Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015

Phát Hiện Khi Phóng Đại 400 Lần Hoa Ưu Đàm Bà La 3000 Năm Mới Nở

Chia sẻ bài viết này
1305310233421858--ss1
Hoa Ưu Đàm Bà La được phóng đại 400 lần dưới kính hiển vi điện tử; thân hoa trong suốt, mang theo rất nhiều điểm sáng, kèm theo những đóa hoa là các Pháp Luân ẩn hiện. (Nhiếp ảnh: Lữ An/Đại Kỷ Nguyên)
Hoa Ưu Đàm Bà La được coi là “điềm lành may mắn”, trong Kinh Phật có ghi chép về “Tiên Giới Kỳ Hoa” 3000 năm mới nở một lần này. Đầu tiên phát hiện trên tượng Phật tại Hàn Quốc, hơn mười năm trở lại đây, Hoa Ưu Đàm Bà La liên tục khai nở ở khắp các vùng thắng địa trên thế giới, trong những điều kiện không có đất, không có ánh sáng, không có nước; có nơi hoa mọc liên tục trong vài năm, lại có nơi cùng lúc có hơn vài trăm, vài nghìn đóa cùng khai nở, cũng là để báo cho thế gian về một điềm lành mỹ hảo đáng vui mừng. Phóng viên Đại Kỷ Nguyên Trương Nhã Huệ tại Miêu Lật, Đài Loan đã tường thuật lại, thông qua bức ảnh được phóng to 400 lần dưới kính hiển vi điện tử, đã triển hiện rõ cấu trúc chi tiết của Hoa Ưu Đàm Bà La, đồng thời còn phát hiện, bên cạnh các bông hoa Ưu Đàm Bà La tại các tầng không gian khác nhau có thể thấy được thấp thoáng các Pháp Luân, đây là điều cực kỳ hiếm thấy.
Bài báo tường thuật…
Vào mùa thu năm 2008, một ngày trước khi cơn gió lớn tràn về, tại thôn Đàm Văn làng Tạo Kiều, Miêu Lật, Đài Loan có một học viên Pháp Luân Công họ Trương đã tu luyện vài năm, đã phát hiện tại phía ngoài của một cánh cửa sắt nhà anh có một cụm Hoa Ưu Đàm Bà La. Qua quan sát bằng kính hiển vi với độ phóng đại 400 lần thấy rõ, bên cạnh những đóa hoa xuất hiện rất nhiều Pháp Luân, Pháp Luân xuất hiện có cái gần có xa, khiến người ta rất đỗi kinh ngạc.
Ông Trương nói, trong quá trình quan sát, ông có cảm giác bị dẫn dắt vào phát hiện này. Nhớ lại hôm đó khi ông vào căn phòng bao bọc bằng thép để dọn dẹp một số vật dụng, thời tiết lúc đó rất đẹp, nhưng được một lúc thì xuất hiện một trận mưa to, khi ông bế một con chó vào trong căn phòng để tránh mưa… ông đột nhiên phát hiện trên cánh cửa căn phòng có một cụm hoa Ưu Đàm Bà La mọc… Đây là loài hoa được cho là “điềm lành may mắn”.
808311043481497--ss
30 đóa hoa Ưu Đàm Bà La mọc trên khung cửa sắt.
Sau đó, tới ngày thứ bảy ông lại phát hiện thêm 15 đóa hoa khác nữa. Chủ nhật tuần sau đó, nhận được thông tin, 5 vị đồng tu đã tới để thưởng thức hoa mọc trên khung cửa sắt, mọi người kinh ngạc khi nhìn thấy khoảng 500-600 đóa hoa ở đó, thêm 1 tuần, ở một chỗ khác lại phát hiện có thêm 40 đóa hoa nữa.
Sau khi ông Trương đem sự việc thần kỳ này kể cho những người nhà vốn không tu luyện biết, một người em làm về kỹ thuật của ông lập tức đi quan sát, vô tình lại phát hiện tại nơi anh mình kể có thêm 3 cụm hoa nữa, mỗi cụm hoa đều là từng bó từng bó một. Người em cẩn thận cắt một cụm hoa đem về phòng thí nghiệm, sau đó dùng kính hiển vi phóng đại lên 400 lần để quan sát.
808311043491497--ss
30 đóa hoa Ưu Đàm Bà La mọc trên khung cửa sắt.
Dưới kính hiển vi, đóa hoa hiện ra có màu trắng thuần khiết, cánh hoa cũng là màu trắng thuần khiết, thân và cành đều trong suốt, viền cánh hoa có màu xanh lục, trên cành hoa phủ đầy những điểm sáng màu trắng long lanh. Điều làm mọi người ngạc nhiên hơn là đằng sau đóa hoa xuất hiện rất nhiều Pháp Luân, Pháp Luân hiện ra có cái ở gần có cái ở xa.
808311043501497--ss
Ảnh chụp phần dưới nụ hoa Ưu Đàm Bà La.
Đồng thời điều thần kỳ nữa là, một tuần sau khi bị cắt, phần gốc của hoa lại mọc trở lại, nở hoa giống hệt như trước. Hoa Ưu Đàm Bà La hiển hiện ra qua kính hiển vi siêu thường thoát tục, mỹ diệu phi thường. Đây có lẽ chính là loài hoa được ghi chép lại trong Kinh Phật.
808311043511497--ss
Ảnh chụp Hoa Ưu Đàm Bà La từ trên đỉnh xuống.
Trong thời gian gần đây, trên mạng thường có các bài báo viết về Hoa Ưu Đàm Bà La – loài hoa 3000 năm mới nở một lần, được nhắc tới trong Kinh Phật đang đua nở ở khắp nơi trên thế giới, ai đã từng đọc qua những bài viết ấy đều cảm thấy thần kỳ. Vậy mà hôm nay loài hoa thần kỳ này lại mọc tại một căn phòng bọc thép, hơn nữa lại nở nhiều như vậy, những người may mắn được tận mắt nhìn thấy đều vô cùng kinh ngạc. Kinh Phật Vô Lượng Thọ có ghi rằng: “Ưu Đàm Bà La Hoa khai nở, đây là điềm lành may mắn, những người được nhìn thấy đều sẽ có phúc”.
808311045421497--ss
Ưu Đàm Bà La Hoa được phóng đại lên 400 lần, thân hoa hiện ra trong suốt.
Theo Kinh Phật ghi chép, Hoa Ưu Đàm Bà La xuất hiện là báo hiệu “Chuyển Luân Thánh Vương” hạ thế xuống nhân gian truyền Chính Pháp. “Như Lai hạ thế, Kim Luân Vương xuất hiện tại thế gian” chính là được giải nghĩa như thế. Gần đây, những đóa hoa này khai nở khắp nơi, cho thấy những điều được ghi trong Kinh Phật là chân thực, Thần Phật quả thật là có tồn tại…
Những điều ghi chép lại
Trong Kinh Phật ghi chép lại rất minh xác rằng, khi loài hoa Ưu Đàm Bà La 3000 năm mới nở một lần xuất hiện thì cũng là lúc Chuyển Luân Thánh Vương xuống thế gian Chính Pháp. ‘Pháp Hoa Văn Cú – Quyển Bốn Thượng’: “Ưu Đàm Bà La Hoa, báo hiệu điềm lành, 3000 năm mới nở một lần, cũng là lúc Kim Luân Vương xuất hiện”; ‘Huệ Lâm Âm Nghĩa – quyển tám’: “Ưu Đàm Bà La Hoa là một điềm lành linh dị, đây là thiên hoa, không phải là hoa dưới nhân gian, khi một vị Như Lai hạ thế, khi Kim Luân Vương xuất hiện trên thế gian, loài hoa này sẽ xuất hiện nhờ đại ân và đại đức của Ngài”. Trong cuốn ‘Kinh Kim Cương’ được bảo tồn trong miếu tự tại Hàn Quốc cũng dự ngôn ghi lại: “Khi Hoa Ưu Đàm Bà La khai nở, cũng là lúc Chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện”… loài hoa này xuất hiện báo hiệu “Chuyển Luân Thánh Vương” đã hạ thế xuống nhân gian Chính Pháp. “Như Lai hạ thế, Kim Luân Vương xuất hiện tại nhân gian” chính là được lý giải như thế. Sự triển hiện của loài Phật Hoa – Ưu Đàm Bà La là một thần tích tại nhân gian, không chỉ khiến chúng ta lãnh hội được sự thần kỳ vô tận và sự ảo diệu vô cùng của vũ trụ mênh mông này, cũng như sự hạn hẹp của trí thức nhân loại; đồng thời còn khải thị cho chúng ta biết về sự bác đại tinh thâm và chân lý siêu thường của Phật Pháp.
Dự ngôn của Phật Thích Ca Mâu Ni từ 2500 năm trước về “Ưu Đàm Bà La Hoa” hôm nay đã xuất hiện tại thế gian, thông qua những dự ngôn chuẩn xác về “Ưu Đàm Bà La Hoa”, báo cho mọi người phải biết trân quý, nắm bắt cơ duyên Đại Pháp vũ trụ hồng truyền duy nhất từ khi vũ trụ khai thiên tịch địa, từ hằng cổ vi hữu tới nay. Đại Pháp vũ trụ Phật gia – Pháp Luân Đại Pháp được ngài Lý Hồng Chí truyền ra thế nhân bắt đầu từ Trường Xuân Trung Quốc năm 1992, cho đến năm 1999, trong vòng 7 năm, tại Trung Quốc Đại Lục đã phổ truyền cho hơn 100 triệu người theo tập; cho đến hôm nay Pháp Luân Đại Pháp đã được hồng truyền trên toàn thế giới, tại hơn 114 quốc gia có hơn 100 triệu người trong cuộc sống thường ngày tuân theo pháp lý cao tầng của Đại Pháp vũ trụ “Chân Thiện Nhẫn” để tu luyện, thân tâm đều thu được lợi ích, tâm tính đề cao, và đạt tới những tầng thứ tu luyện mà những người đi trước chưa từng đạt được.
Thiên cơ phá mê! “Hoa Ưu Đàm Bà La” 3000 năm mới nở một lần hôm nay đã khai nở khắp nơi trên toàn thế giới, thiên thượng muốn mượn sự xuất hiện của “Phật Hoa” để khai thị cho con người ngày nay về cơ duyên mà Pháp Luân Đại Pháp đã được truyền ra nhân thế. Hãy trân quý cơ duyên vạn cổ có thể gặp mà không thể cầu này của sinh mệnh bạn.
Nếu bạn thấy bài viết hay, hãy chia sẻ nó với bạn bè

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Chuyện luân hồi tiền kiếp

Bốn lần chuyển sinh vào đời Tống


Tác giả: Đạo Hàng
[ChanhKien.org] Tu luyện trong Đại Pháp 10 năm, Sư phụ đã không ngừng khai mở trí huệ cho tôi, khiến tôi dần dần nhìn thấy được các việc luân hồi chuyển sinh trong các đời trước. Khi nhìn thấy nguyên nhân dẫn đến các vai diễn của bản thân trong lịch sử, nhìn thấy quá khứ của bản thân có khi bình lặng, có khi trắc trở sóng gió, có khi trải qua cuộc đời rất bi tráng, tôi không khỏi có rất nhiều cảm xúc. Câu chuyện về các kí ức này cũng chỉ là một giai đoạn trong vô số lần luân hồi chuyển sinh của tôi mà thôi.
Trong thời kì Bắc Tống và Nam Tống, trong vở kịch lịch sử không ngừng diễn, có rất nhiều câu chuyện cảm động lòng người, tôi cũng đã may mắn hoặc không may khi được phân vào các thể loại vai diễn.
Chuyển sinh lần thứ 1: Quý phi Thục Nhã (1023-1055)
Năm 1023, đúng vào thời kì Tống Nhân Tông, triều Bắc Tống, tôi sinh ra trong một gia đình quan lại giàu có, là con gái của đại thần Tống Hòa (sau này làm đến quan Thượng thư), tên là Thục Nhã, từ nhỏ thông minh lanh lợi, cầm kỳ thi họa đều giỏi. Khi còn nhỏ, cha mẹ đã mời một tiên sinh tới để đoán mệnh cho tôi. Khi đó cha mẹ đưa ngày sinh tháng đẻ của một nha hoàn, của tôi và của hai anh trai tôi cho tiên sinh đoán mệnh. Tiên sinh phán rằng trong số bốn ngày sinh tháng đẻ này thì tôi sau này sẽ đại phú đại quý. Sau đó quả nhiên đã ứng nghiệm. Năm 17 tuổi, tôi được chọn vào cung, bởi vì tính tình thanh cao điềm đạm, không tranh giành ân sủng, nên được Hoàng đế rất sủng ái, phong là Quý phi, ở trong Hoàng cung sống một cuộc đời thư thái yên bình.
Trong lần chuyển sinh đó sống bên cạnh Hoàng đế, tôi đã chứng kiến một chuyện đại sự, đó là Hoàng đế và cha mẹ của tôi đều quen biết nhau.
Mọi người có thể đã từng nghe về câu chuyện “Ly miêu tráo đổi Thái tử”, kỳ thực đó không phải là một câu chuyện hư cấu, mà là sự thật. Đó là câu chuyện có thật vào thời kỳ tiên đế Tống Chân Tông. Trong các vợ của vua có Lưu Quý phi và Lý Quý phi cùng lúc mang thai, Lưu Quý phi là người rất thông minh, còn Lý Quý phi tính tình đôn hậu. Tiên Hoàng nói, ai sinh con trai thì sẽ lập người đó làm Hoàng hậu. Trong hậu cung, Lưu phi và thái giám Quách Hòe bắt đầu chuẩn bị âm mưu: nếu Lý phi sinh ra con trai thì sẽ hoán tráo con ly miêu vào chỗ Thái tử, hãm hại Lý phi là đã sinh ra quái thai. Quả nhiên, Lý phi đã sinh con trai, kế hoạch trong hậu cung liền được triển khai như đã định. Quách Hòe giao cho Khấu Châu giết Thái tử, nhưng Khấu Châu đã đưa Thái tử giao cho thái giám Trần Lâm, Trần Lâm lại đem Thái tử đưa tới phủ của Bát Hiền Vương. Đúng vào lúc phu nhân của Bát Hiền Vương đang lâm bồn, sinh hạ một bé gái, nên nói cho bên ngoài rằng đã sinh ra song sinh long phượng, nhận Thái tử làm con của mình. Khi đó Lưu phi cũng sinh một bé gái. Lưu phi và Quách Hòe nghi ngờ Khấu Châu không giết chết Thái tử, Khấu Châu một mực nói dối rằng Thái tử đã chết. Để Lưu phi và Quách Hòe không hoài nghi nữa, Khấu Châu đã đập đầu vào cột trụ mà chết. Lý phi bị đưa vào lãnh cung, sau này lưu lạc trong nhân gian, nếm trải nhiều khổ nạn, hai mắt không còn sáng nữa. Sau khi Hoàng đế Chân Tông băng hà, nhi tử của Bát Hiền Vương (cũng chính là Thái tử) lên ngôi, xưng là Hoàng đế Nhân Tông. Sau này, ông đã đem vụ án cũ ra xét xử, Lý phi được trở lại hậu cung, Lưu Thái hậu tự sát, Lý phi chính thức trở thành Thái hậu.
20150108-005499c2d667e679_600x5000
Chữ tiếng Trung: “Ly miêu hoán thái tử” (Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)
Câu chuyện này đã được lưu truyền khá chân thực trong dân gian. Đôi khi tôi cũng thấy lạ vì sao trong dân gian có lưu truyền những chuyện như vậy, liệu có chân thực hơn những ghi chép trong lịch sử không? Đương nhiên có vài điều lịch sử không thích hợp để ghi lại. Vậy vì sao lại có thể lưu truyền lại, tôi cho rằng có thể có hai tình huống: một là, khi đó có người biết chân tướng, miệng truyền miệng, rồi lưu truyền lại; hai là, trong lịch sử lâu dài cũng có các cao nhân biết thiên sự, đưa tình huống chân thực họ đã nhìn thấy được mà lưu truyền lại, trong quá trình lưu truyền ít nhiều cũng có những điều thêm bớt, nhưng đại thể là chân thực. Trong xã hội nhân loại, điều gì nên được lưu truyền lại, cũng không phải là vô duyên vô cớ, đều là thiên ý an bài, nhằm lưu lại điều gì đó cho xã hội con người, hoặc muốn nhắc nhở con người một đạo lý nào đó.
Lý Thái hậu chịu đựng đại nạn này, nếm trải đủ khổ sở trong nhân gian, tính tình ngày càng trở nên thiện lương, thường khuyên nhủ Hoàng thượng chú ý tới các thống khổ của dân chúng. Thái hậu thường nói, Lưu phi quá trọng danh lợi, hại người lại hại bản thân, còn nói: “Ta và cô ấy thời trẻ bản tính rất giống nhau, cái gì mình thích thì muốn có bằng được.” Đôi khi tôi đi vào trong cung để thỉnh an Thái hậu, khi có ít người, Thái hậu thường bảo tôi ngồi bên cạnh, kể cho tôi về những chuyện đã trải qua của mình, kể đến chuyện đau lòng, thì tôi cùng Thái hậu đều rơi lệ. Hoàng thượng có lần đã cười đùa với Thái hậu, nói: “Thục Nhã giống như con gái của mẫu hậu vậy.
Vào lần chuyển sinh đó, cuộc sống của tôi đã rất bình yên, phú quý, nhưng cuộc đời lại ngắn ngủi, chỉ sống đến 32 tuổi, mắc bệnh viêm họng mà chết, để lại một người con gái tên là Tuyết Nhi. Những nhân vật nổi tiếng thời kì đó có Triển Chiêu, Bao Chửng, Công Tôn Sách, Phạm Trọng Yêm v.v, hình tượng những nhân vật này trải qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử mà vẫn sống động cho đến ngày nay.
Nhân tiện ở đây tôi xin kể về việc dùng công năng để nhìn thấy quan hệ nhân duyên của Lý phi và Lưu phi trong các đời trước:
Thời kì Tống Thái Tông, hàn lâm học sĩ Vương Chương Bình cưới chị họ làm vợ, tên là Vương Thúy Bình, sau khi kết hôn năm năm mà vẫn chưa có con, Vương Chương Bình lại cưới thêm một tiểu thiếp, tên là Bạch Chỉ Bình. Thúy Bình nhờ được sủng ái nên kiêu ngạo, cậy bản thân là chính thất, lại có tâm đố kỵ rất mạnh, tìm mọi cách làm khó dễ Chỉ Bình, thường xuyên chỉ vì những lỗi rất nhỏ mà dùng gia pháp đối với Chỉ Bình, có lúc lợi dụng chồng không có nhà, còn dùng roi đánh cô ấy, có khi còn bắt cô ấy quỳ xuống, liên tục lăng mạ phỉ báng, mắng đến mức cao hứng còn thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Khi Chỉ Bình mang thai, Thúy Bình ngoài mặt đã kiềm chế hơn một chút, nhưng chiêu bài sử dụng lại càng thâm hiểm hơn: có lúc còn bỏ chất làm suy nhược khí huyết vào thuốc mà Chỉ Bình đang uống. Khi Chỉ Bình mang thai tháng thứ ba, một lần biết Chỉ Bình sắp đến thỉnh an mình, Thúy Bình bèn đổ một lớp dầu trơn ra sân, khiến Chỉ Bình trượt té ngã mà sảy thai. Chỉ Bình biết là do mưu kế của Thúy Bình, nên càng oán hận Thúy Bình, trong tâm nghĩ: “Chị đã làm cho cốt nhục của tôi phân ly, tôi sau này cũng làm cốt nhục của chị phân ly.” Sau khi Chỉ Bình sảy thai nửa năm, Vương Chương Bình lại lấy thêm một tiểu thiếp, tên là Lục Lộ, cô ấy cũng phải chịu sự đè nén của Thúy Bình. Nhưng Lục Lộ không hay nhẫn nhịn như Chỉ Bình, thường xúi giục Chỉ Bình báo thù Thúy Bình, đôi khi còn bàn bạc với Chỉ Bình tìm cách báo thù, cuối cùng cả hai hợp sức dùng thạch tín hạ độc Thúy Bình. Sau khi Thúy Bình chết, sức khỏe của Chỉ Bình bắt đầu không tốt, khí huyết hao tổn, không mang thai được nữa. Sau này Lục Lộ sinh được một bé trai, được Vương Chương Bình phong cho làm chính thất, ngày qua ngày như giễu cợt Chỉ Bình, Chỉ Bình cả ngày buồn bực không vui, gần 42 tuổi thì rời khỏi nhân thế.
Sau này Thúy Bình chuyển sinh thành Lý phi, Chỉ Bình chuyển sinh thành Lưu phi, Lục Lộ chuyển sinh thành Khấu Châu. Đúng như dân gian có câu ca: lòng người sinh một niệm, thiên địa tỏ tận tường; thiện ác nếu không trả, càn khôn tất tư tâm.
Qua nghìn năm luân hồi, Lý phi và Lưu phi bây giờ đều đang là đệ tử Đại Pháp, đều là đồng tu bên cạnh tôi.

Chuyển sinh lần thứ 2: Tử Vân, con gái của Tống viên ngoại (1057-1089)
Thục Nhã sau khi mất, chưa tới hai năm, năm 1057, lại chuyển sinh đến nhà Tống Bình viên ngoại, phủ Thái Bình, thành phố Trịnh Châu, tỉnh Sơn Đông.
Tống viên ngoại thích làm việc thiện, chỉ có một cô con gái, khi sinh nhìn thấy đám mây sắc tím vòng quanh, cho nên đặt tên là Tử Vân. Lúc nhỏ Tử Vân đã được bói rằng số mệnh long đong, hậu vận không tốt, nên cha mẹ đã lên chùa làm hình nhân thế mạng cho Tử Vân, họ cũng thường đưa cô tới chùa dâng hương.
Tử Vân dung nhan xinh đẹp, phẩm hạnh đoan trang. Năm 17 tuổi, một hôm cô đi chùa dâng hương, đang trên con đường lên núi hẹp, xe kiệu đi rất chậm, gió thổi tung rèm cửa, làm lộ ra dung nhan của Tử Vân, khiến một người bên đường hồn siêu phách lạc, cuộc đời của Tử Vân từ đó thay đổi. Người này chính là thủ lĩnh của bọn thổ phỉ trên núi Nhị Long, tên là Khâu Bình, vì bị quan phủ áp bức mà lưu lạc tới đây làm cướp. Nhân lúc rảnh rỗi, anh ta xuống núi vào thành, đang thong thả ngao du, bỗng nhiên lại muốn lên núi rút một quẻ, vừa đi đường vừa thưởng ngoạn phong cảnh. Đúng lúc gặp một chiếc kiệu nhỏ đi qua, vì đường hẹp, nên đứng sang một bên để nhường đường. Đúng là con đường nhỏ oan gia, gió thổi làm tung rèm cửa, và anh ta nhìn thấy một khuôn mặt xinh đẹp, vừa nhìn thấy đã chấn động, toàn bộ tâm tư đã dồn vào Tử Vân, liền lặng lẽ bám theo suốt dọc đường mà Tử Vân không hề hay biết. Đến khi trời tối, Tử Vân đột nhiên cảm thấy bất an, cha mẹ thấy thân thể cô không được khỏe, nên bảo cô đi ngủ sớm một chút. Tử Vân trằn trọc khó ngủ, ngồi dậy để thêu thùa. Khâu Bình chọn đúng thời cơ đó, phóng mê hương làm Tử Vân mê man ngã xuống, rồi cõng Tử Vân trên lưng rời khỏi phủ Thái Bình.
Tử Vân đáng thương tỉnh lại, thấy mình đang ở trên xe, thân thể bị trói bằng dây vải, vừa định mở miệng kêu lên thì phát hiện miệng đã bị bịt chặt lại, trái tim đáng thương cảm thấy vô cùng hốt hoảng. Lên đến núi, Khâu Bình phái người trông nom Tử Vân. Tử Vân lúc đầu chẳng chịu ăn uống gì, chỉ muốn tự sát, nhưng chẳng có cơ hội nào. Khâu Bình coi bộ cũng là người đắm đuối thương hương tiếc ngọc, thường thường lui tới, dùng lời lẽ mềm mỏng khuyên giải. Khi Khâu Bình không có ở đó, huynh đệ thủ hạ của anh ta lại phân tích điều lợi hại cho Tử Vân nghe, rằng lấy đại ca của họ thì tốt ra sao. Giằng co mấy ngày như vậy, Tử Vân rơi vào hôn mê. Khi tỉnh dậy thấy Khâu Bình đang cho mình uống nước, ánh mắt đầy yêu thương, trái tim cô mềm xuống, cảm thấy con người này không phải đã mất hết nhân tính, vẫn còn lương tâm, nhưng cô vẫn chưa cam lòng. Vậy nên nhắm hai mắt, cắn chặt răng lại. Khấu Bình thấy thế, bỏ bát thìa xuống, quỳ xuống nói: “Đời này mong nguyện được kết hôn với tiểu thư, mong tiểu thư đồng ý, nếu không đồng ý, tôi sẽ quỳ mãi không đứng lên.” Tử Vân không nói gì cả, Khấu Bình quỳ một lúc, lại nói: “Đời này chỉ cầu được kết lương duyên với tiểu thư, tâm này không hai lòng, nguyện đối xử tốt với tiểu thư, nếu như làm không được, thì sẽ chết dưới loạn đao.” Tử Vân không khỏi rùng mình, mở hai mắt ra, hoang mang không biết nói gì, trong tâm suy nghĩ, lại nhắm mắt lại, nước mắt không ngừng tuôn ra khóe mắt. Đúng lúc đó Khâu Bình ngẩng đầu lên, lấy khăn mùi xoa nhè nhẹ lau nước mắt cho cô. Tử Vân dường như nghe thấy từ trong hư không có tiếng người thở dài, phảng phất nghe được một câu: “Không uổng một tấm chân tình của anh ta.” Cũng không biết là có ý gì, nhưng tâm tư cũng dần dần mềm lại, nói với Khâu Bình: “Chàng hà tất phải nói lời thề độc như thế.” Khâu Bình nói: “Đời này tôi chỉ mong nghĩ tới tiểu thư, hy vọng tiểu thư đồng ý.” Tử Vân nhớ rằng hồi nhỏ cha mẹ đã lấy quẻ đoán mệnh cho mình, không khỏi thở dài một tiếng, nói: “Chàng đứng dậy đi.” Trong tâm nghĩ âu cũng là số mệnh đã định như thế này rồi! Nét mặt Tử Vân dần dần thoải mái hơn, không còn cảm giác cứng cỏi kiên quyết cự tuyệt nữa. Khâu Bình vui mừng khôn xiết, đứng dậy dặn dò thủ hạ làm một ít cháo loãng, vẻ mặt vui cười quấn quít bên Tử Vân. Tử Vân bắt đầu dần dần tiếp nhận đồ ăn, đắn đo sự việc nhân sinh mấy hôm, vài ngày qua đi, cô chấp nhận lời cầu hôn của Khâu Bình, trở thành phu nhân của sơn trang.
Tử Bình khi nhàn rỗi thường ở bên cạnh Tử Vân, đôi lúc cùng nhau đi ngắm cảnh, đôi lúc hát cho Tử Vân nghe, yêu thương, che chở cho Tử Vân. Thời gian lâu dần, tình cảm hai người dần thêm sâu đậm. Tử Vân thường khuyên nhủ Khâu Bình, đừng vô cớ lạm sát, thấy phụ nữ con nhà lương thiện gặp nạn trên núi, cô khuyên nhủ một hai câu, anh cũng thả cho về.
Một lần kia, khi Khâu Bình nghe Tử Vân mà thả một cô gái đã đắc tội với phó thủ lĩnh. Phó thủ lĩnh họ Vương, tên là Oa, khi mẹ hắn ta mang thai, đang men theo sườn núi đi xuống, đúng đến chỗ đất trũng thì sinh, nên đặt tên con là Vương Oa (chỗ trũng). Con người của hắn ta giống như cái tên kỳ lạ, tâm tính u ám, đạo đức bại hoại, phẩm hạnh thấp kém. Phó thủ lĩnh thấy đại ca thường nghe theo phu nhân mà vài lần làm vuột mất con mồi lớn, nên ôm hận trong lòng, lại thêm lần này thả mất cô gái mà hắn ta muốn cưới làm vợ, do vậy hắn nảy sinh ác tâm. Chọn thời cơ thích hợp, nhân lúc đại ca không có mặt ở đó, hắn lén bỏ thuốc mê vào đồ ăn của Tử Vân. Tử Vân mê man ngã xuống, hắn dùng cái bao trùm kín lại, khênh xuống núi, giao cho một người thân tín đem đi nơi khác bán cho lầu xanh. Tú bà ở lầu xanh thấy Tử Vân diện mạo xinh đẹp, muốn Tử Vân tiếp khách, nhưng Tử Vân thà chết chứ không chịu phục tùng, một mực tìm đến cái chết nhưng không thành, cuối cùng đi đến thỏa thuận với tú bà: chỉ tiếp khách chứ không bán thân, ngồi tiếp khách gảy đàn xướng ca. Trong tâm cô cảm thấy vô cùng đau xót. Thỉnh thoảng bỗng nhiên nghĩ nhớ cha mẹ, nhưng không phải là nhớ da diết, mà cảm thấy xấu hổ với cha mẹ. Có khi cũng nhớ tới Khâu Bình, hồi ức về năm năm sống ở sơn trang trên núi mà nước mắt rơi lã chã.
Một năm sau, một hôm cô đang dựa vào khung cửa sổ nhìn ra ngoài, thì một thương nhân giàu có đi qua đường trông thấy. Chấn động trước dung mạo xinh đẹp của cô, ông liền bước vào lầu xanh, đòi mua cô với giá cao. Được biết Tử Vân là bán nghệ chứ không bán thân, tức thì lấy một lượng bạc lớn chuộc Tử Vân. Tử Vân cân nhắc một lúc, rồi lập tức đồng ý. Sau khi ra khỏi lầu xanh, cô theo phú thương về Dương Châu. Phú thương tên là Tống Hoa, là một thương nhân buôn muối, người vợ cả ở nhà có hai người con trai, con trai lớn là Tống Bình, con trai thứ là Tống Sướng. Tống Sướng vừa nhìn thấy Tử Vân, tâm tư đã xao động, nhưng rốt cuộc cũng không dám suồng sã. Vì phụ thân thường xuyên vắng nhà, thời gian lâu dần, Tống Sướng thường xuyên chú ý đến nhị nương Tử Vân, ánh mắt sàm sỡ, nhưng Tử Vân không quan tâm, cậu ta dùng lời lẽ thăm dò liền bị Tử Vân cự tuyệt, vì thế mang hận trong tâm, thỉnh thoảng nửa đêm lén nhìn trộm, Tử Vân dấu một con dao bên mình để đề phòng bất trắc. May mà người vợ cả nhận ra điều này nên đã quản thúc nghịch tử. Người vợ cả tính tình hiền lành, đoan trang, Tử Vân đối với người vợ cả cũng vô cùng tôn kính, sớm tối thỉnh an, rất phục tùng không dám khinh mạn. Người vợ cả phái người trông nom cô cẩn thận, lại cưới vợ cho Tống Sướng, để cậu ta kiềm chế cái tâm kia đi. Nhưng rốt cuộc Tống Sướng vẫn không từ bỏ tà tâm, càng không đạt được thì càng mong muốn, cuối cùng nảy sinh độc kế, khi nhị nương mắc bệnh, đã lén cho chất độc cho vào trong thuốc, hạ độc chết nhị nương vào năm cô 32 tuổi. Tử Vân ở trong nhà họ Tống tổng cộng được 9 năm.
Lại nói về Vương Oa sau khi bán Tử Vân cho lầu xanh, để che đậy chân tướng bức hại Tử Vân, Vương Oa đã dựng nên một trận cháy lớn ở sơn trang. Sau khi Khâu Bình trở về, phát hiện không thấy Tử Vân, Vương Oa khóc lóc vật vã nói với Khâu Bình rằng sau khi đám cháy lớn xảy ra thì không biết chị dâu đi đằng nào. Khâu Bình phái người đi tìm khắp nơi nhưng không có kết quả gì. Từ đó về sau, Vương Bình cũng không đi bước nữa. Ba năm sau khi Tử Vân rời khỏi sơn trang, trong một lần bị quan binh bao vây sơn trang, Khâu Bình dẫn đầu thuộc hạ đột phá vòng vây nhưng không thành, cuối cùng đã chết dưới loạn đao của quan binh. Ứng nghiệm lời thề trước kia với Tử Vân “nguyện đối xử tốt với tiểu thư, nếu như làm không được, sẽ chết dưới loạn đao.”
Ở đây, tôi thuận tiện kể về mối nhân duyên từ đời trước giữa Khâu Bình và Tử Vân.
Tử Vân đời trước chính là Thục Nhã ở câu chuyện trên, Khâu Bình là gia nô của cô ấy, tên gọi là Tống Bình (thời đó gia nô được mua về đều phải theo tên họ của chủ nhân), bằng tuổi với Thục Nhã, trong lòng luôn luôn ngưỡng mộ tiểu thư, nhưng tự biết thân phận thấp kém, không dám thổ lộ, mỗi ngày anh ta chỉ mong được nhìn thấy tiểu thư một lần, chẳng mong cầu gì khác. Từ khi tiểu thư nhập cung, không được nhìn thấy tiểu thư nữa, nên mắc bệnh tương tư, đau buồn mà chết, trước khi chết vẫn còn nhớ mong tiểu thư khôn nguôi. Do đó đã kết mối duyên phận giữa hai người trong đời này.
Hôm nay sau cả ngàn năm, nhờ công năng tu được trong Đại Pháp, nhìn xuyên được qua nghìn năm lịch sử, tôi mới hiểu thấu hết thảy. Sau cả nghìn năm, tôi cuối cùng cũng minh bạch ý nghĩa thực sự của câu nói mà Tử Vân ở trên núi phảng phất nghe được từ trong hư không: “không uổng một tấm chân tình của anh ta.”
Con người thực sự rất đáng thương, trong vô tri mà làm tổn hại tới người khác, thì đều phải bồi hoàn lại. Con người đều mong muốn làm chủ vận mệnh của mình, nhưng từ trước tới nay chưa từng làm được.
Viết đến đây, tôi nghĩ đến Khâu Bình hiện nay đang ở đâu? Tôi kinh ngạc phát hiện rằng Khâu Bình chính là người chồng hiện tại của tôi (trước đây tôi đã biết mình có ba đời duyên phận vợ chồng với anh).
Sau này Khâu Bình lại chuyển sinh thành vua Louis XV của Pháp. Khi đó tôi là hầu tước phu nhân Marie Leszczyńska, vừa xinh đẹp vừa tài hoa, được quốc vương rất mực sủng ái. Sau này đức vua tìm được ý trung nhân mới nên bỏ tôi mà đi. Tôi vì không dứt bỏ được tâm đố kỵ, oán hận, cuối cùng tuyệt vọng mà thành bệnh, chết sớm. Cũng là một lần hoàn trả nợ nghiệp.
Cổ nhân có câu “nam nữ thụ thụ bất thân”, về phương diện nam nữ có rất nhiều quy phạm đạo đức, đặc biệt là quy phạm đối với nữ giới lại càng nghiêm khắc. Kỳ thực đó không chỉ là tiêu chuẩn đạo đức của xã hội đương thời, mà còn có nguyên nhân thâm sâu. Đó chính là để tránh không tạo nghiệp giữa nam và nữ. Con người hiện nay không có trách nhiệm với tình cảm của mình, vì vô ý mà làm tổn thương người khác, kỳ thực những việc đó đều phải hoàn trả. Nếu như thực sự có người vì tương tư bạn nên đau khổ mà chết, hay là vì bạn mà đố kỵ, oán hận đến chết, thì tương lai bạn có thể phải dùng cả một đời để hoàn trả, cũng có thể phải mất mấy đời mới hoàn trả hết được, không kể là bạn hữu ý hay vô ý, chỉ cần thống khổ của người đó là vì bạn mà tạo thành. Bởi vì chư Thần xem vấn đề này là quan trọng nhất. Đương nhiên đây cũng là chỗ khiếm khuyết trong lý của cựu vũ trụ, tương lai sau khi Chính Pháp kết thúc, có thể sẽ phát sinh biến hóa, đều sẽ được quy chính.

Lần chuyển sinh thứ 3: Lương Sơn Bạc, Lý Quỳ (1089-1121)
2010072008520782073300
Lý Quỳ (Nguồn: Internet)
Tử Vân sau khi chết chuyển sinh ngay vào năm đó, đầu thai vào một gia đình bần cùng, họ Lý, tên Quỳ. Lần chuyển sinh này dung mạo xấu xí, nhưng sức khỏe hơn người, hay gây chuyện sinh sự, cha mẹ mất sớm, càng không có ai quản thúc. Thấy chuyện bất bình là không tha, nên thường bị người ta tìm đến nhà. Năm 22 tuổi, vì việc bất bình mà đã đánh chết cả mạng người, nên phải sống lang thang bên ngoài, gặp được Tống Giang, sau khi kết bái huynh đệ thì lên Lương Sơn Bạc. Vì chiến đấu rất dũng mãnh nên thường làm tiên phong. Binh khí được trời cao chiếu cố, lưỡi đao loang loáng sắc bén xông pha trận mạc nhưng không hại người vô tội. Quân khởi nghĩa Lương Sơn sau khi nhận được thư chiêu an, dưới sự chỉ huy của Tống Giang, phía Bắc đánh dẹp quân Liêu, phía Nam đánh dẹp quân Phương Lạp, Nam chinh Bắc chiến, lập được rất nhiều chiến công hiển hách. Nhưng trong triều, Cao Cầu mang tâm tật đố, tìm cơ hội hãm hại, đã bỏ thuốc độc vào trong ngự tửu mà Hoàng thượng ban thưởng (cho Tống Giang), Tống Giang uống xong, biết rằng trong rượu có độc, sợ Lý Quỳ sẽ tạo phản sau khi mình chết mà dẫn đến tai ương cho các huynh đệ, nên gọi Lý Quỳ tới, cùng anh ta uống rượu, nói thực tình với anh ta rằng: “Kiếp này không thể làm huynh đệ được nữa, nguyện kiếp sau lại được kết duyên, sẽ chăm sóc anh tốt hơn.” (Vì lời hứa này mà sau này Tống Giang ở Anh Quốc chuyển sinh thành dì của tôi). Sau khi Lý Quỳ ra về, rượu độc đã dần dần phát tác, trong tim Lý Quỳ đau đớn vật vã, như những cơn sóng ập đến hết trận này đến trận khác, khi độc tính ngấm vào đến tim, tim như thể bị lưỡi đao xoắn lại, anh ta chết trong đau đớn cùng cực. Khi đó anh 32 tuổi.
(Giải thích: sau này tôi đã từng hóa thân là một nữ nhà văn nổi tiếng ở Anh Quốc, tên là Charlotte Brontë, những người sống trong thời Lương Sơn Bạc gồm có Tống Giang, Lâm Xung, hòa thượng Lỗ Chí Thâm trong lần chuyển sinh đó đã trở thành dì, mẹ, và em gái thứ năm của tôi – Maria Brontë)

Chuyển sinh lần thứ 4: binh sỹ của quân Nhạc Gia, Chương Mãnh (1121-1157)
Sau khi Lý Quỳ chết, cùng năm đó lại chuyển sinh vào một hộ gia đình nông dân, tên là Chương Mãnh, sinh ra đã mũi thẳng miệng vuông, tướng mặt đường đường, từ nhỏ đã thích võ thuật. Khi đó chính quyền Bắc Tống bị quân Kim tiêu diệt hoàn toàn. Triệu Cấu thiết lập chính quyền ở phía nam, xưng là Nam Tống. Quân Kim ở Trung Nguyên giết chóc, đốt phá, cướp đoạt, không từ một tội ác nào. Tướng lĩnh trong chính quyền Nam Tống thành lập quân đội chiếm lại đất đai bị mất. Chương Mãnh từ biệt người vợ mới cưới chưa được bao lâu để tham gia vào quân Nhạc gia, năm đó anh 17 tuổi. Chủ soái Nhạc Phi là người có võ nghệ cao cường, sống vì mọi người, tính tình chính trực, luôn quan tâm đến binh sỹ. Đội quân Nhạc Phi chiến đấu dũng mãnh, kỷ luật nghiêm minh, khiến cho quân Kim chỉ nghe đến đã hoang mang. Bách tính rất hoan nghênh đội quân này. Vào lúc quân đoàn của Nhạc gia hùng mạnh, lên đến 20 vạn người, đã kinh qua mười mấy năm chiến đấu, luôn luôn bảo trì lực lượng chiến đấu dồi dào, thật là hiếm thấy.
Quân của Nhạc Phi lúc đương thời là lực lượng chủ yếu chống lại quân Kim, liên tục thu hồi lại được đất đai bị mất. Năm 1140 diễn ra một chiến dịch trứ danh gọi là “Đại thắng lợi ở Yển Thành”. Trận chiến này là trận đọ sức giữa đội quân do chủ soái Nhạc Phi dẫn đầu với quân Kim do Kim Ngột Thuật cầm đầu. Binh khí của quân Kim là áo giáp sắt và quải tử ngựa (ngựa có khả năng quay đầu nhanh chóng), chúng rất coi thường quân của Nhạc gia. Quân áo giáp sắt là đội kỵ binh chủ lực, đầu đội mũ giáp sắt hình tháp, thân mặc áo giáp sắt, trên ngực ngựa cũng choàng giáp sắt, đó là đội quân xông trận chính. Đội quải tử ngựa là đội kỵ binh mỏng, phân bố đều ở hai bên. Khi tác chiến, đội áo giáp sắt đi tiên phong, tiến về phía trước mà càn quét sạch, quải tử ngựa ở hai bên cánh phối hợp. Chủ soái Nhạc Phi bày kế sách để đối đầu với thế trận này. Mỗi một đại khiên do hai binh sỹ phối hợp cầm, đại khiên được chế tạo rất đặc biệt, to gấp đôi so với khiên bình thường, mặt sau của đại khiên hai bên có hai tay nắm bên trên và dưới, hai binh sỹ mỗi người giữ một tay nắm, binh sỹ giữ tay nắm phía trên thì tay trái cầm một đại đao dùng để chặt đầu người, binh sỹ giữ tay nắm phía dưới thì tay phải cầm song đao lưỡi cong dùng để chặt chân ngựa, đối sách của Nhạc Phi đã phá được đội hình áo giáp sắt của quân Kim. Để tiêu diệt quân quải tử ngựa, binh sỹ được trang bị cây thương dài, đầu cây thương có cái móc, gọi là thương móc ngựa, làm ngã quải tử ngựa. Trong chiến thắng ở Yển Thành, tôi với Lý Tề hợp tác, đội quân khi đó là đội quân tinh nhuệ nhất, do Nhạc Vân (con trai của Nhạc Phi) chỉ huy. Do đó, quân Kim nghe đến quân của Nhạc gia là đã sợ thất kinh, bởi lực lượng chiến đấu của Nhạc gia quá hùng mạnh, không hề ham sống sợ chết. Chủ soái nhiều lần phái Nhạc Vân đem đội quân đi xuất kích, Nhạc Vân lập được nhiều chiến công, nhưng chủ soái không ghi nhận, mà chỉ ghi nhận các tướng lĩnh khác. Mỗi lần chiến dịch kết thúc, chủ soái đích thân đi hỏi thăm binh sỹ. Tôi còn nhớ được một sự kiện nhỏ thế này: một lần sau một chiến dịch, bàn tay của tôi bị đau, không điều khiển được tốt, đang lúc vẩy vẩy tay thì gặp chủ soái đi ngang qua, đích thân tới thăm hỏi, làm tôi cảm động không thôi.
101-1403050UGA35
Nhạc Vân, con trai của Nhạc Phi
Dân chúng vô cùng ủng hộ đội quân của Nhạc gia, thường mang đồ ăn tới để ăn mừng chiến công. Sau khi chiếm lĩnh được một thành trì, dân chúng ra xếp hàng hai bên đường để hoan nghênh, có khi còn giơ hương án, có khi còn quỳ bái không đứng dậy. Hồi tưởng lại những năm đó, nước mắt tôi không khỏi dâng đầy khóe mắt.
Trong đại thắng lợi ở Yển Thành, quân Kim một lần nữa hiểu được “phá núi thì dễ, phá đội quân Nhạc gia thật khó!” Kim Ngột Thuật đã khóc nức nở mà thối lui, quân Nhạc gia thừa thắng chiếm lĩnh được rất nhiều thành trì, mở rộng bờ cõi, chủ soái hô hào: “Tiến đánh phủ Hoàng Long {kinh đô nhà Kim} xong, cùng chư quân thỏa thích uống rượu.” Nhưng Cao Tông Triệu Cấu, bị Tần Cối xúi bẩy, sợ rằng nghênh đón hai vị vua Huy Tông và Khâm Tông trở về rồi sẽ bị mất đế vị, cuối cùng liên tiếp gửi đi 12 đạo Kim Bài thúc giục Nhạc Phi hồi binh. Ngày hồi binh, tiếng khóc của bách tính làm chấn động không gian, có một số người còn đi theo đội quân xuống phía Nam. Tần Cối vẫn không từ bỏ tâm địa gian trá, hãm hại Nhạc Phi, khép vào tội danh “không cần có” mà sát hại Nhạc Phi.
Sau khi Nhạc Phi chết, tinh thần của đội quân Nhạc gia rất đau thương, trong đau buồn phẫn nộ không ít người giận dữ, muốn báo thù cho Nhạc nguyên soái. Có người muốn ám sát Tần Cối, định mặc y phục bịt mặt đi trong đêm tối, nhưng bị người khác ngăn lại, tận tình khuyên giải: “Vì tiếng tăm tài năng của chủ soái là ‘tinh trung báo quốc’, không thể vì dũng khí nhất thời được, người đời sau sẽ tự lý giải được.” Rất nhiều người chỉ có thể nhẫn nhịn mà ngậm lệ xót thương.
Gió cuốn mây tan, cảnh tượng ở phương Bắc hừng hực, quân Kim ở phương Bắc uống rượu ca hát, ăn mừng vì không còn đối thủ. Năm 1141, triều đình Nam Tống ký hiệp ước với nhà Kim, ranh giới bắt đầu từ sông Hoài ở phía Đông cho tới cửa ải Đại Tản ở phía Tây, phía Nam quy về nhà Tống quản, phía Bắc quy về nhà Kim quản. Một vở kịch lớn oanh liệt đã kết thúc bằng một giai điệu buồn.
Sau này đội quân Nhạc gia bị triều đình giải tán dần, không ít binh sĩ vì điều này mà uất ức đến bạc tóc.
Khi còn nhỏ ở nhà tôi có treo bức tranh về đội quân Nhạc gia, khi đó tôi vô cùng ngưỡng mộ Nhạc Phi. Một lần, nghe bài hát “Dòng sông máu”, vừa nghe tôi đã cảm giác thân thể chấn động tầng tầng, khiến tôi nhớ lại cảm xúc hơn 800 năm trước. Giờ đây tôi biết rằng hết thảy các cảm xúc đều không phải là vô duyên vô cớ. Ví như, với Tần Cối là sự thống hận, với quân Kim là sự phẫn nộ vì việc sát hại dã man dân chúng, và đối với Lương Hồng Ngọc, phu nhân của Hàn Thế Trung là sự ca ngợi. (Trong những năm Hàn gia tác chiến, Lương Hồng Ngọc đánh trống trợ trận)
Hơn nữa, tôi còn phát hiện rằng, trong cuộc khởi nghĩa của đội quân Lương Sơn Bạc thời kỳ Bắc Tống, có không ít người sau khi chết trận lại luân hồi chuyển sinh tham gia vào đội quân Nhạc gia trong thời Nam Tống, mà hiện nay cũng không ít người đang tu luyện Đại Pháp, cũng có không ít người kết duyên với các đệ tử Đại Pháp, ví dụ như hai anh trai của tôi (chưa tu luyện) đều từng là binh sĩ của quân Nhạc gia.
Chính là để nói:
Một ca khúc bi tráng chỉ thoảng qua như một chén rượu, một thời anh hùng hào khí còn vang mãi.
Chính khí bảo hộ vùng đất Trung Nguyên, chính là để dẫn đường cho chúng sinh đắc Pháp.
Ngoái đầu nhìn lại bốn lần chuyển sinh của mình, trong tâm tôi không khỏi khởi lên rất nhiều cảm xúc: ba đời trước chỉ sống được 32 tuổi, rồi vội vàng luân hồi, giống như một màn kịch diễn nhanh vậy, mau chóng chuyển sinh, màn kịch cuối cùng đã hạ xuống để chuẩn bị cho màn kịch lớn khai diễn. Đôi khi tôi xem TV hay đọc tiểu thuyết, thấy sự phức tạp của các nhân vật trong đó không giống những việc đã trải qua trong kiếp sống thực của mình, vốn không có chút gì hư cấu. Do vậy có lúc tôi nghĩ là cứ nên nhìn vào bản thân mình thôi!
Đối với một nhân vật lịch sử nào đó, hoặc một sự kiện lịch sử nào đó, nếu chúng ta có cảm giác chấn động xuất phát từ sâu thẳm trong tâm hồn, hoặc lâu lâu vẫn lẩn quất trong tâm, vậy rất có thể bạn và nhân vật hoặc sự kiện đó là có quan hệ, hoặc cũng có thể là bạn với người đó đã cùng tham gia sự kiện, hoặc là nhân vật đó trong lịch sử đã có duyên phận rất thâm sâu với bạn, hoặc cũng có thể nhân vật đó chính là một vai diễn mà bạn đã từng diễn trong lịch sử.
Khi bạn đi qua một nơi mà từ trước tới nay chưa từng đi qua, nếu có một loại cảm giác quen quen mờ mờ nào đó, hoặc như hưng phấn, hoặc như chua xót khổ sở, thì nơi đó rất có thể là bạn ở trong một lần sinh nào đó đã từng đi qua nơi này, tình này cảnh này, gợi lên từ nơi sâu thẳm trong tâm hồn bạn hồi ức về lịch sử xa xưa. Ví dụ, một đồng tu ngồi trên tàu hỏa, khi đi qua Sơn Hải quan thì trong lòng không khỏi đau xót, nước mắt tuôn rơi không cầm nổi, nguyên lai anh ta từng là một vị tướng quân trong thời kỳ Minh Thành Tổ, và nơi đó từng là địa phương mà anh đã từng đóng quân ở đó.
Còn như người tu luyện vì sao có thể nhìn thấy các tình huống chuyển sinh luân hồi trong quá khứ, thì đối với người không tu luyện có thể là không dễ lý giải. Kỳ thực chính là trong quá trình tu luyện xuất hiện một loại công năng làm được việc này, chủng công năng này gọi là “túc mệnh thông”. Ở đây dẫn thêm một vài lời giảng của tác giả cuốn Chuyển Pháp Luân giải thích một chút thế nào gọi là “túc mệnh thông”:
Còn có một loại công năng có quan hệ trực tiếp đến thiên mục, gọi là ‘túc mệnh thông’. Trên thế giới hiện nay có sáu loại công năng đã được công nhận, trong đó có thiên mục, dao thị, và còn có túc mệnh thông. Sao lại gọi là ‘túc mệnh thông’? Ấy là có thể biết được tương lai và quá khứ của cá nhân; lớn nữa thì có thể biết được sự thịnh suy của xã hội; còn lớn hơn nữa thì có thể thấy được những quy luật biến hoá của toàn thiên thể; đó chính là ‘công năng túc mệnh thông’.
Chẳng phải chúng ta giảng vật chất là bất diệt? Trong một không gian đặc định, người ta làm xong một việc gì, [ví dụ] người ta huơ tay làm một việc gì, tất cả đều là tồn tại vật chất; làm việc gì thì cũng lưu lại một hình tượng và tín tức. Tại không gian khác, nó là bất diệt, vĩnh viễn tồn tại ở đó, người có công năng nhìn một cái là thấy được cảnh tượng tồn tại trong quá khứ, nên hiểu biết liền. Tương lai khi chư vị có công năng túc mệnh thông rồi, chư vị nhìn thử về hình thức mà chúng ta hôm nay giảng bài tại đây, [sẽ thấy] nó vẫn còn tồn tại, đã đồng thời tồn tại ở nơi ấy. Khi một cá nhân giáng sinh, trong một không gian đặc thù không có khái niệm thời gian, cuộc đời vị ấy đã đồng thời tồn tại ở đó rồi; có [những người] không chỉ là một đời [đồng thời tồn tại ở đó].
Hình thức công năng túc mệnh thông là ở bộ phận trước trán của con người có một cái như màn huỳnh quang nhỏ của TV. Có người thì [nó] ở bộ phận trước trán; có người thì ở cách trước trán một cự ly rất gần; có người thì ở bên trong trán. Có người nhắm mắt [mới] có thể nhìn thấy; còn trường hợp nó hoạt [động] rất mạnh, thì có người mở mắt [cũng] có thể nhìn thấy. Nhưng người khác nhìn không thấy, nó là thứ ở bên trong phạm vi của trường không gian người ấy. Tức là, chủng công năng này xuất hiện rồi, thì còn một chủng công năng nữa [có tác dụng] như tải thể, [nó] lấy cảnh tượng nhìn thấy ở không gian khác phản ánh vào đây, do vậy có thể nhìn thấy được trong thiên mục này. Nhìn thấy tương lai một cá nhân, nhìn thấy quá khứ một cá nhân, nhìn thấy [một cách] chuẩn xác phi thường. Toán quái dẫu rõ ràng đến đâu, thì những việc nhỏ, chi tiết không suy tính ra được; nhưng vị ấy {người có công năng túc mệnh thông} có thể thấy rõ ràng phi thường, cả niên đại cũng có thể thấy được. Những chi tiết của biến đổi đều có thể thấy, bởi vì điều vị ấy thấy chính là phản ánh chân thực của người hoặc vật ở các không gian khác.” (Bài giảng thứ hai, Chuyển Pháp Luân)
Cuối cùng, xin trích dẫn một câu trong “Luận Ngữ” của cuốn Chuyển Pháp Luân để làm đoạn kết của câu truyện:
Chỉ có “Phật Pháp” mới có thể khai mở những chỗ mê về toàn vũ trụ, thời-không, và [thân] thể người; Nó có thể thực sự phân biệt thiện và ác, tốt và xấu; phá bỏ hết thảy kiến [giải] sai lầm, đưa ra chính kiến.
Dịch từ: http://www.zhengjian.org/2011/01/04/70753.正见十年征稿轮回纪实:两宋四世轮回 .html

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

Nền tảng nghiên cứu hóa học của Trung Quốc cổ đại


Tác giả: Hộc Chương
[ChanhKien.org] Chúng ta đều biết rằng Trung Quốc cổ đại có rất nhiều thành tựu trong lĩnh vực khoa học. Trên thực tế, mỗi triều đại Trung Quốc đều có những nhà khoa học xuất sắc. Tuy nhiên, hòan toàn trái ngược với sự phát triển có hệ thống của thời đại ngày nay, sự phát triển tổng thể của khoa học Trung Quốc cổ đại khá rời rạc. Nhìn chung, lý do hiển nhiên nhất là vì công nghệ thời đó không phải luôn được bảo tồn, khiến cho rất nhiều phát kiến có giá trị của người Trung Quốc bị thất truyền. Con người hiện đại đều biết rằng “khoa học và công nghệ mang lại sự phồn thịnh”, cho nên thật khó mà tin được rằng những công nghệ có giá trị đó lại không được bảo tồn trong thời Trung Quốc cổ đại. Thực ra, vấn đề này có liên quan đến cơ sở lý luận của các học thuyết khoa học và mức độ đạo đức của các khoa học gia Trung Quốc ngày xưa. Tôi sẽ bắt đầu mạn đàm về các bộ môn hóa học khác nhau trong thời Trung Quốc cổ đại, chủ đề đầu tiên là về các học thuyết cổ xưa liên quan đến “chất”.
Nhận thức cơ bản về vật chất trong thời Trung Quốc cổ đại chính là “thuyết Ngũ hành”. Người Trung Quốc thuở ấy phát hiện rằng Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, và Thổ cấu thành nên tất cả các vật chất trong vũ trụ này. Nhận thức này về vật chất thực ra bắt đầu từ khi nào? Không có sử sách nào có thể trả lời được câu hỏi này vì thuyết Ngũ hành dường như đồng thời tồn tại với văn hóa Trung Hoa. Thậm chí có thể nói nó là một trong các nền tảng của văn hóa Trung Hoa trong một thời kỳ lịch sử lâu dài. Theo cuốn Thượng Thư chương “Hồng Phạm”, Ngũ hành chính là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Thượng Thư còn gọi là Thư Kinh, hay Sử Thư. Nó là một trong sáu cuốn cổ thư do Khổng Tử biên soạn và bình chú. Nó là tuyển tập văn hiến chính trị của Trung Quốc từ triều đại Hòang Đế (một vị vua huyền thoại trị vì Trung Quốc nguyên thủy) cách đây khoảng 5000 năm. Nói cách khác, người Trung Quốc đã phát triển nhận thức về Ngũ hành thậm chí còn trước cả sự hình thành chữ Hán. Có cả bằng chứng về kiến thức Ngũ hành trong cuốn Quốc Ngữ, từ triều Châu: “Sự kết hợp của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ cấu thành nên vạn vật trên thế gian.” Những ghi chép này chứng tỏ thuyết Ngũ hành là nền tảng của khoa học Trung Quốc cổ đại, tương tự như học thuyết cho rằng nguyên tử và phân tử là nền tảng của những phát minh khoa học hiện đại về vũ trụ và vật chất.
Thậm chí người Trung Quốc xưa còn có cả những nhận thức về vật chất vi tế hơn cả Ngũ hành: “thuyết Âm Dương”. Khổng Tử giảng rằng:  “Nhất Âm, nhất Dương là Đạo” (chương “Hệ Từ Truyện”, Chuyển Thư Kinh). Ông cũng nói: “Cương, Nhu tương tác thì sẽ tạo nên thay đổi.” Lão Tử nói: “Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật. Vạn vật cõng Âm ôm Dương” (chương 42, Đạo Đức Kinh). Những lời này rõ ràng thuộc phạm trù vật lý cao năng lượng hiện đại. Lão Tử không chỉ bàn về các lạp tử cơ bản vi quan, mà còn giảng về nguyên lý cấu thành nên vật chất. Do đó, vạn sự vạn vật do Ngũ hành tạo nên đều có cả đặc tính Âm và Dương và cả Ngũ hành. Các đặc điểm khác nhau của vật chất được mô tả trong chương “Hồng Phạm” của cuốnSử Thư: “Thủy tương ứng với ẩm và hướng xuống. Hỏa tương ứng với nóng và hướng lên. Mộc tương ứng với uyển chuyển hoặc thẳng thắn. Kim bị biến dạng trong lửa. Thổ cần thiết cho cấy hái. Nước trở nên mặn khi chảy xuống. Hỏa trở nên nóng hơn khi bốc lên trên. Mộc có thể trở nên chua khi thay đổi hình dạng. Kim trở thành cay khi không ổn định. Thổ có thể thành ngọt khi dùng trong cấy hái.” Do các đặc tính tự nhiên ấy, Ngũ hành tương sinh và tương khắc với nhau ở mức hồng quan (vĩ mô). Quy luật tương khắc của Ngũ hành như sau: “Thủy khắc Hỏa. Hỏa khắc Kim. Kim khắc Mộc. Mộc khắc Thổ. Thổ khắc Thủy”. Quy luật tương sinh của Ngũ hành như sau: “Mộc sinh Hỏa. Hỏa sinh Thổ. Thổ sinh Kim. Kim sinh Thủy. Thủy sinh Mộc.” Đó là tóm tắt thuyết tương sinh tương khắc của Ngũ hành. Tri thức khoa học độc đáo trong thời Trung Quốc cổ đại, từ thiên văn học, địa lý học, lịch học, vật lý học, y học, dược học cho tới hóa học, đều xuất phát từ thuyết Ngũ hành và thuyết Âm Dương. Những học thuyết này thậm chí đã có ảnh hưởng tới sự phát triển của âm nhạc, kiến trúc, nghệ thuật, và văn hóa Trung Hoa.
ngu-hanh-tuong-sinh-tuong-khac
Ngũ hành tương sinh và tương khắc
Đứng từ góc độ khoa học hiện đại mà xét, có rất nhiều yếu tố trừu tượng và không thể đo lường trong các học thuyết này, vì vậy chúng rất khó được chấp nhận như là một môn khoa học, bất kể đã có rất nhiều thành tựu được chứng thực trong y dược và châm cứu của Trung Hoa. Điểm mấu chốt của vấn đề là gì? Có lẽ câu hỏi này sẽ làm đau đầu nhiều học giả hiện đại! Có lẽ chúng ta có thể tìm được một số manh mối cho vấn đề này thông qua một đoạn trong Đạo Đức Kinh: “Thiên hạ vạn vật sinh từ hữu hình. Hữu hình sinh từ vô hình” (chương 40). “Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật. Vạn vật cõng âm, ôm dương, trung khí dĩ vi hòa” (Chương 42, Đạo Đức Kinh). “Đạo sinh nhất, nhị, tam còn hữu hình sinh từ vô hình”, sau khi nghiên cứu và suy ngẫm về hai đoạn này, chúng ta có thể thấy rằng các học thuyết hóa học hiện đại rất nhất quán với khoa học Trung Quốc cổ đại. Sau đây là hiểu biết của tôi về các học thuyết của Lão Tử về vật chất theo cách nói của người ngoài nghề: Bất kể vật chất nào đều được cấu thành từ rất nhiều tầng lớp vật chất. Nói cách khác, vật chất được cấu thành bởi các tầng lớp phân tử, mỗi phân tử lại được cấu thành bởi nhiều tổ hợp vật chất vi quan. Từng tổ hợp vật chất vi quan lại do các nguyên tố vật chất vi quan hơn nữa tổ hợp thành. Cứ như thế, mỗi chất hữu hình lại được tổ hợp từ nhiều chất vô hình. Nghĩa là tầng vật chất vi quan cao hơn chính là vô hình so với những tầng vật chất vi quan thấp hơn.
Vậy thì chúng ta hiểu thế nào về thuyết Âm Dương? Lão Tử nói: “Tam sinh vạn vật. Vạn vật cõng âm ôm dương, trung khí dĩ vi hòa.” Với con mắt phàm này, chúng ta nhìn tất cả vật chất trên Trái Đất đều do ba loại vật chất vi tế cấu thành (loại mang điện tích âm, loại mang điện tích dương, và loại có điện tích trung hòa). Thêm vào đó, vạn vật đều có đặc tính “cõng Âm trên lưng bên ngoài và ôm Dương bên trong”. Điều này nghe không giống học thuyết nguyên tử sao? Mọi loại nguyên tử trong bảng tuần hòan các nguyên tố hóa học đều được cấu thành từ proton, neutron, và electron, và đặc tính của một nguyên tử là: electron mang điện tích âm quay quanh hạt nhân nguyên tử mang điện tích dương. Hãy khoan bàn đến vấn đề tại sao người Trung Quốc thời xưa lại có thể quan sát được cấu trúc của nguyên tử. Thực ra, rất dễ giải thích cho độc giả hiện đại về khái niệm của vật chất hữu hình thời Trung Quốc cổ đại, hơn là giải thích khái niệm trừu tượng về vật chất vô hình, như mô tả trong câu sau: “Trung khí dĩ vi hòa”. Đây là chỗ khác nhau cơ bản của khoa học Trung Quốc với khoa học hiện đại. “Trung khí dĩ vi hòa” không phải là hiện tượng hữu hình ở không gian này, vì thế rất khó giải thích. Nói theo cách nói của người ngoài nghề, câu này có nghĩa là: Sự hình thành vật chất (là kết quả của sự tương tác giữa Âm và Dương) có thể sản sinh ra luồng năng lượng hài hòa. “Vi hòa” ở đây có nghĩa là hợp nhất, nghĩa là một vật chất tồn tại dưới dạng năng lượng vô hình. Chẳng hạn, khi giải phẫu thân thể người, các nhà giải phẫu hiện đại đã phát hiện về sự tồn tại của các mô cơ, mạch máu, và xương, v.v… Mặt khác, người Trung Quốc cổ đại không chỉ quan sát được các mô hữu hình làm nên da thịt con người mà còn cả sự phân bố vô hình của các dòng năng lượng. Sự phát hiện ra dòng năng lượng dẫn đến nhận thức về các đường kinh mạch và các huyệt vị trong Trung y truyền thống, mặc dù các kinh mạch và huyệt vị này không thể nhìn thấy trong không gian này của chúng ta. Dựa vào kiến thức về dòng năng lượng vô hình, người Trung Quốc cổ đại đã phát triển các bài tập khí công làm phương pháp chữa bệnh khỏe người. Khí đó ở đâu? Khí đó là gì? Người bình thường không nhìn thấy Khí và không thể mô tả chính xác về Khí, nhưng hiệu quả chữa bệnh của nó đã chứng thực sự tồn tại của Khí. Lấy một ví dụ khác. Gần đây, một nhà nghiên cứu ở Nhật Bản đã chỉ ra rằng khi cho nước tinh khiết tiếp xúc với những lời khen ngợi hay những lời lăng mạ thì sẽ hình thành các hình dạng tinh thể nước khác nhau[*]. Những phản ứng đó của nước là bằng chứng tuyệt vời cho học thuyết vật chất vô hình của Lão Tử: “Trung khí dĩ vi hòa”. Những niệm đầu của con người tưởng như không có tác động gì đến cơ thể, nhưng trên thực tế là có, giống như trong câu nói của người Trung Quốc: “Vận khí trong cơ thể”. Nói cách khác, nó có tác động đến luồng năng lượng vô hình trong cơ thể con người. Các học thuyết của Lão Tử cực kỳ có tính khoa học xét từ góc độ quy luật bảo tồn năng lượng. Ở đây, tôi vừa so sánh giữa nhận thức về vật chất trong khoa học Trung Quốc cổ đại và khoa học hiện đại.
2Ky7kHrt
“Vạn vật cõng Âm và ôm Dương” thể hiện cấu trúc của nguyên tử: eletron mang điện tích âm chuyển động xung quanh hạt nhân nguyên tử. Bên trong hạt nhân có chứa proton mang điện tích dương.
Đó cũng là lý do tại sao nhận thức của người Trung Quốc về vật chất bao gồm cả khía cạnh tâm linh (Khí) và đồng thời cả khía cạnh vật chất, và bao hàm cả khái niệm “mọi vật chất trong vũ trụ này đều có linh”. Chẳng hạn, nước trong thí nghiệm tinh thể nước nói trên có khả năng nhận thức được tình cảm của con người, như thể là nó có linh hồn. Cũng giống như con người, tất cả vật chất một khi được hình thành, đều sẽ “trung khí dĩ vi hòa” để có một linh hồn. Với sự hiểu biết này, người ta sẽ hiểu được tại sao toán học không phải là một công cụ quan trọng để nghiên cứu khoa học Trung Quốc cổ đại. Lý do chủ yếu là toán học có ích cho các nghiên cứu định lượng về vật chất hữu hình, nhưng nó không có tác dụng cho các nghiên cứu về Khí vô hình. Chẳng hạn, một mô hình toán học gần như vô ích trong các thí nghiệm khoa học hiện đại nhằm mô phỏng các biến đổi khác nhau của tâm trạng con người. Đó là lý do tại sao các nhà khoa học Trung Quốc cổ đại thường quan sát và phân tích các biến đổi của các vật chất hữu hình và vô hình trong vũ trụ thông qua các học thuyết Âm Dương và Ngũ hành. Đối với vấn đề bằng cách nào các nhà khoa học Trung Quốc cổ đại lại có thể quan sát các vật chất “Trung khí dĩ vi hòa”, tôi hết lòng khuyến nghị độc giả đọc phần “Vấn đề liên quan đến thiên mục”, thuộc “Bài giảng thứ hai”, sách Chuyển Pháp Luân của Sư phụ Lý Hồng Chí. Nói chung, hầu hết các nhà khoa học xuất sắc thời Trung Quốc cổ đại đều có công năng đặc dị. Họ đã trực tiếp chứng kiến các biến đổi của vật chất trong nhiều không gian. Đồng thời, mức độ đạo đức tâm tính của họ cũng có mối liên hệ mật thiết với công năng đặc dị của họ. Tầng thứ tâm tính của những học giả ở các thế hệ sau này cũng có những tác động đáng kể đến khả năng hiểu biết của họ về công nghệ của các thế hệ trước. Nói một cách khái quát, chân lý của vũ trụ chỉ có thể được tiết lộ cho những người có đạo đức cao thượng. Nếu một nhà khoa học không có tâm tính cao, anh ta sẽ không thể hiểu được công nghệ, đừng nói đến việc anh ta sẽ bảo tồn được nó. Đây là lý do tại sao nhiều công nghệ có giá trị trong thời Trung Quốc cổ đại đã bị thất truyền. Rất nhiều kỹ năng không phải chỉ cố gắng học hỏi mà có được. Nâng cao đạo đức là cũng là một tiêu chuẩn mà các nhà khoa học hiện đại đang phớt lờ đi.
Một khi đã hiểu về những học thuyết về chất của người Trung Quốc cổ đại, người ta chắc chắn sẽ có hứng thú nghiên cứu lại sự phát triển của khoa học trong thời Trung Quốc cổ đại. Biết đâu chúng ta sẽ có thể có được những học thuyết mới về chất.
Dịch từ: http://www.pureinsight.org/node/224

Chú thích:
[*] Xem thêm: http://chanhkien.org/2009/11/the-gioi-khac-trong-mot-giot-nuoc-phan-1-cuoc-phong-van-voi-tien-si-masaru-emoto.html
Tinh thần khoa học chân chính phải viên dung cả những điều huyền bí


Tác giả: Hộc Chương, Đài Loan
[ChanhKien.org] Tôi đã đọc bài chia sẻ kinh nghiệm tu luyện của một đệ tử Đại Pháp, kể về một thanh sắt được gắn trong chân của anh ấy để cố định phần xương đùi bị gãy lại với nhau. Sau khi anh ấy tu luyện, thanh nẹp bằng sắt đã tiêu tán không một dấu vết và xương đã lành lặn hoàn toàn. Sự nhiệm màu của Đại Pháp đã triển hiện trong câu chuyện của anh.
Một lần, tôi tình cờ đọc được một báo cáo của một khoa học gia về lượng Can-xi trong thức ăn cho gà, rõ ràng thức ăn này có chứa ít Can-xi hơn so với lượng Can-xi trong những quả trứng do những con gà mái đẻ ra. Vì tò mò, các nhà khoa học đã phân tích hàm lượng Can-xi trong hạt yến mạch cho gà mái ăn, kết quả nhận được chỉ là yến mạch và không gì khác. Sau khi phân tích trứng và phân của gà mái, các nhà nghiên cứu kết luận rằng tổng lượng Can-xi được tìm thấy trong trứng và phân cao gấp bốn lần hàm lượng Can-xi trong yến mạch dùng làm thức ăn cho gà mái. Vậy lượng Can-xi bổ sung này từ đâu ra? Một cách lý giải phổ biến là Can-xi được tiết ra bởi xương của gà mái. Nhưng các nhà khoa học đều biết rằng nếu đó là sự thật thì cuối cùng cấu trúc xương của gà mái sẽ bị giòn do mất Can-xi trong thời gian dài.
Các thí nghiệm cũng cho thấy rằng nếu gà mái được cho ăn thức ăn không có Can-xi trong bốn hoặc năm ngày, vỏ trứng sẽ trở nên rất mềm. Sau đó gà mái được cho ăn thức ăn có hàm lượng Ka-li cao nhưng không có Can-xi (các nhà khoa học cũng biết rằng yến mạch có một lượng kha khá chất Ka-li). Một lần nữa, những vỏ trứng lại chứa đủ lượng Can-xi cần thiết để trở nên cứng cáp! Các thí nghiệm cho thấy rõ ràng các sinh vật sống có khả năng ‘tái cấu trúc các nguyên tố’. Có lẽ gà mái đã ‘thêm’ nguyên tử Hydro vào các nguyên tử Ka-li để tạo thành các nguyên tử Can-xi. Nhưng kiểu hợp nhất nguyên tử này, còn gọi là “phản ứng nhiệt hạch”, chỉ có thể diễn ra ở nhiệt độ cực kỳ cao trong một vụ nổ hạt nhân, hoặc trong một máy gia tốc hạt vô cùng lớn và đắt đỏ.
73382e5f-8a7f-4280-a313-6bb5859641b8
Nguyên tử Ka-li có 19 electron xoay quanh hạt nhân tạo bởi 19 proton và 20 neutron. Bằng cách nào đó, gà mái đã sáp nhập nguyên tử Hydro (1 electron và 1 proton) vào nguyên tử Ka-li để tạo thành nguyên tử Can-xi (20 electron, 20 proton, 20 neutron).
Thực vật cũng có thể phô diễn kỹ thuật giả kim như vậy. Các nhà khoa học quan sát thấy rằng cây mầm được trồng trong nước cất (nước tinh khiết) tạo ra thành phần chất Ka-li, Phốt-pho, Ma-giê, Can-xi và Lưu huỳnh nhiều hơn so với bản thân nó có sẵn. Thực vật cũng có khả năng tái cấu trúc nguyên tố và điều này không thể giải thích như là một quá trình quang hợp. Do đó, cơ thể của một học viên Pháp Luân Công thể hiện khả năng biến đổi Sắt thành Can-xi cũng không có gì lạ so với việc gà mái có thể chuyển hóa Ka-li thành Can-xi. Nó không phải là phép thuật, hay chuyện hoang đường kiểu như “gió thổi trong chân không”, mà nó vẫn có thể được giải thích bằng lý luận.
Tại sao con người không thể chấp nhận điều này? Quá hiển nhiên, khoa học hiện đại sẽ bài trừ tất cả những hiện tượng không thể giải thích được trong phạm vi lý thuyết của nó. Vậy chẳng phải việc chỉ chấp nhận các lý thuyết cũ chính là một hình thức mê tín – sự mê tín đối với khoa học sao? Tại sao các chủ đề dân dã như con gà đẻ trứng và cây trồng trong nước cất không được dạy thành các môn học trong trường học của chúng ta? Tại sao những người vẫn luôn chấp nhận khoa học hiện đại là đúng đắn, khi phải đối diện với thực tế khách quan như vậy lại không thể đối mặt với tấm lòng khoan dung, cởi mở và phân tích các sự kiện với tinh thần ham học hỏi? Thay vào đó, họ lại tỏ thái độ bài trừ và phủ nhận. Một nhà khoa học chân chính sẽ tự hỏi: “Làm sao mà một con  có thể tự sản xuất Can-xi nhỉ?” và “Liệu một con gà trống có thể làm như vậy không?” Tương tự như thế, các câu hỏi sẽ là: “Tại sao một đệ tử Đại Pháp lại có thể đắc công năng?” và “Liệu có phải bất cứ ai cũng có thể sở hữu năng lực như vậy chăng?” Có thể đặt ra một câu hỏi rộng hơn là: “Làm thế nào  các học viên Pháp Luân Đại Pháp có thể triển hiện được năng lực phi thường như vậy?”, và “Chân lý của cuộc sống là gì?
Chân lý của vũ trụ luôn hiện diện xung quanh chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta thường ưu tiên sử dụng tư tưởng cứng nhắc của mình và thường coi những sự việc được bày ra trước mắt là chân lý, chứ không xem xét và suy nghĩ về các dữ kiện [thâu thập được]. Ngày nay, khi đối mặt với vô số những điều kỳ diệu của cuộc sống do sự tu luyện Pháp Luân Đại Pháp mang đến, tinh thần khoa học đúng đắn sẽ tuân theo những điều sau đây: thay đổi các quan niệm truyền thống, đối mặt với chân lý, và khám phá những con đường khoa học thực sự.
Dịch từ: http://pureinsight.org/node/769

Biên Lợi Nhuận

Profit Margin / Biên Lợi Nhuận

Định nghĩa

Đây là tỉ lệ được tính toán bằng cách lấy tổng thu nhập hoặc lãi ròng chia cho doanh thu. Chỉ số này cho biết mỗi đồng doanh thu thu về tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập. Biên lợi nhuận là một chỉ số rất hữu ích khi tiến hành so sánh các công ty trong cùng một ngành. Công ty nào có biên lợi nhuận cao hơn chứng tỏ công ty đó có lãi hơn và kiểm soát chi phí hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh tranh của nó.

Saga giải thích

Biên lợi nhuận được biểu hiện bằng con số phần trăm(%), ví dụ nếu biên lợi nhuận là 20% tức là một công ty sẽ tạo ra được 0.2 đồng thu nhập trên mỗi đồng doanh thu bán hàng. Chỉ đơn thuần nhìn vào thu nhập của một công ty sẽ không thể nắm hết được toàn bộ thông tin về công ty đó. Thu nhập tăng là dấu hiệu tốt nhưng sự tăng đó không có nghĩa là biên lợi nhuận của công ty đang được cải thiện. Ví dụ nếu một công ty có tốc độ tăng chi phí cao hơn so với doanh thu, biên lợi nhuận của công ty đó sẽ giảm. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp cần kiểm soát tốt các chi phí của mình. Giả định rằng một công ty có thu nhập ròng là 10 triệu USD, doanh thu là 100 triệu USD, biên lợi nhuận là 10%. Nếu trong năm tiếp theo thu nhập ròng tăng lên 15 triệu USD, doanh số tăng lên 200 triệu USD, biên lợi nhuận sẽ chỉ còn 7.5%. Như vậy khi một công ty tăng thu nhập ròng thì đồng thời cũng phải tìm cách làm tăng biên lợi nhuận theo tỉ lệ tương ứng.
Mục tiêu quan trọng nhất của một công ty đó là tạo ra tiền và nắm giữ tiền. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính lỏng và tính hiệu quả bởi các đặc tính này sẽ quyết định khả năng trả cổ tức cho các nhà đầu tư. Chính vì thế nhà đầu tư cần phải phân tích khả năng sinh lợi (profitability) của một công ty dưới nhiều góc độ, bao gồm cả hiệu quả sử dụng các nguồn lực và lượng thu nhập tạo ra từ hoạt động của công ty. Tính toán biên lợi nhuận của một công ty là một cách hữu để có được cái nhìn thấu đáo về công ty.
Lợi nhuận (bottom line) là điều đầu tiên mà rất nhiều nhà đầu tư xem xét để đánh giá khả năng sinh lợi của một công ty. Tuy nhiên không phải lúc nào chỉ số này cũng cho ta một cái nhìn đúng đắn về công ty đó. Biên lợi nhuận, mặt khác, lại có thể đem lại những thông tin cụ thể hơn về hiệu quả hoạt động của công ty. Xem xét ví dụ về hai công ty công ty máy tính hàng đầu trên thế giới là Dell và HP. Năm 2003, công ty Dell có thu nhập ròng là 749 triệu USD, doanh thu bán hàng là 11,5 tỉ USD. Trong khi các số liệu tương ứng của HP là 990 triệu USD và 19,1 tỉ  USD. Nếu chỉ nhìn vào lợi nhuận của hai công ty thì rõ ràng HP đã thu lợi nhiều hơn Dell. Nhưng nếu nhìn vào biên lợi nhuận thì rõ ràng mức của Dell là 6,5% cao hơn của HP là 5%. Sự khác biệt là không lớn nhưng đó lại chính là lý do khiến cho thị trường đánh giá Dell cao hơn HP.

Cuộc diệt chủng mà chính phủ Trung Quốc bắt đầu từ 16 năm trước phải kết thúc

Chia sẻ bài viết này
Các học viên Pháp Luân Công thỉnh nguyện ôn hòa ở Trung Nam Hải (Bắc Kinh) ngày 25 tháng 4 năm 1999 yêu cầu trả tự do cho 45 người bị bắt ở Thiên Tân. Cuộc thỉnh nguyện ôn hòa này sau đó đã bị Tổng bí thư Đảng khi đó là Giang Trạch Dân vu khống thành cuộc bạo động, để từ đó lấy cớ đàn áp tàn bạo những người tu Pháp Luân Công tại Trung Quốc

Thứ bảy ngày 25 tháng 4, những người tập luyện Pháp Luân Công, các nhà hoạt động nhân quyền và các thành viên của xã hội dân sự đã làm lễ tưởng niệm sự kiện bắt đầu của cuộc đàn áp lên những người tập luyện tâm linh Pháp Luân Công (còn gọi là Pháp Luân Đại Pháp) tại Trung Quốc. Đây là nội dung một thông cáo báo chí của Pháp Luân Đại Pháp Học hội gửi cho ban biên tập Epoch Times.
Chính xác vào cùng ngày này 16 năm trước, mười ngàn học viên Pháp Luân Công đã tập trung một cách hòa bình ở Bắc Kinh, yêu cầu lãnh đạo đất nước ngừng quấy rối lên môn tập của họ. Thực tế, mục đích chính của họ là yêu cầu trả tự do cho 45 học viên bị đánh đập và bắt giữ vài ngày trước đó.
Mặc dù có vẻ như cuộc gặp gỡ, được coi là cuộc biểu tình lớn nhất từ sau vụ thảm sát ở quảng trường Thiên An Môn, đã diễn ra ôn hòa, và đám đông đã ra đi yên tĩnh như khi họ đến, thì vào chính mùa hè năm đó, ngày 20 tháng 7 năm 1999, chính quyền Trung Quốc đã phát động một cuộc đàn áp tàn bạo chưa từng thấy chống lại Pháp Luân Công. Cuộc đàn áp này vẫn tiếp tục cho đến ngày hôm nay tại Trung Quốc đại lục.
Pháp Luân Công, bao gồm 5 bài tập động tác nhẹ nhàng trong đó có bài thiền định, được thực hành dựa trên các nguyên lý Chân-Thiện-Nhẫn. Pháp môn này đã trở nên phổ biến nhanh chóng trên khắp Trung Quốc kể từ năm 1992, năm nó được chính thức công bố; còn người sáng lập pháp môn này, Ông Lý Hồng Chí, đã được đề cử nhiều lần cho giải Nobel Hòa bình.
Sự phổ biến của môn thực hành tâm linh này, theo ước tính của Đảng Cộng sản Trung Quốc là từ 70 – 100 triệu người theo tập, đã làm bối rối chế độ vô thần tại Trung Quốc.
Kể từ đó, sự tàn bạo của cuộc đàn áp là không thể tưởng tượng nổi. Hiện tại, các học viên Pháp Luân Công ở Trung Quốc đang bị hành quyết theo lệnh của chính phủ. Họ bị lấy đi nội tạng khi vẫn còn sống để thu lợi nhuận, theo báo cáo từ các tổ chức nhân quyền quốc tế.
Những người tham gia thỉnh nguyện hòa bình này sẽ tổ chức các hoạt động tại hơn 114 quốc gia trên thế giới. Họ có niềm tin vững chắc rằng cuộc đàn áp tàn bạo và có hệ thống này rất sớm sẽ kết thúc và cả thế giới sẽ ăn mừng tự do cho Pháp Luân Công, và cùng với nó, là sự tự do cho tất cả công dân Trung Quốc.
Tại Bucharest (Romania), thỉnh nguyện ôn hòa sẽ diễn ra từ 11h45 đến 13h45 trên hè phố trước Đại sứ quán Trung Quốc ở Đại lộ Bắc Kinh, và ở cổng công viên Borde; sau đó muộn hơn trong cùng ngày, từ 14h30 đến 19h sẽ tổ chức một hoạt động thông tin cho công chúng ở lối vào công viên Herastrau, ở cổng của Khải hoàn môn. Nhân dịp này, các học viên Pháp Luân Công sẽ sẵn sàng trả lời cho công chúng và khuyến khích những người có mặt ký vào một thỉnh nguyện thư yêu cầu dừng cuộc đàn áp vô nhân đạo mà vẫn đang tiếp tục đến ngày hôm nay tại Trung Quốc.
Những người tổ chức các hoạt động truyền bá thông tin ở Bucharest vào ngày 25 tháng 4 cũng chính là các học viên Pháp Luân Công. Họ hy vọng rằng vào ngày này các thành viên của Quốc hội, các phương tiện truyền thông đại chúng và xã hội dân sự có thể tham gia cùng họ để hỗ trợ ủng hộ cho các nỗ lực hòa bình nhằm chấm dứt cuộc đàn áp Pháp Luân Công.
Nếu bạn thấy bài viết hay, hãy chia sẻ nó với bạn bè

Sự chọn lựa

Câu chuyện ngắn: Sự chọn lựa

Chia sẻ bài viết này
1404220505231778
Ðây là một câu chuyện vào đời nhà Minh (Trung Quốc). Có hai anh em, tính tình họ rất khác nhau mặc dầu họ cùng cha mẹ. Người anh thì rất tham lam, lười biếng và luôn luôn càu nhàu từng việc nhỏ. Người em thì siêng năng, bình dân và thương người. Một ngày, họ đẩy xe hàng đi bán. Trời mưa lớn và đường sá rất trơn. Người anh bị trượt và cái xe lôi họ rớt xuống vực thẳm. Họ đến một thế giới khác. Một viên lính gác đang chờ họ bên ngoài toà án, đưa họ đến trước mặt Diêm vương.
Diêm vương nói với họ: “Vì cả hai anh em đều không làm điều gì quá tốt hay quá xấu, nên hai anh em sẽ đầu thai làm người lại. Quan toà! Kiểm tra thử có gia đình nào sắp sinh con hay không”.
Quan toà đang xét xử liền xem xét sách sinh tử một cách cẩn thận và nói: “Thưa Bệ hạ, hai gia đình, họ Zhao và họ Xie, đang chờ sinh đẻ. Con trai của họ Zhao sẽ bố thí và giúp đỡ người khác khi lớn lên, nhưng con trai họ Xie sẽ nhận sự giúp đỡ từ người khác”.
Diêm vương nói: “Nếu đúng như vậy, thì cho hai anh em này đầu thai vào hai gia đình này”.
Sau khi nghe quyết định của Vua, người anh trai nghĩ: Nếu mình sinh vào nhà họ Zhao, mình sẽ phải làm việc nhiều và rồi giúp đỡ người khác. Mình sẽ rất bận rộn chạy ngược chạy xuôi giúp ngươì khác. Nếu mà nhận sự giúp đỡ của người khác thì mình sẽ thoải mái và rảnh rỗi hơn. Sau khi quyết định như thế, người anh qùy xuống trước mặt Diêm vương: “Tâu Bệ hạ, nếu làm việc suốt đời của tôi để giúp người khác thì khó khăn quá. Cầu xin Bệ hạ cho tôi sinh vào nhà họ Xie để tôi có thể nhận lấy sự giúp đỡ từ người khác”. Diêm vương liền nói “Ai sinh vào nhà họ Zhao đây”. Người em trai nói: “Tâu Bệ hạ, hãy cho anh của tôi sinh và nhà họ Xie. Tôi xin tình nguyện sinh vào nhà họ Zhao để giúp đỡ những người khó khăn”.
Hai anh em vì thế sinh vào nhà họ Zhao và Xie. Vì lời hứa là sẽ giúp người nghèo khó, người em trai được sinh vào nhà họ Zhao giàu có và cao quý. Khi cậu ta lớn lên, cậu là người đôn hậu và luôn luôn sẳn sàng giúp người nghèo khó. Vì tiền của của nhà họ Zhao, cậu đã giúp được rất nhiều người khác.
Tuy nhiên, người anh trai, đã ước là nhận sự giúp đỡ từ người khác, sinh vào nhà Xie và cậu ta đã phải xin ăn từ phần còn thừa của người khác và luôn luôn nhận sự giúp đỡ từ thiện, thương hại của người khác.
Tục ngữ có câu “Cho thì giàu hơn là nhận”. Có lòng nhân bản rất hiếm qúy. Những người có lòng nhân, trời sẽ giúp họ.
Nếu bạn thấy bài viết hay, hãy chia sẻ nó với bạn bè