khí mạch vào huyệt. Nơi Huyền vũ mà cao dầy thì con cháu mới được thọ. Huyền vũ mỏng và thấp con cháu kém thọ thì dù có học giỏi cũng không ra gì.
(67) Muốn cho con cháu sống lâu.
(68) Tìm nơi Huyền vũ đằng sau cao dày.
(69) Long hổ bằng như chân tay.
(70) Chẳng có tả hữu bằng ngay chẳng lành.
Tay Long tay Hổ của huyệt như tay trái tay phải của người. Nó không được dứt đoạn, khuyết xám mà còn cần phải bằng ngay cao ngang huyệt tràng để che gió cho huyệt mới không có hại (gọi là tàng phong). Một đất kết ở giữa thì đằng sau có huyền vũ, hai bên có Long Hổ, đằng trước có án mới đủ Quân bình, Phương chính mà ở đây cụ TẢ AO không đề cập đến, nên nói thêm cho đủ. án ở trước huyệt như bàn giấy trước mặt người ngồi, khách trước mặt chủ, vậy chủ khách phải tương nghinh mới tốt, án hộ huyệt ở đằng trước cũng như Chằm ở đằng sau, Long Hổ ở hai bên. Như vậy án cũng phải có “tình” với huyệt. Muốn thế cũng án phải ôm chầu vào huyệt. Rất kị án có mũi nhọn đâm hoặc phản lưng vào huyệt. Cụ TẢ AO không nói án song có nói đến Sa (Sơn), án cũng là một loại Sa nhưng can hệ hơn các Sa khác. án là thứ Sa chính.
(73) Muốn cho con cháu nên quan
(74) Thì tìm Thiên Mã phương Nam đứng chầu
Lời bàn:
Chứng ứng hình các giống thú hay chiêng trống đình, đài, cờ, biển càng tôn quý thêm cho huyệt kết. Kiểu đất trên đây có án hình con Ngựa ở chính hướng (Nam) chầu về huyệt. Tay Long lại có cái cờ Đất này phát quan.

Chứng ứng cần thiết
(38)

Muốn cho con cháu Tam khôi
(39) Phương Nam có bút phương Đoài có nghiên.
(40) Muốn cho con cháu “Trạng nguyên”
(41) Thì tìm bút lập hai bên sắp bầy.
(42) Nhất là Tân, Tốn mới hay.
(43) Bính Đinh, Đoàn, Cấn sắp bày đội lên.
(44) Bút lập là bút Trạng nguyên.
(45) Bút thính giác điền là bút Thám hoa.
(46) Nhìn xen cho kỹ sẽ là đất hay.

Sau khi chỉ phép tầm Long cho ta biết cách theo dâi Long mạch để tìm đến huyệt tràng và sau đó từ huyệt tràng tầm đến huyệt kết đến đoạn này cụ TẢ AO đề cập đến một số chứng ứng cần thiết:
(38) Muốn cho con cháu Tam khôi.
(39) Phương Nam có bút phương Đoài có nghiên.
(40) Muốn cho con cháu Trạng nguyên.
(41) Thì tìm bút lập hai bên sắp bầy.
Có nghĩa là muốn phát văn thì tìm huyệt nào mà phía Nam của huyệt có cây bút hoặc phía Tây (Đoài) có gò đống hình cái nghiên. Và nếu muốn cho con cháu đỗ cao đỗ đầu tất các các kú thi thì phải tìm cây bút đứng (đứng chứ không phải nằm) sắp bày hai bên trước mặt huyệt. Cũng nên giải tóm tắt ở trên. Ngày xưa các cụ ta chỉ có một đường ra làm quan, để mở mặt với đời, báo hiếu cho cha mẹ, giúp dân, giúp nước là thi đỗ rồi làm quan. Việc thi cử chia ra làm 4 thời kỳ:
1. Thi khảo hạch, 2. Thi hương, 3. Thi hội, 4. Thi đình.
Bởi lẽ lối thi cử xưa kia như thế nên cụ TẢ AO nói là ai muốn con cháu học giỏi để thi đỗ luôn cả ba khoa (tam khôi) thì chọn kiểu đất phương nam huyệt có cây bút, phương tây (Đoài) của huyệt có cái nghiên.
(40) Muốn cho con cháu Trạng nguyên.
(41) Thì tìm bút lập đôi bên sắp bầy.
(42) Nhất là Tân Tốn mới hay.
(43) Bính, Đinh, Đoài, Cấn sắp bày đội lên.
Có hai loại bút là bút nằm (bút Thính giác điền) và bút đứng (bút lập còn gồm là bút kình thiên nghĩa là bút chống trờ. Kú thi sau cùng ở sân rồng nhà vua mà ai đỗ đầu kú này sẽ là Trạng nguyên thứ là bảng nhãn. Vậy đỗ trạng nguyên trước tiên là phải đỗ tam khôi rồi kú sau cũng thi đình lại đỗ đầu. Muốn cho con cháu học giỏi thông minh như vậy phải tìm kiểu đất sắp bầy bút lập ở hai bên đằng trước huyệt nhưng không phải hướng nào có bút lập cũng giỏi giang như vậy.

Đất phát trạng nguyên
Tốn
Bút tốn

Bút lập Bút lập


Càn
Lời bàn:
Bút lập là bút đứng và bút Thính giác điền là bút nằm bút lập tốt hơn bút Thính giác điền.
Đất kết được một bút lập chính hướng cũng đã tốt lắm rồi. Phương chỉ kiểu đất vẽ trên một bút lập một bút giác điền ở trước mặt và nằm chính hướng (Tân hoặc Tốn) cùng thêm 2 bút lập nữa sắp bầy hai bên chỗ phải giải quyết là đất phát tới Trạng nguyên.
Giải thích:
1. Bút là trái núi đứng hay dải đất nằm đầu nhọn ôm chầu về huyệt.
2. Nghiên là gò đứng hay mảnh ruộng con là hình vuông, chữ nhật cũng có thể nghiên hinh tròn và bán nguyệt.
Dưới đây cụ TẢ AO chỉ cho ta biết hướng nào có bút lập thời tốt.
(42) Nhất là Tân Tốn mới hay.
(43) Bính Đinh , Đài, Cấn sắp bầy đột lên.
Theo câu 42-43 thì bút tốt nhất ở hướng và hướng tốn. Sau nữa đến bút ở hướng Bính, Đinh, Đoài, Cấn. Và bút lập tốt hơn bút thính giác điền bằng ý nghĩa có bút lập có thể đỗ đến trạng nguyên còn bút thính giác điền tốt cũng chỉ đỗ đến thám hoa mà thôi.
(44) Bút Lập là bút Trạng nguyên.
(45) Bút Thính giác điền là bút Thám hoa.
(46) Nhìn xem cho kỹ sẽ là đất hay.


Đất phát thám hoa
(Phát văn)
Cấn

Bảng

Bút Thính giác điền



Khôn

Lời bàn:
Kiểu đất vẽ trên có một bảng làm án và một bút Thính giác điền (bút nằm) ở tay Hổ nên phát Thám hoa. Bảng bút ở Tân Tốn là chính hướng.Bính, Đinh, Đoàn, Cấn thứ nhì. Vì bảng ở Cấn nên chỉ đỗ đến Thám hoa
Có người nói khoa địa lý có nghĩa là không thể căn cứ vào một mầu mực nào mà theo đó đi tìm được đất. Các cuộc đất đều khác nhau, khác về chứng ứng chầu về huyệt cùng cách thế của huyệt tràng. Vì vậy nên phải suy tư cân nhắc làm sao để mả đúng huyệt chỉ lớn bằng cái chiếu mới hy vọng có đất kết mới thành công. Cổ nhân đã có câu:
“Mạch đi muôn vạn dặm nghìn.
Chung qui huyệt kết chì tìm chiếu con” là thế,
Cụ TẢ AO khuyên ai học địa lý trước tiên là phải đọc sách sau là ước lượng cho cao. Muốn ước lượng cho cao người học địa lý trước phải học được chính tông sau phải thực hành rất nhiều ngoài đồng và phải thông minh mới ước lượng đúng được mới tìm ra cái chiếu con trong một đại cuộc đất đi cả muôn nghìn vạn dặm.
(47) Khuyên ai học làm thầy địa lý.
(48) Trước là đọc sách sau là lượng cao.
(49) Dù ai khôn khéo thế nào.
(50) Học mà chẳng xét ấy là vô tông.
Cả 4 câu cụ TẢ AO nhấn mạnh về 2 điểm: Hai câu trên nói là phải lượng cho cao và hai câu dưới nói là phải xét cho đúng.
Muốn lượng cao và xét đúng không phải là dễ. Đọc sách địa lý cho kỹ để ước lượng cho rành mà còn phải thông hiểu cả dịch lý học để suy xét, bổ túc thêm cho khoa địa lý. Nơi đây ta thử lấy âm dương làm căn bản để ước lượng suy ngẫm một cuộc đất tìm sự quân bình cho mọi chi tiết kỹ thuật của khoa địa lý.
1) Trước tiên đất bình dương phẳng là dương thì gò đống nổi cao hơn là âm và đất sơn cước nhiều đồi núi là âm thì thung lũng bãi của nó là dương. Đất sơn cước cường dũng nên chọn huyệt ở chỗ mạch nhỏ Long gầy, nơi bình dương thấp phẳng phải chọn nơi cao làm huyệt (khởi đột) như thế mới là âm dương cân đối.
2) Rồi đến tay Long là dương phát ngành trưởng và con trai thì tay Hổ là âm phát ngành thứ hay con gái. Long Hổ phải tương nhượng nhau. Long là anh phải dài hơn Hổ là em. Long dài hơn nên cần nhọn đầu thì Hổ ngắn hơn cần thuú đầu hay tròn đầu.
3) Sau đến núi (sơn) chủ tĩnh là âm thì nước (thuỷ) chủ động là dương. Khi đến huyệt kết phải có sơn thủy giao lại âm dương giao hội, nghĩa là núi chủ tĩnh đến đó phải quay đầu vẫy đuôi như động và nước chủ động đến huyệt kết thì phải lưu luyến nửa muốn ở, nửa muốn đi tô lại dưới huyệt rồi mới chảy đi.
4) Núi và nước một động một tĩnh đi song song như vợ với chồng che chở nâng đì, hộ vệ nhau. Nước từ khe núi, từ mạch trong núi chảy ra ngoài thì nước lại theo núi mà nuôi dưìng cho khí mạch của núi cho núi đì khô. Long mạch đi có vẻ âm thì chuyển Dương mới vào huyệt. Trái lại Long mạch đi đang Dương thì nhập thủ huyệt trường phải âm. Trên đây mới nói sơ về lý âm dương. Ngoài lý âm dương ta còn phải chú trọng đến ngũ hành nữa. Thấy hình tròn ta gọi là Kim, dài là Mộc, nhọn là Hoả, vuông là Thổ, như sóng gợn là Thuỷ. Ngay đến phương hướng cũng có âm dương ngũ hành khác nhau:
5) Hướng: Hợi, Nhâm, Tý, Quý là Thuỷ.
6) Hướng: Sửu, Cấn là Thổ.
7) Hướng: Dần, Giáp, Mão là Mộc.
8) Hướng: Tý, Bính, Ngọ, Đinh là Hoả.
9) Hướng: Thân, Canh, Dậu, Tân là Kim.
10) Hướng: Tuất là Thổ.
11) Hướng: Càn là Kim.
12) Phương cũng có ngũ hành của nó.
13) Hành Mộc: ở phương Đông.
14) Hành Kim: ở phương Tây.
15) Hành Hoả: ở phương Nam.
16) Hành Thuỷ: ở phương Bắc.
17) Hành Thổ: ở phương Trung ương.
Do đó cụ TẢ AO nói là học chẳng xét cũng là “Vô tông” ở câu 50 có nghĩa là học mà không biết suy xét cho cặn kẽ không phải là địa lý chính tông, không có gốc căn bản.

Dất hình mộc (dài) phát văn

(53) Mộc tiết văn đỗ Trạng Nguyên
Lời bàn:
Mộc là hình dài hay phát về văn, hình vẽ trên chỉ là hình tượng trưng cho dễ hiểu chứ không phải chỉ có kiểu đất hình như vậy mới đỗ Trạng nguyên. Trong hình vẽ, ta thấy chỗ đất kết cũng hình dài và trước sau phải trái cũng có nhiều hình dài, (trước ba bảng, phải trái ba tầng Long Hổ toàn tượng trưng cho văn cả nên ước đoán là văn tới bậc cao nhất Trạng nguyên.


Điều kiện cần thiết để học khoa địa lý
(1) Mấy lời để truyền hậu thế
(2) Ai học địa lý theo học Tả AO
(3) Một là hay học càng Cao
(4) Hai là cố ý cứ lời phương ngôn
(5) Ba là học thuộc Dã đàm
(6) Bốn là mở sách La bàn cho thông
(7) Chẳng qua ra đến ngoài đồng
(8) Tỏ mạch tỏ nước tỏ Long mới tường
Theo cụ Tả AO thì muốn học cho giỏi khoa địa lý thì phải học bốn cách.
Một là phải luôn luôn học hỏi cho mỗi ngày một tiến thêm lên.
(3) Một là hay học càng cao
Hai là phải suy ngẫm cho kỹ lượng những lời lẽ giản dị của địa đạo diễn ca này. Mới nghe nó nhẹ nhàng như ca dao phương ngôn song hàm chứa rất nhiều căn bản của khoa địa lý.
(4) Hai là cố ý cứ lời phương ngôn

Ba là sau khi hiểu kỹ những cơ bản của phép “Tầm long” ở 120 câu địa đạo diễn ca này thì học đến quyển “Dã đàm địa lý Tả AO”để phép điểm huyệt được giỏi.
(5) Ba là học thuộc Dã đàm
Bốn là phải biết dùng “La bàn” cho giỏi.
(6) Bốn là mở sách La bàn cho thông
La bàn là cái địa bàn, Cái nhỏ gọi là “Trốc long” và lớn là “La kinh” hay “La bàn”. Địa bàn này hình tròn như cái đĩa, chính giữa có một kim chỉ nam và xung quanh có vẽ nhiều vòng, mỗi vòng chia làm nhiều ô. Trong vòng có ghi chữ và mỗi vòng dùng vào công việc khác nhau. Người mới học chỉ cần dùng ba vòng là:

1. Vòng thiên bàn
2. Vòng địa bàn
3. Vòng nhân bàn
Sau học giỏi có thể dùng thêm nhiều vòng khác. Địa bàn cỡ trung có độ 13 vòng, cỡ nhỏ ít hơn và cỡ lớn có nhiều hơn 13 vòng.Trong ba vòng thường dùng thì:
4. Vòng Thiên bàn ngoài cùng ứng dụng vào hướng thu, phóng thuỷ.
5. Vòng Địa bàn trong cùng dùng ấn định Long mạch.
6. Vòng Nhân bàn giữa dùng vào việc “Tiêu sa” để xem sa nào tốt, sa nào xấu
Cả ba vòng đều được chia làm 24 ô thì mỗi ô có 15 0 vì mỗi vòng tròn là 360 0. Các chữ trong ba vòng đều giống nhau nó chỉ khác nhau ở chỗ nếu lấy vòng trong cùng vòng địa bàn làm đích thì vòng thiên bàn lệch bên phải nửa ô và vòng nhân bàn lệch bên trái nửa ô.
Những chữ đề trong 24 ô đó thì:
Đông trùng Mão, Tây trùng Dậu, Nam trùng Ngọ, Bắc trùng Tý
Nếu quay theo chiều kim đồng hồ (chiều thuận) trở đi có 24 chữ khác nhau như sau: Mão, ất, Thìn, Tốn, Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh, Mùi, Khôn, Thân, Canh, Dậu, Tân, Tuất, Càn, Hợi, Nhâm, Tý, Quý, Sửu, Cấn, Dần, Giáp.
Nếu phân thành 8 hướng thì:
1. Đông có Giáp, ất, mão.
2. Đông nam có Thìn, Tốn, Tý.
3. Nam có Bính, Ngọ, Đinh.
4. Tây nam có Mùi, Khôn, Thân .
5. Tây có Canh, Dậu, Tân.
6. Tây bắc có Tuất, Càn, Hợi.
7. Bắc có Nhâm, Tý, Quý.
8. Đông bắc có Sửu, Cấn, Dần.
Nếu phân tích 24 hướng này ta thấy có12 hướng thuộc địa chỉ là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn,Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. 8 hướng của Thập Can: Giáp, ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhân, Quý. 4 hướng thuộc Bát Quái : Càn, Khôn, Cấn, Tốn.
Rồi cụ Tả AO nhấn mạnh về sự quan trọng của thực hành “Tầm Long” trong khoa địa lý.
(7) Chẳng qua ra đến ngoài đồng
(8) Tỏ mạch tỏ nước, tỏ Long mới tường
Những người học được sách địa lý chính tông cũng đã là hay lắm ròi. Tuy nhiên học ở sách mới chỉ là học lý thuyết mà không thực hành bổ túc thì lý thuyết đó cũng không đạt được kết quả cụ thể. Trong khoa địa lý người ta chia ra làm hai phần “Loan đầu” và “Lý khí”.
Lý khí là phép quyết định ảnh hưởng kết quả của huyệt kết; văn, võ, phú, qúi, thọ cao hay thấp, chóng hay chậm. Phép này nặng về lý thuyết hơn phép “Loan đầu”.
Trong khoa địa lý phép “Tầm Long” là “Loan đầu” vì nó là phép thực hành đi tìm Long mạch ở ngoài đồng. “Tầm Long” là phép xem hình thổ đất đai lồi lõm đột khởi mà tìm cho tới huyệt tràng là nơi có đất kết. Không phải xem sách xong và ra ngoài đồng là biết “Tầm Long” ngay. Sách chỉ có thể cho ta một số yếu tố cần, muốn giỏi thực hành phải đi tìm Long mạch ngoài đồng, ngoài trời thời gian lâu mới thấu hiểu được.
(7) Chẳng qua ra đến ngoài đồng
Địa lý là một khoa học, mà việc thấu hiểu một khoa học nào cho kỹ lưỡng không ngoài phép phân tích và tổng hợp. Ngay học “Tầm Long” ở ngoài đồng cũng thế, trước phải biết phân tích rồi tổng hợp sau. Việc tầm Long là phải biết phân tích đâu là đại cuộc, thế nào là Thái tổ sơn, Thiếu tổ sơn, Long đi như thế nào, nước chảy ra làm sao. Chỗ nào Long nhập thủ, đâu là Huyệt tràng, Huyền vũ, Thanh long, Bạch hổ, án, Sa, Minh đường, Thuỷ hầu, thế Long sinh hay tử, cường hay nhược.v.v...
Cũng nên định nghĩa những danh từ địa lý này để dễ phân tích.
• Long mạch: là mạch đất chạy trên mặt mà trong có khí mạch (cũng như cành cây trong có nhựa cây) Long có thể đi cao như những dãy đồi núi và cũng có thể đi rất thấp, nó là những thớ ruộng có khi chỉ cao độ 4 cm.
• Nước: Từ Long chảy ra và chạy theo nuôi dưỡng và hộ vệ Long. Những chỗ có nước tụ có khi là Minh đường và có khi chỉ là hộ tống Thuỷ (nước dẫn Long).
• Long nhập thủ: Long mạch chảy băng qua rừng núi đồng bằng đến chố nào nhập thủ kết huyệt ở đó.
• Huyệt tràng: Khu đất chỗ ấy huyệt kết.
• Huyền vũ: Thế đất đằng sau huyệt trưởng trước khi đến huyệt trưởng.
• Thanh long: Thế đất bên trái huyệt mọc ra ôm chầm huyệt.
• Bạch hổ: Thế đất bên phải huyệt mọc ra ôm chầm huyệt.
• án: Đất nổi lên trước mặt huyệt bỡ đỡ cho huyệt án với huyệt như bàn giấy trước mặt người ngồi.
• Sa: là các gò đống chứng ứng nổi lên hiện ra, xung quanh huyệt (kể cả trước lẫn sau huyệt). Sa là nói chung: Bút, bảng, chiêng, trống, voi, ngựa, kiếm, ấn.v.v... là một dạng cụ thể của sa.
• Thuỷ khẩu: Nơi nước đến và đi khỏi Minh đường.
• Minh đường: Nước tụ trước huyệt để nuôi dưỡng khí mạch của huyệt kết.
• Long sinh: Long mạch sống động trông nó bò ngoằn ngoèo quay đầu, vẫy đuôi như con thú, con rắn sống đang bò.
• Long tử: Long mạch nằm ngay đơ, đuồn đuỗn như con lươn, con cá chết.
• Long cường: Long mạch nổi lên to lớn, đứng hùng vĩ ngạo nghễ.
• Long nhược: Long mạch nhỏ nhắn, dài sắc, thư thả, ung dung.
Phân tích thì thế nhưng nếu hiểu thấu đáo tổng hợp lại thì rất giản dị, cái gì có nước là thuỷ cái gì có thớ đất là Long, Long đi mạch đi theo, Long dừng khi mạch tụ lại. Cụ Tả AO đã tổng hợp tất cả các chi tiết mà ta cần biết về phép học “Tầm Long” ở ngoài vào một câu:
(8) Tỏ mạch, tỏ nước, tỏ Long mới tường.
Nom đất thì khó biết Long đi cách nào. Nên phải mượn nước theo chiều nước chảy từ cao đến thấp thì biết Long đi. Nếu nước hai bên dừng lại mà gặp nhau thì biết Long đình mà Long đình thì khí chỉ tụ lại đó để kết huyệt.